BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN VĂN TRỌNG CHỌN MẪU VÀ THÔNG SỐ ĐIỂN HÌNH TRONG ĐÁNH GIÁ ỔN ĐỊNH ĐỘNG HỆ THỐNG ĐIỆN NGÀNH: KỸ THUẬT ĐIỆN – 60520202 S K C0 0 4 7 1 4 Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10/2015 Luan van BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN VĂN TRỌNG CHỌN MẪU VÀ THÔNG SỐ ĐIỂN HÌNH TRONG ĐÁNH GIÁ ỔN ĐỊNH ĐỘNG HỆ THỐNG ĐIỆN NGÀNH: KỸ THUẬT ĐIỆN - 60520202 Tp.Hồ Chí Minh, tháng 10/2015 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu 1.1 Thực trạng hệ thống điện Hệ thống điện (HTĐ) đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia vì nó là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. HTĐ thƣờng phân chia thành ba phần chính: Phần phát điện bao gồm các nhà máy phát điện nhƣ: nhiệt điện chạy than, nhiệt điện chạy khí, nhà máy thủy điện, nhà máy điện hạt nhân, và một số loại máy phát điện khác. Với phần truyền tải, đây có thể đƣợc coi là hệ thống xƣơng sống của một HTĐ, bao gồm các đƣờng dây siêu cao áp, cao áp và máy biến áp truyền tải.
Phần phân phối, nơi điện áp đƣợc hạ thấp để cung cấp trực tiếp cho các phụ tải. Đây cũng là phần có nhiều nút và có chiều dài lƣới lớn nhất trong HTĐ với nhiều loại phụ tải khác nhau. Để đảm bảo cho HTĐ vận hành ở chế độ bình thƣờng thì HTĐ cần thoả mãn các điều kiện về ổn định, tin cậy, đảm bảo chất lƣợng điện năng và yêu cầu về kinh tế. Tuy nhiên, HTĐ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nƣớc phát triển trên thế giới đang phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức: + Thứ nhất là sự tăng trƣởng quá nhanh của phụ tải, đặc biệt là các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, tỉ lệ tăng trƣởng phụ tải khoảng 15-20% mỗi năm đang đặt ra thách thức lớn cho ngành điện phải đáp ứng kịp thời nhu cầu của phụ tải.
+ Thứ hai là sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên nhƣ than đá, dầu mỏ, khí đốt và nguồn nƣớc làm cho việc phát triển các loại nhà máy phát điện mới ngày càng bị giới hạn. Việt Nam và các nƣớc trên thế giới đều nhận thức rằng chúng ta đang phải đối mặt với sự cạn kiệt năng lƣợng sơ cấp và giá nhiên liệu ngày càng tăng trên bình diện quốc tế. Năng lƣợng thủy điện là nguồn năng lƣợng giá rẻ, kinh tế và an toàn nhất cũng đang dần cạn kiệt vì đã đƣợc phát hiện và khai thác gần hết. Việc ứng dụng công nghệ hạt nhân trong sản xuất điện đã phổ biến ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣng ở nƣớc ta vẫn còn là nguồn năng lƣợng mới lạ do vấn đề về công nghệ, sự lo HVTH: Nguyễn Văn Trọng trang 1 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh ngại về an toàn, nguồn cung cấp nhiên liệu, vốn đầu tƣ lớn và đặc biệt là vấn đề môi trƣờng khi sự cố xảy ra.
+ Thứ ba là sự xuất hiện và sử dụng ngày càng nhiều các nguồn năng lƣợng tái tạo nhƣ nguồn năng lƣợng gió, năng lƣợng mặt trời. các nguồn năng lƣợng phân tán này cũng góp phần giảm thiểu gánh nặng cho ngành điện, đáp ứng một phần nhu cầu phụ tải đang gia tăng, làm giảm tổn thất, tiết kiệm chi phí trong truyền tải và phân phối điện. Cùng với sự xuất hiện của các thiết bị điện tử công suất cả ở phần truyền tải và phân phối điện đã làm thay đổi căn bản khái niệm về HTĐ truyền thống, làm khó khăn hơn trong quản lý, vận hành, giám sát và điều khiển HTĐ. Việc đảm bảo chất lƣợng điện năng, tính liên tục cung cấp điện đang là thách thức lớn đặt ra với ngành điện.
Một số sự cố lớn gần đây ở Việt Nam và trên thế giới đã gây ra những hậu quả to lớn về kinh tế và nguy cơ rã lƣới toàn bộ hệ thống do mất ổn định HTĐ càng trở nên hiện hữu. Trong khi việc đánh giá ổn định động cho những HTĐ phức tạp thực sự là một vấn đề khó khăn, đặc biệt khi xét hệ thống vận hành trong thời gian thực. Do đó, vấn đề nghiên cứu ổn định động HTĐ đang là nhiệm vụ cấp thiết.2 Hƣớng nghiên cứu về ổn định hệ thống điện Đầu thế kỷ 20, nhà bác học ngƣời Mỹ R. Park khởi đầu cho việc nghiên cứu ổn định HTĐ dựa trên cơ sở thiết lập hệ phƣơng trình vi phân quá trình quá độ điện cơ của các máy điện đồng bộ trong hệ tọa độ quay.
Đồng thời với Park, một loạt các công trình đƣợc công bố độc lập của nhà bác học ngƣời Nga A. Goriev trong những năm 1930 – 1935 về mô hình quá trình quá độ trong các máy điện quay đã làm phát triển lý thuyết nghiên cứu ổn định của HTĐ thêm một bƣớc, sau này hệ phƣơng trình đó đƣợc gọi tên là Park – Goriev. Mô hình quá trình quá độ của HTĐ trong hệ tọa độ quay đã làm đơn giản đáng kể hệ phƣơng trình vi phân mô tả trạng thái quá độ của HTĐ. Dựa trên cơ sở đó, các phƣơng pháp toán về ổn định hệ thống đã đƣợc nghiên cứu áp dụng cho HTĐ [5].
Trƣớc tiên, đó là phƣơng pháp dựa trên khái niệm cân bằng năng lƣợng hay HVTH: Nguyễn Văn Trọng trang 2 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh còn gọi là tiêu chuẩn năng lƣợng. Đây là phƣơng pháp khá đơn giản, cho kết quả đúng và áp dụng dễ dàng trong nhiều trƣờng hợp. Tuy nhiên, các phƣơng pháp khác sau đó đã chỉ ra rằng, khái niệm ổn định theo ý nghĩa cân bằng năng lƣợng là không đầy đủ, chỉ phát hiện đƣợc các hiện tƣợng mất ổn định do dao động quán tính. Hơn nữa, phƣơng pháp cân bằng năng lƣợng không có cơ sở chặt chẽ và khó áp dụng đối với HTĐ phức tạp nhƣ ngày nay [5].
Một phƣơng pháp khác đƣợc nhắc đến là phƣơng pháp dao động bé của A. Chính Goriev trong các công trình của mình đã chỉ ra các cách nghiên cứu ổn định HTĐ theo Lyapunov từ HTĐ đơn giản đến phức tạp. Ông đã chứng minh đƣợc rằng sử dụng tiêu chuẩn dấu dƣơng của số hạng tự do phƣơng trình đặc trƣng của hệ phƣơng trình vi phân quá trình quá độ có thể phát hiện đƣợc hầu hết các trƣờng hợp mất ổn định HTĐ, còn gọi là tiêu chuẩn ổn định phi chu kỳ. Dựa trên tiêu chuẩn này những cách tính toán phân tích ổn định cho HTĐ phức tạp dạng chung đã đƣợc xây dựng và vẫn đƣợc áp dụng phổ biến hiện nay trong các chƣơng trình phân tích HTĐ [5].
Phƣơng pháp mô phỏng theo miền thời gian cũng cho kết quả chính xác để đánh giá ổn định quá độ HTĐ nhƣng không cho biết biên ổn định của hệ thống, tốn nhiều thời gian do phải giải hệ phƣơng trình vi phân phi tuyến sau sự cố [9,14], cho nên không phù hợp trong đánh giá trực tuyến. Phƣơng pháp này cũng không cung cấp thông tin mức độ ổn định hoặc không ổn định. Phƣơng pháp số cho câu trả lời chính xác về ổn định quá độ HTĐ, nhƣng gặp khó khăn trong giải phƣơng trình vi phân bậc 2 và mất nhiều thời gian giải [24]. Nhƣ vậy, các phƣơng pháp truyền thống tốn rất nhiều thời gian tính toán, không phù hợp đánh giá ổn định trong thời gian thực, với yêu cầu rất khắc khe về thời gian tính toán, tính nhanh nhƣng phải chính xác đã xuất hiện nhu cầu ứng dụng phƣơng pháp khác hiệu quả hơn.
Kỹ thuật nhận dạng mẫu áp dụng đánh giá ổn định động HTĐ bỏ qua giải tích và thay thế bằng cách học quan hệ mẫu đầu vào và đầu ra, cách tiếp cận theo hƣớng này [14,15] thì bộ phân loại đƣợc huấn luyện off-line và kiểm tra on-line. Một số HVTH: Nguyễn Văn Trọng trang 3 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: PGS.TS Quyền Huy Ánh tác giả chọn tín hiệu đầu vào là các biến đặc trƣng chế độ xác lập tiền sự cố để chuẩn đoán sự cố qua chỉ số thời gian cắt tới hạn (CCT – Critical Clearing Time) [18,19]. Tuy nhiên, việc tìm mối liên hệ giữa các biến đặc trƣng trạng thái xác lập và cấp ổn định vẫn còn là nhiệm vụ khó khăn. Hệ thống nhận dạng mẫu tìm kiếm, lọc những mẫu thông tin đặc trƣng quan trọng làm mẫu dữ liệu đầu vào, việc trích xuất giảm biến đặc trƣng giúp cho hệ thống xử lý dữ liệu một cách nhanh chóng và nâng cao độ chính xác.
Mạng nơ-ron nhân tạo (ANN – Artificial Neural Network) là một trong các phƣơng pháp tiếp cận đánh giá ổn định HTĐ đang thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu do khả năng học hỏi nhanh chóng quan hệ phi tuyến vào/ ra [23,24]. Đã có nhiều ứng dụng MLPNN (Multilayer Perceptron Neural Network) để ƣớc lƣợng biên ổn định quá độ HTĐ. Trong chuẩn đoán ổn định động có thể chia thành hai giai đoạn. Một là chuẩn đoán dựa vào biến đặc trƣng tiền sự cố ở trạng thái xác lập gồm công suất máy phát, công suất đƣờng dây, điện áp bus,.
chuẩn đoán này mang tính dự phòng ngăn chặn tích cực sớm [16,17]. Hai là, chuẩn đoán ổn định động dựa vào biến đặc trƣng sau sự cố nhƣ chỉ số mức độ nghiêm trọng, góc , quỹ đạo điện áp,. trong chuẩn đoán này cho biết trạng thái ổn định sắp tới của HTĐ do sự cố gây ra. Trong đánh giá ổn định động đƣợc chia làm hai loại chính là chuẩn đoán và đánh giá.
Chuẩn đoán ổn định động thƣờng tập trung vào chỉ số CCT của hệ thống đối với sự cố, CCT là thời gian cắt sự cố dài nhất cho phép để hệ thống vẫn giữ ổn định ứng với góc công suất cắt chuẩn [18,23] và ba giai đoạn sự cố mà HTĐ trải qua: trƣớc sự cố, đang sự cố và sau sự cố. Trong đánh giá ổn định động, không cần quan tâm CCT mà cần quan sát quá trình quá độ xảy ra khi gặp sự cố, câu hỏi mấu chốt trong đánh giá ổn định động là sau dao động quá độ kết quả là HTĐ ổn định hay không ổn định [19] và bài toán chuẩn đoán ổn định quá độ thƣờng xem xét quá trình trƣớc sự cố và sau sự cố, chuẩn đoán ổn định qua xác định góc đồng bộ và thời gian từ lúc dao động đầu tiên.