Chương 1: TỔNG QUAN Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 3: THIẾT BỊ BÙ TĨNH Chương 4: NÂNG CAO ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN 500 kV SỬ DỤNG SVC Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 8 Luan van CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống điện Việt Nam Hệ thống điện Việt Nam từ khi ra đời đến nay đã liên tục được mở rộng và phát triển cả về quy mô lẫn công nghệ. Năm 1954, tổng công suất nguồn điện toàn quốc mới đạt khoảng 100 MW (Chợ Quán 35 MW, Yên Phụ 22 MW, Cửa Cấm 6,3 MW, Vinh 3,5 MW, Thượng Lý 10 MW, Nam Định 8 MW). Lưới truyền tải cao nhất là 30,5 kV.
Đường dây tải điện siêu cao áp 500 kV Bắc - Nam mạch 1 được chính thức đưa vào vận hành ngày 27/05/1994 đã mở ra một bước phát triển mới cho ngành điện Việt Nam. Thời gian đầu đường dây siêu cao áp này đã truyền tải một lượng công suất lớn từ nhà máy Thủy điện Hòa Bình để cung cấp cho miền Nam đảm bảo cung cấp điện an toàn, liên tục, ổn định, phục vụ sản xuất và hiện nay hệ thống truyền tải 500 kV đóng vai trò kết nối và trao đổi công suất giữa các khu vực nhằm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện cho hệ thống. Việc xây dựng và phát triển của hệ thống điện dựa trên các quan điểm như: - Phát triển ngành điện phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm cung cấp đủ điện cho nền kinh tế và đời sống xã hội. - Sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước cho phát triển điện, kết hợp với việc nhập khẩu điện, nhập khẩu nhiên liệu hợp lý, đa dạng hóa các nguồn năng lượng sơ cấp cho sản xuất điện, bảo tồn nhiên liệu và bảo đảm an ninh năng lượng cho tương lai.
- Nâng cao chất lượng điện năng để cung cấp dịch vụ điện với chất lượng ngày càng cao. Thực hiện giá bán điện theo cơ chế thị trường nhằm khuyến khích đầu tư phát triển ngành điện. Khuyến khích tiết kiệm và sử dụng điện có hiệu quả. - Phát triển điện đi đôi với bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái; đảm bảo phát triển bền vững đất nước.
9 Luan van - Từng bước hình thành, phát triển thị trường điện cạnh tranh, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện. - Nhà nước chỉ giữ độc quyền lưới điện truyền tải để đảm bảo an ninh hệ thống năng lượng quốc gia. - Sử dụng hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng sơ cấp của mỗi miền. - Đẩy mạnh công tác điện khí hóa nông thôn, đảm bảo cung cấp đầy đủ, liên tục, an toàn cho nhu cầu điện của tất cả các vùng trong nước [2].
Bên cạnh đó hệ thống điện Việt Nam cũng phải đạt các mục tiêu như: - Sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu phải đáp ứng được các mục tiêu cụ thể sau: Năm 2015: 194-210 TWh Năm 2020: 330-362 TWh Năm 2030: 695-834 TWh - Ưu tiên phát triển nguồn năng lượng tái tạo cho sản xuất điện: tăng tỷ lệ sản xuất nguồn năng lượng này từ 3,5% năm 2010, lên 4,5% tổng điện năng sản xuất vào năm 2020 và 6,0% vào năm 2030. - Giảm hệ số đàn hồi điện/PIB từ bình quân 2,0 hiện nay xuống còn 1,5 vào năm 2015 và còn 1,0 vào năm 2020. - Đẩy nhanh chương trình điện khí hóa nông thôn và miền núi, đảm bảo đến năm 2020 hầu hết số hộ dân nông thôn sẽ có điện. Các định hướng phát triển nguồn điện - Phát triển cân đối công suất nguồn trên từng miền: Bắc, Trung và Nam.
- Đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện trên từng hệ thống điện miền nhằm giảm tổn thất truyền tải. - Chia sẻ công suất nguồn dự trữ và khai thác hiệu quả các nhà máy thủy điện trong các mùa. - Phát triển hợp lý các trung tâm phân phối điện lực của mỗi vùng. 10 Luan van - Phát triển nguồn điện mới đi đôi với đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ các nhà máy đang vận hành; đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; sử dụng công nghệ hiện đại đối với các nhà máy điện mới.
- Đa dạng hóa các hình thức đầu tư phát triển nguồn điện nhằm tăng cường cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh tế. - Ưu tiên phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối như trong Bảng 2. Định hướng phát triển điện của Việt Nam 2. Định hướng phát triển lưới điện - Lưới điện truyền tải được đầu tư đạt tiêu chuẩn độ tin cậy N-1, phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước trong khu vực, bảo đảm kết nối, hòa đồng bộ hệ thống điện Việt Nam với hệ thống điện các nước trong khu vực.
- Chất lượng dịch vụ (điện áp, tần số) phải được đảm bảo ngay cả lúc cao điểm. - Lựa chọn cấp điện áp truyền tải phù hợp với công suất và khoảng cách truyền tải như trong Bảng 2. 11 Luan van Bảng 2. Qui hoạch công suất và chiều dài đường dây - Phát triển lưới điện truyền tải phải đồng bộ với tiến độ đưa vào vận hành các nhà máy điện.
- Phát triển lưới truyền tải (500 kV, 220 kV, 110 kV) nhằm cải thiện độ ổn định và giảm tổn hao trên đường dây. Lưới phân phối trung áp phải được cải tạo phù hợp với điện áp 22 kV. - Sử dụng cột nhiều mạch, nhiều cấp điện áp đi chung trên một hàng cột để giảm diện tích chiếm đất. Ngầm hóa lưới điện tại các đô thị, hạn chế tác động xấu đến cảnh quan, môi trường.
- Hiện đại hóa lưới điện bằng cách tự động hóa lưới điện và sử dụng các thiết bị truyền tải linh hoạt (FACTS) như thiết bị bù tĩnh (SVC), thiết bị bù đồng bộ tĩnh (STATCOM),. Từng bước triển khai áp dụng công nghệ “Lưới điện thông minh - Smart Grid” để khai thác hiệu quả nhất khả năng cung cấp nhằm giảm chi phí trong phát triển lưới điện và nâng cao độ an toàn cung cấp điện. - Hiện tại điện áp cao nhất là 500 kV. Sau năm 2020, có thể xây dựng thêm các đường dây siêu cao áp 750 kV hay 1000 kV và điện một chiều với điện áp rất cao sẽ được nghiên cứu sử dụng.
- Cung cấp điện cho khu vực nông thôn, miền núi và hải đảo sẽ được thực hiện bằng cách mở rộng lưới điện quốc gia hoặc với các nguồn năng lượng tái tạo. Ổn định trong hệ thống điện Ðể tin cậy, hệ thống điện có thể vận hành có các giới hạn truyền tải công suất. Các giới hạn này sẽ ràng buộc việc phát và truyền tải công suất tác dụng và phản kháng trong hệ thống. Các giới hạn này được chia thành 3 dạng: giới hạn nhiệt, giới hạn điện áp và giới hạn ổn định [9].1 Giới hạn điện áp Các thiết bị điện của điện lực và khách hàng được thiết kế để hoạt động ở công suất định mức hoặc điện áp định mức.
Phần lớn, sự lệch áp kéo dài so với mức điện áp định mức có thể gây bất lợi cho đặc tính làm việc của chúng. Nghiêm trọng hơn nữa là có thể phá hủy thiết bị. Dòng điện chạy trong đường dây truyền tải gây ra một sụt áp lớn không mong muốn trên đường dây của hệ thống. Điện áp rơi là nguyên nhân chính gây nên tổn thất công suất phản kháng.
Tổn thất này xảy ra ngay khi có dòng điện chạy trong hệ thống. Nếu công suất phát ra từ các máy phát điện hoặc các nguồn phát khác là không đủ để cung cấp cho nhu cầu của hệ thống, thì điện áp sẽ bị giảm. Hệ thống thường yêu cầu hỗ trợ công suất phản kháng để giúp ngăn chặn vấn đề điện áp giảm thấp [10]. Tổng công suất phản kháng sẵn sàng hỗ trợ thường được xác định theo giới hạn truyền tải công suất.
Hệ thống có thể bị hạn chế đến mức thấp công suất tác dụng truyền tải hơn mong muốn bởi vì hệ thống không đáp ứng yêu cầu dự trữ công suất phản kháng đủ để hỗ trợ điện áp. Giới hạn nhiệt Các giới hạn nhiệt do khả năng chịu nhiệt của các thiết bị hệ thống điện. Ngay khi công suất truyền tải gia tăng, biên độ dòng điện gia tăng, dẫn đến hư hỏng quá nhiệt. Ví dụ, trong các nhà máy điện, việc vận hành liên tục các thiết bị ở mức giới hạn vận hành tối đa sẽ dẫn đến hư hỏng do nhiệt.
Việc hư hỏng này có thể là cuộn dây stator hoặc cuộn dây rotor của máy phát điện. Cả công suất tác dụng và phản kháng đều tác động đến biên độ dòng điện. Ngoài ra trong hệ thống điện, các đường dây truyền tải và thiết bị liên quan cũng phải vận hành có các giới hạn nhiệt. Việc phải thường xuyên vận hành quá tải các đường dây trên không làm cho cấu trúc kim loại của dây dẫn bị phá vỡ, làm giảm khả năng dẫn điện của chúng [1].
Các thiết bị này được hạn chế dòng điện để chúng mang tải một cách an toàn. Ðối với hai thiết bị loại này, quá tải liên tục sẽ làm giảm tuổi thọ của thiết bị do giảm cách điện. Hầu hết các thiết bị có thể được quá tải cho phép. Ðiều quan trọng là quá tải bao nhiêu và quá tải bao lâu.
Giới hạn ổn định Ổn định hệ thống điện là khả năng của hệ thống để duy trì trạng thái vận hành cân bằng trong những điều kiện vận hành bình thường và trở lại trạng thái cân bằng sau khi chịu tác động của các nhiễu loạn. Mất ổn định trong hệ thống điện được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau phụ thuộc vào cấu trúc hệ thống và chế độ vận hành. Thông thường, ổn định là việc duy trì tất cả các máy phát đồng bộ trong hệ thống điện làm việc đồng bộ với nhau [14]. Vậy giới hạn ổn định của hệ thống điện là phần diện tích Stt phải nhỏ hơn phần diện tích hãm tốc Sht.
Phân tích góc ổn định công suất hệ thống điện là nghiên cứu đặc tính động của hệ thống điện. Đặc tính động liên quan đến sự thay đổi giá trị của dòng công suất, điện áp, góc và tần số sau khi hệ thống chịu tác động của những nhiễu loạn lớn hoặc nhỏ. Ổn định góc công suất được chia thành hai dạng: ổn định quá độ và ổn định dao động bé [17]. Đường cong công suất góc 2.
Ổn định quá độ Ổn định quá độ được định nghĩa là khả năng của hệ thống để duy trì sự đồng bộ khi chịu tác động của các nhiễu loạn lớn.