Chương 1: Tổng quan Chương 2: Tổng quan tự động hóa trạm biến áp Chương 3: Các mô hình đối tượng theo tiêu chuẩn truyền thông IEC 61850 Chương 4: Những giao thức truyền thông theo tiêu chuẩn HVTH: MAI VĂN LÊ -2- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGÔ CAO CƯỜNG Chương 5: Phân tích cấu hình ngôn ngữ và mô tả cấu trúc trạm theo tiêu chuẩn IEC 61850 Chương 6: Hệ thống tích hợp bảo vệ và điều khiển trạm biến áp 220/110/22kV Thuận An Chương 7: Kết luận và hướng phát triển đề tài 1. Ý nghĩa đề tài Đề tài là một tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến tự động hóa trạm biến áp, cụ thể là xây dựng trạm biến áp tự động hóa tích hợp theo tiêu chuẩn quốc tế IEC 61850. Trong đề tài mô tả chi tiết cấu trúc của một trạm biến áp tự động hóa, các mô hình đối tượng, các giao thức truyền thông và ngôn ngữ cấu hình trạm.
Đề tài cũng giúp cho kỹ sư, người vận hành tìm hiểu công nghệ, chuẩn thiết kế và điều khiển trạm tự động hóa hiện đại. Đề tài phần nào giúp kỹ sư thiết kế và xây dựng trạm tự động hóa, giúp cho người vận hành cái nhìn tổng quát về một trạm biến áp tự động hóa theo tiêu chuẩn IEC 61850, qui trình làm việc cụ thể của một trạm tích hợp góp phần nâng cao khả năng vận hành trạm nhằm khắc phục những sự cố. Nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, chất lượng điện năng, cũng như an ninh năng lượng của quốc gia. HVTH: MAI VĂN LÊ -3- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.
NGÔ CAO CƯỜNG CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TỰ ĐỘNG HÓA TRẠM BIẾN ÁP 2. Giới thiệu tự động hóa trạm biến áp. Tự động hóa trạm biến áp là việc sử dụng dữ liệu của các thiết bị điện tử thông minh IEDs (Intelligent Electronic Devices) trong trạm biến áp và các lệnh điều khiển từ xa để điều khiển các thiết bị của hệ thống điện trong trạm biến áp. Tự động hóa hệ thống trạm biến áp là tự động trong điều khiển trạm thông qua các thiết bị với chức năng bảo vệ, đo lường và điều khiển.
Tích hợp hệ thống điện liên quan đến việc giao tiếp dữ liệu hoặc giữa những thiết bị điện tử thông minh trong hệ thống đo lường - điều khiển và người sử dụng từ xa. Sự tích hợp trong trạm biến áp là quá trình kết hợp các dữ liệu như đo lường và điều khiển tại chỗ của những thiết bị điện tử thông minh với một trạm biến áp để có một nhiệm vụ chung là kết nối và truyền thông tin liên lạc trong trạm biến áp. Hệ thống điều khiển tích hợp tự động hóa trạm biến áp (Integrated Substation Automation Control System) là hệ thống tự động dựa trên cơ sở một hệ thống máy tính được áp dụng tại các trạm biến áp trong hệ thống điện nhằm điều khiển, giám sát tự động các thiết bị trong trạm và tích hợp các dữ liệu thu được vào chung một hệ thống để phục vụ cho công tác quản lý vận hành trạm. Dữ liệu thu thập bao gồm thông tin liên lạc, thông tin từ rơle bảo vệ, điều khiển, thiết bị bảo vệ quá dòng, quá áp, đo lường, báo sự cố, điều khiển tự động hệ thống phân phối, những thông tin này được đưa vào một hệ thống lưu trữ dữ liệu, sau đó được xử lý, điều khiển thống nhất trong trạm.
Sự tích hợp trạm dựa trên một khuôn khổ chung nhằm tạo điều kiện cho việc phối hợp hoạt động giữa các thiết bị điện tử thông minh IEDs, thiết bị điện đang có và dự kiến lắp trong tương lai từ đó tạo ra tính đồng nhất cao, tạo sự thuận lợi cho việc thiết kế, lắp đặt hay sự qui hoạch thiết kế trong tương lai. Từ quá trình tích hợp HVTH: MAI VĂN LÊ -4- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGÔ CAO CƯỜNG trong trạm đã nâng cao được hiệu quả và tính tiết kiệm trong việc điều khiển cũng như giám sát hệ thống trong các trạm biến áp. Cấu trúc cơ bản của hệ thống tự động hóa trạm biến áp.
Cấu trúc cơ bản của hệ thống tự động hóa trạm biến áp bao gồm: Hệ thống các máy tính, khối xử lý chính, các rơle bảo vệ. Các thiết bị trong trạm được chia thành ba tầng chính: Tầng điều Hệ thống các khiển máy tính Tầng bảo vệ rơ Khối xử lý le, đo lường, chính điều khiển Các rơ le Tầng thiết bị bảo vệ nhất thứ CT, VT, máy cắt Hình 2.1: Các thành phần chính của trạm biến áp tự động hóa 2. Quá trình phát triển của hệ thống điều khiển tích hợp. Hệ thống điều khiển truyền thống.
Các trạm biến áp được xây dựng bao gồm các thiết bị nhất thứ như: máy biến áp, máy cắt (LBS), dao cách ly, dao tiếp đất làm nhiệm vụ truyền tải và phân phối điện năng trong hệ thống điện. Đi kèm với các thiết bị nhất thứ là hệ thống nhị thứ được lắp đặt nhằm giám sát và điều khiển các thiết bị nhất thứ. Hệ thống điều khiển kiểu truyền thống đã được thiết kế và lắp đặt trong trạm biến áp từ hàng trăm năm nay, đặc điểm cơ bản là hệ thống bao gồm các thiết bị cơ điện và điện tử được kết nối với nhau bằng mạch điện để thực hiện các chức năng riêng biệt như: HVTH: MAI VĂN LÊ -5- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGÔ CAO CƯỜNG - Chức năng bảo vệ hệ thống điện được thực hiện bởi các rơle bảo vệ kiểu cơ điện và kiểu tĩnh nối đến các CT (Current Transfer) và VT (Voltage Transfer) bảo vệ, mỗi rơle chỉ đảm nhận một chức năng bảo vệ riêng biệt.
Ví dụ: rơle bảo vệ quá dòng 50/51, rơle bảo vệ khoảng cách 21,. - Chức năng đo lường và đo đếm điện năng được thực hiện bởi các đồng hồ và công tơ nối đến các CT và VT đo lường. - Chức năng giám sát trạng thái được thực hiện bằng các đèn báo, thiết bị chỉ thị,. - Chức năng điều khiển được thực hiện bởi các mạch điều khiển riêng lẽ và chỉ có thể thực hiện được ở mức điều khiển cơ bản.
- Giao diện người sử dụng thực hiện bằng các bảng điều khiển thông qua các công tắc điều khiển.2: Cấu trúc hệ thống điều khiển kiểu truyền thống Các thiết bị trong hệ thống được lắp đặt trong các tủ điện và kết nối với nhau bằng cáp nhị thứ (cáp nhiều sợi) đi trong các rãnh cáp. Hệ thống điều khiển truyền thống mặc dù có những ưu điểm như: người vận hành (công nhân) có khả năng vận hành và bảo trì hệ thống, độ tin cậy của hệ thống đã được chứng minh trong hàng trăm năm qua, việc kết nối giữa các thiết bị trong HVTH: MAI VĂN LÊ -6- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS. NGÔ CAO CƯỜNG cùng một hệ thống rất đơn giản,….Tuy nhiên, hiện nay chúng đã có những dấu hiệu về nhược điểm như: - Hệ thống phức tạp do có quá nhiều thiết bị, quá nhiều dây truyền tín hiệu, dẫn đến khả năng bị sự cố trên hệ thống nhị thứ rất cao. - Khả năng tự động hóa thấp, các chức năng điều khiển nâng cao vẫn phải thực hiện bởi con người.
- Việc thu thập dữ liệu phải thực hiện bằng tay, độ chính xác không cao, khả năng phân tích và xử lý dữ liệu bị hạn chế. - Việc quản lý rất khó khăn do thiếu các dữ liệu chính xác được cập nhật kịp thời. - Việc bảo trì và nâng cấp hệ thống rất khó khăn. - Thời gian thao tác chậm, khả năng nhằm lẫn cao do thao tác bằng tay, dẫn đến thời gian mất điện kéo dài.
Trong tình hình hiện nay, trước nhu cầu phải gia tăng chất lượng cung cấp điện, giảm thiểu thời gian gián đoạn cung cấp điện, đồng thời do độ phức tạp của sơ đồ lưới điện ngày một gia tăng đòi hỏi các thao tác điều khiển ngày càng phức tạp, khả năng đáp ứng các yêu cầu trên của hệ thống điều khiển kiểu truyền thống là không thể thực hiện được. Hệ thống điều khiển kiểu tích hợp. Vào đầu những năm 1990, các trạm biến áp bắt đầu sử dụng các rơle số thay thế các rơle cơ điện và rơle tĩnh, các rơle số này dựa trên nền bộ xử lý bắt đầu có những chức năng vượt trội so với các rơle thế hệ trước đây, tuy nhiên việc tự động hóa và tích hợp còn nhiều hạn chế vì những nguyên nhân sau: - Khả năng của thiết bị số còn nhiều hạn chế do giới hạn về tốc độ và sức mạnh của bộ xử lý và bộ nhớ. - Khả năng truyền dữ liệu bị hạn chế do chưa có một chuẩn thống nhất trong giao thức truyền dữ liệu giữa các rơle do các hãng khác nhau chế tạo, điều này làm cho không thể kết nối giữa các rơle khác nhau trong cùng một trạm biến áp, nếu chúng do các hãng khác nhau chế tạo, và giữa các trạm biến áp với nhau trong một HVTH: MAI VĂN LÊ -7- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.
NGÔ CAO CƯỜNG hệ thống điện. Thậm chí việc kết nối giữa các thế hệ rơle khác nhau do cùng một nhà sản xuất cũng không thể thực hiện được, hoặc chỉ thực hiện được với một phí tổn không tương xứng. Việc tích hợp dữ liệu thu được từ các thiết bị số trong trạm biến áp là không thực hiện được. Các trạm biến áp nếu được tự động hóa thì cũng trở thành một “ốc đảo” tự động hóa, do không có khả năng liên kết về thông tin với nhau, chúng chỉ có khả năng vận hành độc lập.
Tất cả những hạn chế trên đã được khắc phục khi xuất hiện các IEDs và chuẩn IEC 61850 Hình 2.3: Cấu hình truyền thông cơ bản hệ thống trạm tích hợp với giao thức IEC 61850 2. Tổng quan về hệ thống trạm tích hợp. Thành phần của hệ thống trạm tích hợp bao gồm ba cấp: - Cấp chấp hành – Process Level. Bao gồm các thiết bị nhất thứ (Primary equipment) như: máy cắt, dao cách ly, bộ OLTC) thiết bị thu thập dữ liệu như CT, VT, cảm biến lắp đặt trên các thiết bị nhất thứ, ….
Các thiết bị chấp hành được điều khiển tại chổ bằng tủ truyền động điện lắp ngay thiết bị. - Cấp xuất tuyến – Bay Level. Cấp xuất tuyến bao gồm các IEDs được lắp đặt tại các tủ điều khiển ngoài trời hay trong phòng gần các thiết bị chấp hành mà nó điều khiển. Các IEDs được kết HVTH: MAI VĂN LÊ -8- Luan van LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: TS.