Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và nội dung của đề tài có 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan về tự động hóa lƣới điện phân phối và cơ sở lý thuyết về chỉ tiêu độ tin cậy hệ thống điện Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống lƣới điện trung thế thành phố Hà Nội và tự động hóa lƣới điện hiện nay Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nâng cao tự động hóa lƣới điện trung thế Thành phố Hà Nội và đánh giá hiệu quả đầu tƣ dự án 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỰ ĐỘNG HÓA LƢỚI ĐIỆN TRUNG THẾ VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỈ TIÊU ĐỘ TIN CẬY CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN Hệ thống tự động phân phối điện (DAS) với những tính năng hữu ích nhƣ nhanh chóng phát hiện, cô lập sự cố và khôi phục cung cấp điện nhằm giảm thiểu tối đa ảnh hƣởng của sự cố; cung cấp công cụ giám sát thời gian thực và điều khiển từ xa… là một thành phần quan trọng trong mô hình lƣới điện thông minh mà các công ty điện lực đang xây dựng. Chƣơng 1 sẽ giới thiệu mô hình, nguyên lý làm việc và một số thiết bị tự động hóa điển hình đang đƣợc ứng dụng hiện nay vào hệ thống tự động hóa lƣới điện trung thế. Mô hình và nguyên lý làm việc của hệ thống tự động phân phối điện Lƣới điện trung thế của Mỹ, Canada và các nƣớc khác trên thế giới (Brazil, Mexico, Australia, Nam Phi, Hàn Quốc, Nhật Bản…) có những khác biệt quan trọng khi so sánh với lƣới điện trung thế của châu Âu. Tuy vậy, vẫn có một số nƣớc châu Âu có lƣới điện trung thế theo kiểu Mỹ (Estonia, Latvia).
Lƣới điện trung thế trên không kiểu Mỹ bao gồm những trạm trung thế với các thiết bị ngoài trời và đƣờng dây trung thế dài (có những trƣờng hợp đƣờng dây này có thể dài hơn 150 dặm). Hậu quả là tổn thất trên đƣờng dây và sụt áp trở thành những vấn đề quan trọng. Số lƣợng khách hàng đƣợc cung cấp điện đối với đƣờng dây này là rất cao. Chính điều này dẫn đến việc khách hàng bị ảnh hƣởng trong trƣờng hợp đƣờng dây bị mất điện cũng rất lớn.
Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc giảm doanh thu cho các công ty điện lực và giảm sự hài lòng của khách hàng. Để giải quyết những vấn đề trên thì các đƣờng dây trung thế này đƣợc phân đoạn bởi các Reclosers và thiết bị phân đoạn. Một số các thiết bị khác nhƣ bộ điều chỉnh điện áp, bù công suất phản kháng, chỉ thị sự cố… đƣợc sử dụng cho việc tối ƣu hóa vận hành và nhận diện cũng nhƣ xác định vị trí sự cố. Trong một thời gian dài, các thiết bị trung thế đƣợc đề cập ở trên đƣợc vận hành tại chỗ.
Tuy nhiên, ngày nay với sự ra đời của các thiết bị điện tử thông minh (IEDs) và hạ tầng truyền tin, hệ thống tự động hóa lƣới phân phối (DAS) đƣợc sử dụng cho việc phát hiện nhanh sự cố, cô lập, tái cấu trúc lƣới điện đã trở thành một thành phần chính của Lƣới điện thông minh (Smart Grid). Với sự thành công của hệ thống tự động hóa lƣới trung thế, các công ty điện lực có thêm cơ hội để thiết lập nên mô hình kinh doanh mới để tăng sự 4 thỏa mãn của khách hàng, ví dụ nhƣ nâng cao mức độ sẵn sàng và độ tin cậy cung cấp điện trong thời đại công nghiệp. Nói một cách khác, cấu trúc lƣới điện trung thế với đƣờng dây trung thế dài có thể còn gây nên những vấn đề nghiêm trọng khác, thậm chí ngay cả khi điện vẫn sẵn sàng. Vào mùa hè, khi mà tất cả các khách hàng bật điều hòa, tải của đƣờng dây trung thế tăng cao, dẫn đến quá nhiệt do quá tải một số thiết bị.
Đây là nguyên nhân quan trọng gây nên các vấn đề về ổn định điện áp và chất lƣợng điện năng. Việc tích hợp điện kế điện tử có khả năng cắt tải là một giải pháp quan trọng để dịch chuyển tải đỉnh. Hệ thống điện trung thế của châu Âu dựa trên một quan điểm khác khi so sánh với lƣới điện trung thế kiểu Mỹ. Xƣơng sống của cấu trúc này là hệ thống mạng lƣới các trạm 110kV bao phủ hầu hết các khu vực cung cấp tải, cùng với nó là một số lƣợng rất lớn các trạm điện trung thế.
Kết quả là các đƣờng dây trung thế ngắn lại (khoảng từ 5 đến 20 km) và số lƣợng khách hàng đƣợc cung cấp điện từ một tuyến dây trung thế là thấp (dƣới 1.000 khách hàng). Thêm vào đó, việc liên kết tải đƣợc thực hiện cùng với công tác quy hoạch tốt, đo đếm, điều này dẫn đến việc mức độ cân bằng tải rất cao cho các trạm biến áp trung thế. Ở châu Âu, các trạm trung thế đƣợc tích hợp và tự động hóa sử dụng các bộ vi xử lý trên nền tảng hệ thống rơle bảo vệ, điều khiển ngăn lộ, RTU… cho phép điều khiển từ xa và giảm thời gian mất điện. Tuy nhiên, đối với các xuất tuyến trung thế ngắn thì không đƣợc phân đoạn và các trạm hạ thế đƣợc vận hành bằng tay.
Cũng vì lý do cấu trúc hiện hữu hiện đại của châu Âu trong thời điểm hiện tại nên các công ty điện lực không khuyến khích sử dụng hệ thống tự động hóa lƣới phân phối (DAS). Trong trƣờng hợp mất điện của tuyến dây trung thế thì số lƣợng khách hàng bị ảnh hƣởng thấp cũng nhƣ ảnh hƣởng đến doanh thu của công ty điện lực cũng không nhiều. Tuy nhiên, việc gia tăng tích hợp các nguồn năng lƣợng phân tán, ví dụ nhƣ hệ thống pin năng lƣợng mặt trời ở cấp hạ áp, các máy phát điện gió ở cấp trung áp gây nên các vấn đề về chất lƣợng điện áp. Với việc tích hợp các “máy phát” này thì hệ thống trung thế không còn là hệ thống hình tia, và không còn dễ dàng để có thể bảo vệ bởi hệ thống rơle quá dòng vô hƣớng.
Trong tƣơng lai thì việc áp dụng hệ thống rơle so lệch sẽ đƣợc thực hiện để đáp ứng đƣợc các yêu cầu khi tích hợp các nguồn năng lƣợng phân tán. 5 Đối với hệ thống tự động hóa lƣới trung thế, việc giám sát và điều khiển từ xa các trạm trung thế thứ cấp là vấn đề chủ chốt. Chính vì thế, việc trao đổi thông tin giữa các thành phần và hệ thống DMS dựa trên các giao thức phổ biến và đƣợc bảo mật. Quan điểm của truyền tin là phải linh động bởi các công nghệ và môi trƣờng tuyền tin khác nhau để phù hợp với các điều kiện địa lý và hạ tầng.
Xét về khía cạnh lịch sử, hệ thống tự động lƣới trung thế lần đầu tiên đƣợc phát triển bởi Nhật Bản vào thập niên 70, 80 của thế kỷ 20. Sau khi hệ thống DAS đầu tiên đƣợc áp dụng thành công thì hầu hết các công ty điện lực của Nhật Bản nhân rộng và phát triển gần từ hơn 20 năm trở lại đây. Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc cũng giới thiệu mô hình dựa trên kỹ thuật trên của Nhật Bản. Theo kinh nghiệm của Nhật Bản, dự án lắp đặt hệ thống tự động hóa lƣới phân phối đƣợc phát triển qua 3 giai đoạn nhƣ sau: - Giai đoạn 1 Lắp đặt các cầu dao tự động và các rơle phát hiện sự cố cho các đƣờng dây trung thế.
Lắp đặt các thiết bị chỉ thị phần bị sự cố ở các trạm 110kV. Trong giai đoạn 1, vùng bị sự cố đƣợc tự động cách ly bằng các thiết bị trên đƣờng dây trung thế, không có các thiết bị giám sát quản lý tại trung tâm điều độ. - Giai đoạn 2 Lắp bổ sung các thiết bị đầu cuối và đƣờng dây thông tin để tiếp nhận thông tin tại các vị trí lắp cầu dao tự động ở các đƣờng dây trung thế. Tại trung tâm điều độ lắp các bộ điều khiển từ xa, và hệ thống máy tính để hiển thị lƣới trung thế dƣới dạng đơn giản.
Dựa trên các thông tin thu đƣợc từ xa, nhân viên vận hành tại trung tâm điều độ sẽ điều khiển đóng cắt các cầu dao tự động để cách ly phần bị sự cố trên máy tính. - Giai đoạn 3 Giai đoạn 3 là giai đoạn nâng cấp các chức năng của Giai đoạn 2. Tại trung tâm điều độ lắp đặt các máy tính có cấu hình mạnh để quản lý vận hành lƣới trung thế hiển thị theo bản đồ địa lý và điều chỉnh tính toán tự động thao tác. Các giai đoạn này và mối quan hệ giữa chúng đƣợc thể hiện trên hình 1-1.
6 Lƣợc đồ mô hình hệ thống trung thế sử dụng dây trên không.1: Hệ thống tự động phân phối [6], [8] Chú thích trong hình vẽ: CPU Bộ xử lý trung tâm LP Máy in kết dây HC Sao lƣu ổ cứng G-CRT CRT đồ họa FCB Máy cắt đƣờng dây SW Cầu dao FDR Rơ-le phát hiện sự cố SPS Cầu dao nguồn cấp RTU Thiết bị đầu cuối TCM Máy chủ điều khiển từ xa CD Bàn điều khiển CRT Màn hình điện tử 1. Các phƣơng pháp và các thiết bị tự động phân phối 1. So sánh các phương pháp tự động phân phối đường dây nổi trên không 7 Việc so sánh hệ thống tự đóng lại và DAS cho tự động phân phối hệ thống trên đây không đƣợc mô tả trong bảng 1-1. Cấu hình hệ thống đƣợc nêu trong bảng, và vì phƣơng pháp tự đóng lại này chỉ có thể áp dụng cho hệ thống hình tia nên nó chủ yếu áp dụng cho các hệ thống trung thế ở nông thôn tại Mỹ và châu Âu.
Trong khi đó ở Mỹ tại các khu vực tải cao đông dân nhƣ New York, hệ thống mạng phân bổ (SNW) hoặc mạng thông thƣờng (RNW) đƣợc chấp nhận. Tại Nhật cũng vậy, phƣơng pháp tự đóng lại đƣợc áp dụng khoảng 30 năm trƣớc, nhƣng đến nay đã đƣợc thay thế bằng DAS. Sự khác biệt cơ bản trong ứng dụng giữa hệ thống tự đóng lại DAS là trong hệ thống tự đóng lại do có giới hạn đối với chỉnh định rơ-le nên rất khó chỉnh định phối hợp bảo vệ quá dòng khi số lƣợng các thiết bị đóng lại tăng lên (Điều này có thể khắc phục khi tăng cao độ nhạy của các rơ le đi kèm recloser). Hơn nữa, thời gian chỉnh định trở nên dài đối với hệ thống tự đóng lại.
Do đó, các dòng sự cố chạy trên đƣờng dây trung thế và các thiết bị. Khi sự cố xảy ra ở phía phụ tải, việc mất điện sẽ kéo dài cho đến khi sự cố đƣợc loại trừ.