Đặt vấn đề Để đáp ứng được nhu cầu hội nhập hóa cộng với sự phát triển từ nền công nghiệp 4.0 hiện nay, ngành công nghiệp năng lương cũng song song phát triển nhằm đảm bảo cung cấp năng lượng điện cho các nhà máy, khu dân cư với số lượng ngày một gia tăng. Ở Việt Nam, các chính sách khuyến khích từ năm 2015 đến năm 2017 đã tạo nên "cuộc đua nước rút" để tận dụng cơ hội cung cấp năng lượng tái tạo đặc biệt là năng lượng mặt trời. Theo tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) thì tổng sản lượng điện thương phẩm ở Việt Nam có tốc độ gia tăng bình quân trong giai đoạn 2016-2020 của các phương án cơ sở và phương án cao là 10,34% và 11,26% [1]. Trong năm 2016 thì tổng sản lượng điện thương phẩm đạt 159,31 tỷ kWh và tăng 10,9% so với năm 2015.
11 tháng đầu năm 2017, tổng sản lượng điện thương phẩm đạt 159,9 tỷ kWh. Điện thương phẩm năm 2018 đạt 192,93 tỷ kWh vượt 1,25% kế hoạch và tăng 10,47% so với kế hoạch năm 2017. 11 tháng năm 2019, tổng lượng điện thương phẩm ước đạt 193.202,7 triệu kWh, tăng 9,6% so với cùng kỳ. Nhưng số liệu đã nêu lên được tốc độ tăng trưởng trong nhu cầu điện năng ở Việt Nam qua các năm đã tăng lên rất cao.
Truyền tải năng lượng điện thông qua hệ thống truyển tải điện là vấn đề khá lớn cần phải giải quyết của ngành điện hiện nay. Chính vì vấn đề này mà hệ thống điện càng dễ bị sự cố và gây ra mất điện. Lũy kế 10 tháng năm 2019, toàn Tổng công ty điện lực xảy ra 120 vụ sự cố, tăng 39 vụ so với cùng kỳ 2018, trong đó sự cố thoáng qua là 41 vụ, tăng 23 vụ so với cùng kỳ; sự cố kinh doanh là 50 vụ, tăng 12 vụ so với cùng kỳ; sự cố trạm biến áp là 29 vụ, tăng 04 vụ so với cùng kỳ [2]. Những sự nhiễu loạn có ảnh hưởng lớn đến hệ thống thường là các sự cố mất cân bằng giữa công suất phát và công suất sử dụng (có thể là trường hợp sự cố mất máy phát hoặc sự tăng phụ tải đột ngột).
Điều này làm cho sự ổn định của hệ thống không còn nữa nếu không được khắc phục kịp thời có thể dẫn đến trường hợp mất điện diện rộng và rã lưới điện. Việc nghiên cứu tìm ra phương pháp khắc phục và ngăn chặn sự cố nghiệm 1 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. QUYỀN HUY ÁNH trọng trên là rất cần thiết. Cụ thể hơn, đại lượng tần số của hệ thống bị ảnh hưởng do sự chênh lệch giữa công suất phát và công suất tiêu thụ của phụ tải, sự chênh lệch này làm giảm khả năng phát điện của hệ thống.
Ví dụ, trong một hệ thống điện khi một máy phát gặp sự cố và không thể phát điện được nữa thì có nghĩa khả năng phát điện của hệ thống sẽ giảm xuống trong khi đó nhu cầu tiêu thụ của phụ tải vẫn không thay đổi hoặc tăng lên. Khi mà những máy phát khác đã chạy hết công suất và không thể cung cấp thêm được nữa mà lượng công suất phát vẫn thiếu hụt, thì tần số của hệ thống sẽ giảm gây nên mất ổn định hệ thống. Để phục hồi tần số về giá trị cho phép để hệ thống có thể tiếp tục hoạt động thì một chương trình sa thải phụ tải là rất cần thiết. Trước khi thực hiện một chương trình sa thải phụ tải thì các biện pháp điều khiển tần số hệ thống phục hồi về giá trị cho phép được thực hiện, trong đó phải kể đến là điều khiển sơ cấp và điều khiển thứ cấp của các tổ máy phát điện do các thiết bị điều khiển tự động hoặc do trung tâm điều độ thực hiện.
Luận văn đề xuất phương pháp sa thải phụ tải có xét đến đa mục tiêu trong đó điểm nổi bật của luận văn là xác định mức độ ưu tiên liên tục cấp điện nhằm giảm thiểu thiệt hại về kinh tế. Phương pháp đề xuất đảm bảo tần số hệ thống trong phạm vi cho phép khi có sự mất cân bằng công suất máy phát và công suất của phụ tải. Đồng thời kết hợp huy động công suất dự phòng quay của máy phát để lượng công suất cần phải sa thải là tối ưu nhất. Điều khiển sơ cấp và thứ cấp trong hệ thống điện 1.
Điều khiển sơ cấp Điều chỉnh tần số sơ cấp là quá trình điều chỉnh tức thời được thực hiện bởi số lượng lớn các tổ máy có bộ phận điều chỉnh công suất tuabin (bộ điều tốc) theo sự biến đổi của tần số. Tổ máy không có trang bị bộ điều tốc Dao động phi chu kỳ - Tốc độ quay sẽ giảm đến giá trị mới khi công suất cơ bằng công suất điện. 2 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. QUYỀN HUY ÁNH Hình 1.1: Đặc tính phát công suất của tổ máy không có bộ điều tốc.
Tổ máy có trang bị bộ điều tốc Hình 1.2: Đặc tính phát công suất của tổ máy có bộ điều tốc. Dao động tắt dần - Tốc độ quay giảm đến giá trị mới khi công suất cơ bằng công suất điện. Đặc tính điều khiển tần số sơ cấp Đặc tính (1) thể hiện trong hình 1.3 là đặc tính thể hiện máy phát có trang bị bộ điều tốc. Đặc tính Pt là đặc tính tần số của phụ tải.
Trong điều kiện vận hành ổn định, điểm giao giữa đặc tính máy phát 1 và đặc tính tần số của phụ tải Pt là tần số F0. Và đó là tần số của hệ thống trong điều kiện vận hành ổn định, có giá trị 50 Hz hoặc 60 Hz tùy vào từng hệ thống điện. Khi xảy ra tăng tải đột ngột một lượng ΔP ở hình 1.4, đường đặc tính tần số của phụ tải sẽ thay đổi. Điểm giao giữa đặc tính máy phát (1) và đặc tính tần số của phụ tải được xác định tại điểm mới F1.
Lúc này F1 < F0, bộ điều tốc không có tác dụng ngăn cản sự suy giảm tần số, nhưng bộ điều tốc sẽ làm giảm đi sự suy giảm tần số đáng kể khi hệ 3 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. QUYỀN HUY ÁNH thống có sự chênh lệch giữa công suất phát và phụ tải. Đường đặc tính (2) là đặc tính thể hiện máy phát không có trang bị bộ điều tốc. Ở đây, có thể thấy được giao điểm giữa đặc tính (2) với đặc tính tần số của phụ tải là F’1.
Hiệu quả của bộ điều tốc sẽ thấy rõ khi so sánh giữa F1 và F’1. Trường hợp này có thể thấy F’1 < F1.3: Đặc tính thay đổi công suất turbine theo sự thay đổi của tần số.4: So sánh giữa máy có trang bị bộ điều tốc và không trang bị bộ điều tốc Như vậy, bộ điều tốc đã điều chỉnh được tần số khi có sự chênh lệch công suất phát và phụ tải. Và đây được gọi là quá trình điều khiển sơ cấp. Trường hợp lý tưởng, đặc tính điều chỉnh (4) của tổ máy thẳng đứng, tần số sẽ không thay đổi cho đến giới hạn công suất của tổ máy 𝑃𝑛.
4 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. QUYỀN HUY ÁNH Chính đặc điểm trên của quá trình điều chỉnh sơ cấp dẫn đến sự cần thiết can thiệp từ bên ngoài (do thiết bị điều khiển tự động thực hiện hoặc do điều độ viên) - đó là quá trình điều chỉnh thứ cấp.5: Mô tả đặc tính điều chỉnh lý tưởng trong mối quan hệ giữa công suất và tần số. Điều khiển thứ cấp Điều chỉnh tần số thứ cấp là quá trình điều chỉnh tiếp theo của điều chỉnh tần số sơ cấp thực hiện thông qua tác động của hệ thống AGC đối với một số các tổ máy được quy định cụ thể trong hệ thống, hệ thống sa thải phụ tải theo tần số hoặc lệnh điều độ [3].6, đường đặc tính (1) được dịch chuyển song song thành đường đặc tính (3) với độ dốc không thay đổi, quá trình này được gọi là quá trình điều khiển thứ cấp. Lúc này, có thể thấy điểm giao giữa đặc tính (3) và đặc tính tần số của tải nằm trên đường đặc tính (4).
Trường hợp điều chỉnh lý tưởng. 5 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. QUYỀN HUY ÁNH Hình 1.6: Đặc tính điều chỉnh thứ cấp trong mối quan hệ giữa công suất và tần số. Các phương pháp sa thải phụ tải trong hệ thống điện Sa thải phụ tải là việc thực hiện cắt giảm một lượng công suất phụ tải cần thiết để phục hồi tần số hệ thống về giá trị cho phép khi xảy ra sự mất cân bằng công suất phát và công suất tiêu thụ của phụ tải.
Trước khi thực hiện sa thải phụ tải, các điều độ viên sẽ huy động tất cả nguồn công suất dự phòng của máy phát điện để khôi phục tần số hệ thống, nếu tần số hệ thống vẫn chưa về giá trị cho phép thì biện pháp cuối cùng có thể thực hiện là sa thải phụ tải. Một phương pháp sa thải phụ tải phải đảm bảo xác định được những yếu tố sau: Lượng công suất sa thải phụ tải là tối thiếu mà tần số hệ thống vẫn hồi phục về giá trị cho phép, vị trí thực hiện sa thải và thời gian thực hiện sa thải. Lượng công suất sa thải phụ tải phụ thuộc vào lượng công suất phát bị suy giảm trên hệ thống điện khi sự cố xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống. Để đảm bảo tính liên tục cung cấp điện cho khách hàng thì lượng công suất sa thải phải được tính toán và điều chỉnh sao cho tối thiểu mà hệ thống vẫn phục hồi về mức hoạt động cho phép.
Vị trí thực hiện sa thải phụ tải cũng rất quan trọng, nó cũng góp phần làm tối thiểu lượng công suất sa thảo và giảm những ảnh hưởng xấu đến lưới khi có sự cố xảy ra. Vị 6 Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS. QUYỀN HUY ÁNH trí thực hiện sa thải được lựa chọn sao cho hệ thống phục hồi sau sự cố nhanh hơn và lượng tải sa thải cũng ít hơn. Việc xác định những yếu tố trên được thực bằng nhiều phương pháp khác nhau, các phương pháp được trình bày ở hình 1.
Các phương pháp sa thải phụ tải Các phương pháp Các phương pháp Các phương pháp sa thải sa thải phụ tải sa thải phụ tải phụ tải thông minh sử thông thường thích nghi dụng máy tính Các Các Hệ thống phương phương Mạng Điều Tối ưu mạng Thuật pháp sa pháp sa nơ-ron khiển hóa nơ-ron toán di thải phụ thải phụ nhân logic bầy thích truyền tải tải tạo mờ đàn nghi mờ (GA) tần số điện áp (ANN) (FLC) (PSO) (ANFIS) thấp thấp Hình 1.