Luận văn thạc sĩ kỹ thuật điện: Đánh giá trạng thái lưới điện sử dụng trí tuệ nhân tạo

Khám phá luận văn thạc sĩ về kỹ thuật điện, đánh giá trạng thái lưới điện bằng trí tuệ nhân tạo, ứng dụng công nghệ tiên tiến trong ngành.

Trường đại học

Đại học Quốc gia TP. HCM

Chuyên ngành

Kỹ thuật điện

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2023

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Bài viết này tập trung vào việc đánh giá trạng thái lưới điện bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ kỹ thuật điện. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định trạng thái vận hành của hệ thống điện, nhằm đảm bảo an toàn và khả năng chống chịu với các sự cố ngẫu nhiên. Các thông số trạng thái như điện áp, góc pha, công suất tác dụng và phản kháng, dòng điện được phân tích để xây dựng mô hình đánh giá chính xác hơn. Việc sử dụng các phương pháp truyền thống như lắp đặt thiết bị đo tại tất cả các nút trong hệ thống gặp nhiều khó khăn về mặt chi phí và độ chính xác. Do đó, nghiên cứu này hướng tới việc áp dụng công nghệ thông tinphân tích dữ liệu để cải thiện hiệu quả đánh giá trạng thái hệ thống điện.

II. Tổng quan về đánh giá trạng thái lưới điện

Đánh giá trạng thái lưới điện (PSSE) là một công cụ quan trọng trong việc giám sát và điều khiển hệ thống điện. Các phương pháp truyền thống như phương pháp bình phương cực tiểu có trọng số (WLS) thường không hiệu quả trong các điều kiện vận hành phức tạp. Nghiên cứu này đề xuất việc áp dụng các phương pháp học máy như MLP, LSTM và CNN để cải thiện độ chính xác và hiệu quả tính toán. Việc sử dụng hệ thống tự độnggiám sát giúp cung cấp dữ liệu thời gian thực cho các nhà vận hành, từ đó đưa ra quyết định kịp thời. Đặc biệt, sự gia tăng của các nguồn năng lượng tái tạo đã làm cho việc đánh giá trạng thái trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

III. Mạng nơ ron nhân tạo và ứng dụng trong đánh giá trạng thái

Mạng nơ ron nhân tạo là một trong những phương pháp học máy tiên tiến được sử dụng để đánh giá trạng thái lưới điện. Các kiến trúc như MLP, LSTM và CNN có khả năng học hỏi từ dữ liệu lớn và cải thiện độ chính xác của các phép đo trạng thái. Việc xây dựng mô hình mạng nơ ron giúp tối ưu hóa quá trình ước lượng các thông số như điện áp và góc pha. Tác giả đã tiến hành thử nghiệm trên các lưới điện IEEE 14, 30 và 57 nút, cho thấy mô hình học máy có thể đạt được kết quả gần với giá trị thực tế khi so sánh với phương pháp truyền thống. Điều này chứng tỏ rằng ứng dụng AI trong kỹ thuật điện đang mở ra nhiều cơ hội mới cho việc cải thiện hiệu suất và độ tin cậy của hệ thống điện.

IV. Kết quả và phân tích

Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình học máy MLP, LSTM và CNN có khả năng dự đoán trạng thái lưới điện với độ chính xác cao. Các chỉ số như RMSE và MAE được sử dụng để đánh giá độ chính xác của các mô hình, cho thấy rằng mạng nơ ron có thể giảm thiểu sai số so với phương pháp truyền thống. Việc so sánh các kết quả giữa các mô hình cũng cho thấy rằng mỗi mô hình có những ưu điểm riêng, tùy thuộc vào loại dữ liệu và cấu trúc lưới điện. Từ đó, nghiên cứu này không chỉ cung cấp một cái nhìn sâu sắc về hiệu suất lưới điện mà còn mở ra hướng đi mới cho việc quản lý và điều hành lưới điện trong tương lai.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng trí tuệ nhân tạo trong đánh giá trạng thái lưới điện mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Tác giả đề xuất tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hơn nữa các mô hình học máy, đồng thời mở rộng ứng dụng của chúng trong các hệ thống điện phức tạp hơn. Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc kết hợp nhiều nguồn dữ liệu khác nhau để tăng cường độ chính xác của việc đánh giá. Sự phát triển của công nghệ thông tinhệ thống tự động sẽ là yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của lưới điện hiện đại.

10/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, với các chính sách khuyến khích năng lượng tái tạo (NLTT) của Chính phủ, nguồn năng lượng tái tạo có sự phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam với những con số ấn tượng. Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, tính đến hết năm 2022, tổng công suất đặt các nguồn NLTT đạt 20.670 MW, chiếm 27% tổng công suất đặt toàn hệ thống (76.620 MW); sản lượng điện từ nguồn năng lượng tái tạo đã đạt 31,508 tỷ kWh, chiếm 12,27% tổng sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống. Cụ thể về điện gió, Việt Nam có 70 dự án điện gió (ĐG) (công suất 3.987 MW) đã vận hành thương mại, sản lượng điện sản xuất năm 2022 đạt 3,34 tỷ kWh, chiếm 1,3% tổng sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống.

Với điện mặt trời (ĐMT), riêng sản lượng điện từ các nguồn ĐMT trong năm 2022 chiếm khoảng 10,8% tổng sản lượng điện sản xuất toàn hệ thống. Tổng công suất lắp đặt điện sinh khối và rác là 321 MW đến tháng 10/2022. Đặc biệt, các dự án ĐMT, điện gió chủ yếu tập trung ở miền Nam và Nam Trung bộ - khu vực có phụ tải chiếm khoảng 50% cả nước. Vì vậy, phát triển NLTT sẽ góp phần giảm thiếu hụt điện tại miền Nam, tăng cường an ninh cung ứng điện và giảm căng thẳng trong vận hành hệ thống điện.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, NLTT cũng gây không ít khó khăn trong việc điều hành hệ thống điện. Có thể thấy, với đặc điểm thay đổi năng lực phát điện (công suất) nhanh, không kiểm soát, điều khiển được, điện mặt trời và điện gió sẽ gây ra dao động đáng kể tới hệ thống điện mỗi khi bức xạ mặt trời, gió biến thiên, hoặc ngừng. Nếu các nguồn điện khác không được đầu tư thêm để thay thế tại các thời điểm đó, hoặc các nguồn điện hiện có không được điều chỉnh tăng (hay giảm) công suất kịp thời để bù - trừ trong khi có ĐG và ĐMT tham gia, hệ thống điện sẽ mất cân bằng nguồn cấp và phụ tải tiêu thụ. Khi đó điện áp và tần số hệ thống điện sẽ trượt ra ngoài chỉ số định mức cho phép và các hệ thống bảo vệ kỹ thuật sẽ tác động, hậu quả nặng nề là có thể rã lưới, mất điện trên diện rộng.

Cùng với đó, chính sách ủng hộ và khuyến khích phát triển các nguồn năng lượng tái tạo như điện mặt trời, điện gió khiến nhiều nguồn năng lượng tái tạo nhỏ lẻ 2 xuất hiện và kết nối vào hệ thống lưới điện phân phối. Những điều này ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái của lưới điện phân phối dẫn đến sự mất ổn định lớn, khó kiểm soát và vận hành cho hệ thống điện phân phối. Mà trạng thái của lưới điện được đặc trưng bởi cường độ điện áp và góc pha tại mỗi nút [1]. Hệ thống lưới điện phân phối hiện nay chưa được quan tâm đúng mức so với hệ thống điện truyền tải và có mật độ khá lớn.

Số lượng nút là nhiều và cần một lượng tài chính rất cao nếu muốn lắp đặt đầy đủ các máy móc để đo thông số tại các nút phụ tải, chưa kể đến, do sự phức tạp và các đặc điểm đặc biệt như mạng hình tia, tải không cân bằng, thiết bị đo hỏng và tỷ lệ X/R thấp, các kỹ thuật áp dụng cho lưới truyền tải không thể được sử dụng trực tiếp trên lưới phân phối [2]. Với mục đích nâng cao độ ổn định và độ tin cậy trong vận hành lưới điện phân phối, bài toán Ước tính trạng thái lưới điện phân phối được ra đời như một giải pháp đáng chú ý cho ngành điện ngày nay. Tuy nhiên bài toán ước tính trạng thái hệ thống điện phụ thuộc nhiều vào khả năng quan sát của hệ thống. Khả năng quan sát là khả năng giải bài toán ước tính trạng thái để đưa ra kết quả chính xác về trạng thái (điện áp, góc pha) [3] và phụ thuộc rất lớn vào số lượng và chất lượng của thiết bị đo đếm trên hệ thống điện.

Đối với hệ thống lưới điện phân phối hiện nay có số lượng thiết bị đo điếm rất ít nên hệ thống không có khả năng quan sát được vì vậy phương pháp WLS sẽ không thể áp dụng được đối với một lưới phân phối rộng lớn [4]. Đã có nhiều thuật toán được nghiên cứu về ước tính trạng thái lưới điện đã được thực hiện cho đến nay như: thuật toán Gaussian Mixture Model (GMM) [5], phương pháp Data-Riven [6] hay các phương pháp trí tuệ nhân tạo như: Tăng cường ước tính trạng thái hệ thống phân phối sử dụng Pruned Physics-Aware Neural Networks [7] được áp dụng. Để giải quyết các vấn đề trên, lưới điện cần được giám sát liên tục để duy trì hoạt động bình thường và đảm bảo an ninh. Cần có các biến trạng thái mô tả hoàn toàn được các tình trạng của lưới và bộ đánh giá cần được sử dụng để đánh giá các biến trạng thái để cung cấp cho Trung tâm Điều độ phương tiện để điều khiển và vận hành một cách tối ưu hệ thống điện.

Do đó đề tài được thực hiện để góp phần vào 3 việc thiết lập đánh giá trạng thái hệ thống điện phục vụ cho các điều độ viên trong việc vận hành an toàn, ổn định và kinh tế. Vấn đề sẽ được nghiên cứu Lưới điện được xây dựng và thiết kế để đáp ứng các biến động và nhu cầu tăng trưởng phụ tải dự kiến có thể trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn do sự bùng nổ nguồn NLTT trong thời gian gần đây. Trạng thái vận hành của hệ thống điện được đặc trưng bằng các thông số trạng thái như: biên độ điện áp, góc pha điện áp, công suất tác dụng nút, công suất phản kháng nút, dòng công suất tác dụng trên đường dây, dòng công suất phản kháng trên đường dây, dòng điện trên đường dây, cấu trúc của hệ thống. Những thông số này không độc lập với nhau mà liên quan với nhau trong qua hệ phương trình trạng thái.

Khi biết được một số thông trạng thái nhất định ta sẽ xác định được các thông số còn lại. Trạng thái lưới điện được xác định thông qua các thiết bị điện tử thông minh (IEDs). Đặc biệt, các thiết bị đo lường thường được đặt giới hạn ở trạm biến áp hoặc được lắp đặt ở số lượng ít ở các nút trong lưới điện phân phối. Đó là thực tế hiện nay trong lưới điện phân phối Việt Nam, và vấn đề kinh tế chính là rào cản lớn nên không thể lắp đặt các thiết bị đo lường trong tất cả vị trí đo vì số lượng điểm đo tăng theo cấp số nhân từ trạm biến áp đến khách hàng tiêu thụ điện.

Xét đến yếu tố kỹ thuật, việc lắp đặt số lượng rất lớn thiết bị bộc lộ rất nhiều hạn chế. Không thể đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được đo cùng lúc do giới hạn băng thông, đường truyền và các vấn đề đồng bộ hóa dữ liệu thông qua các kênh truyền tin. Hơn nữa, độ trễ khác nhau giữa các thiết bị thông minh, như đồng bộ hóa các phép đo của số lượng lớn của thiết bị là quá đắt đỏ. Trung tâm điều khiển phải xử lý lượng dữ liệu khổng lồ, điều này cũng phát sinh chi phí để nâng cấp hạ tầng viễn thông.

Hơn nữa hiện tượng mất dữ liệu vẫn xảy ra do tắt nguồn thiết bị đột xuất, lỗi giao tiếp giữa các thiết bị, lỗi đo lường. Do đó, nghiên cứu đánh giá trạng thái hệ thống điện đã được nghiên cứu phát triển. Mục tiêu của bài toán đánh giá trạng thái hệ thống điện dựa trên cơ sở dữ liệu các thông số về cấu trúc và các thông số trạng thái đo được để ước lượng các thông số trạng thái cơ bản của hệ thống bao gồm: môđun của điện áp Ui, góc pha điện áp θi 4 tại tất cả các nút [8]. Khi có tất cả các thông số cơ bản này ta có thể tính toán được các thông số còn lại, đánh giá sự chuẩn xác của dữ liệu đo, của cấu trúc và đánh giá được trạng thái của hệ thống là an toàn hay không.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Thuật toán phổ biến sử dụng trong bài toán đánh giá trạng thái là bình phương cực tiểu có trọng số (WLS), kết hợp với các tính toán trào lưu công suất để xác định các phần tử không nhìn thấy và loại bỏ các sai số. Phương pháp này được sử dụng dựa trên các giả thiết sai số phép đo trên hệ thống độc lập nhau và tuân theo hàm phân phối chuẩn. Phương pháp bình phương cực tiểu có trọng số có đặc điểm là sử dụng quy luật chiếu dữ liệu xấu dựa trên phần dư có trọng số (weighted residuals) hoặc phần dư được chuẩn hóa (normailized residuals). Theo dòng chảy của cuộc cách mạng 4.0, trí tuệ nhân tạo ngày càng được phổ biến và ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, mặc dù được John McCarthy – nhà khoa học máy tính người Mỹ đề cập lần đầu tiên vào những năm 1950 nhưng đến ngày nay thuật ngữ trí tuệ nhân tạo mới thực sự được biết đến rộng rãi và được các “ông lớn” của làng công nghệ chạy đua phát triển [9].

AI là công nghệ sử dụng đến kỹ thuật số có khả năng thực hiện những nhiệm vụ mà bình thường phải cần tới trí thông minh của con người, được xem là phổ biến nhất. Đặc trưng của công nghệ AI là năng lực “tự học” của máy tính, do đó có thể tự phán đoán, phân tích trước các dữ liệu mới mà không cần sự hỗ trợ của con người, đồng thời có khả năng xử lý dữ liệu với số lượng rất lớn và tốc độ cao. Trí tuệ nhân tạo có khả năng tự thích nghi, tự học và tự phát triển, tự đưa ra các lập luận để giải quyết vấn đề, có thể giao tiếp như người…tất cả là do AI được cài một cơ sở dữ liệu lớn, được lập trình trên cơ sở dữ liệu đó và tái lập trình trên cơ sở dữ liệu mới sinh ra. Trong lĩnh vực hệ thống điện, trí tuệ nhân tạo là một phương pháp có rất nhiều ưu điểm và được sử dụng rộng rãi để giải quyết các bài toán về dự đoán, ước tính, tìm kiếm,.

Nhưng lại có một khuyết điểm là tập dữ liệu huấn luyện là rất lớn. Đối với bài toán đánh giá trạng thái lưới điện sử dụng AI phải cần thu thập rất nhiều dữ liệu từ quá khứ thông qua các thiết bị đo thực tế trên lưới điện (bao gồm giá trị đo điện áp, công suất tại các nút 5 và nhánh, .) trong quá trình vận hành lưới điện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ kỹ thuật điện mang tiêu đề "Đánh giá trạng thái lưới điện sử dụng trí tuệ nhân tạo" của tác giả Trần Khương Cường, dưới sự hướng dẫn của TS. Huỳnh Quang Minh tại Đại học Quốc gia TP. HCM, năm 2023, tập trung vào việc áp dụng trí tuệ nhân tạo để phân tích và đánh giá tình trạng của lưới điện. Bài viết không chỉ cung cấp những phương pháp mới mẻ trong việc theo dõi và cải thiện hiệu suất lưới điện mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển công nghệ trong ngành kỹ thuật điện.

Để tìm hiểu thêm về các ứng dụng và nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo những bài viết sau: Nghiên cứu về việc tích hợp ejector nguồn nhiệt thấp vào máy lạnh để cải thiện hiệu suất điều hòa không khí, Luận văn thạc sĩ về ứng dụng công nghệ phóng điện cục bộ để xác định tình trạng cách điện cáp ngầm 22 kV, và Luận văn thạc sĩ về phát hiện hành vi trộm cắp điện trong hệ thống đo đếm tiên tiến AMI. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các công nghệ và phương pháp hiện đại trong lĩnh vực kỹ thuật điện.