CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN 1.1 Tổng quan về nanocomposite 1.11 Giới thiệu vật iéu nanocomposite Khái niệm công nghệ nano lần đầu được nhắc đến vào năm 1959, do nhà vật lý người Mỹ Richard Feynman đề cập đến khả năng chế tạo một vật liệu ở kích thước siêu nhỏ từ quá trình tập hợp các nguyên tử hay phân tử. Trong những năm 1980, sự ra đời của các thiết bị phân tích như kính hiển vi đầu dò quét, kính hiển vi điện tử (SEM hay TEM) với khả năng quan sát kích thước vài nguyên tử hay phân tử, nhờ đó có thể quan sát, nghiên cứu và tìm hiệu rõ hơn về câu trúc của của vật liệu trong lĩnh vực nano. Vật liệu nanocomposite là vật liệu răn đa chiều gồm một hoặc hai hay ba chiều có kích thước nhỏ hơn 100 nanomet (nm) hoặc các cấu trúc lập lại quy mô nano giữa các chiều khác nhau tạo nên vật liệu. Các đặc tính cơ, điện, nhiệt, quang hóa, xúc tác, điện hóa của vật liệu nanocomposite phụ thuộc vào thành phan của vật liệu với kích thước khác nhau sẽ có hiệu ứng khác nhau.
Mỗi nanocomposite phải có hai giá trị tới hạn, giới hạn trên và giới hạn dưới, từ kích thước của cấu trúc có thể phân biệt được thuộc tính nanocomposite. Các giá trị tới hạn phụ thuộc vào thuộc tính dự kiến cho nanocomposite [38]: - Hoạt động xúc tác kích thước nhỏ hơn 5 nm - Để tạo ra vật liệu từ kích thước nhỏ hơn 20 nm - Dé thay déi chỉ số khúc xạ kích thước nhỏ hơn 50 nm -_ Để tăng cường cơ học hoặc hạn chế chuyên động trong khung mạng kích thước nhỏ hơn 100 nm. Nanocomposite một hoặc nhiều pha với kích thước nano được gắn vào một nền polymer. Nanocomposite thể hiện các tính chất cơ học và điện hóa được phân loại tùy thuộc vào loại chất làm đầy có cấu trúc nano.
Nhờ sự đa dạng về bế cục sắp xếp cũng như hình dạng của hạt nano (Hình 1.1) và sự thay đổi kích thước hạt để lắp đầy khoảng trống của các hạt lớn để ngăn chặn sự khuếch tán của các dung dịch ăn mòn mà vật liệu nanocomposife đã trở thành lớp phú hữu hiệu bảo vệ kim loại khỏi sự ăn mòn [39].1 Bé cuc nanocomposite: (a) Hat nano; (b) Ống nano; (c) Các lớp nano (Chất nên = màu xanh) [39] Vật liệu nano được tổng hợp từ các kim loại chuyển tiếp hoặc hợp chất của các kim loại chuyên tiếp có tính chất từ tính. Nhờ sự kiêm soát kích thước, sự phân bố và mức độ kết †ụ của các hạt nano sẽ lam tăng hay giảm từ tính của vật liệu nhờ đó có thể kiểm soát được tính chất của vật liệu. Điều nảy được ứng dung trong các thiết bị công nghệ thông tin va truyền thông (ICT)[39]. Các hạt nano được phân loại thành các loại khác nhau như hạt nano vô cơ, hạt nano hữu cơ, hạt nano gốm và hạt nano gốc carbon: -_ Vật liệu nano vô cơ bao gồm các nguyên tố thuộc nhóm vô cơ bao gồm kim loại và oxit kim loại.
Đây có thể là chất bán dẫn, chất dẫn điện, các thành phần đơn nguyên tố hoặc đa nguyên tố. Trong số các chất bán dẫn, QDs, vang va bac, oxit kim loai, NP oxit sat tir va éng nano cacbon (CNT) la phé bién nhất. - Vat ligu nano httu cơ được sứ dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực y tế là những vật liệu nano có bản chất hữu cơ. Chúng bao gồm liposome, mixen, dendrimers, bao gồm cả protein va peptit.
jposome Micelle Hình 1.2 Vat ligu nano httu co: (a) Dendrimers; (b) Liposomes and Micelles; (c) Ferritin [42] - Các hat nano gốc cacbon được phân loại thanh Fullerene, ống nano cacbon, Graphene, soi nano cacbon và các hạt nano cacbon cũng được phân loại trên cơ sở kích thước một chiều, hai chiều hoặc ba chiều. - Hat nano gốm còn được gọi là chất rắn phi kim loại. Các hạt nano gốm sứ được tổng hợp thông qua quá trình nung nóng hoặc làm lạnh liên tục. Các hạt nano gốm có thể & dang da tinh thé, vô định hình, xốp, đặc hoặc rỗng [40].
Các dạng vật liệu mới và các chế phẩm khác nhau của vật liệu nano thể hiện các đặc tính độc đáo đã được phát triển trong hai đến ba thập kỷ qua, liên quan đến nhiều cách điều chế tổng hợp khác nhau. Việc phát triển các phương pháp tổng hợp mới để tổng hợp vật liệu nano đòi hỏi phải kiểm tra các thông số thí nghiệm để kiểm soát các tác động khác nhau của chúng đối với quá trình tổng hợp. Khi ngày càng nhiều vật liệu nano mới xuất hiện bằng các con đường tổng hợp khác nhau thì các công cụ nhau được sử dụng để kiểm soát kích thước, hình dang va cấu trúc của vật liệu đã được đề xuất và chứng minh. Các cơ chế này đóng vai trò như một hướng dẫn cho việc thiết kế các vật liệu nano khác nhau mang lại nhiều tính ứng dụng cho vật liệu nano.2 Các phương pháp tông hợp vật liệu nano Các hạt nano được tổng hợp bằng các phương pháp cơ học (nghiền vật liệu rắn hoặc phân tán chất lồng hay các phương pháp hóa lý (lắng tụ chân không, nhiệt phân các chất, khử hóa học hay điện phân v.
Phương pháp chế tạo vật liệu nano được phân loại theo hai nhóm: phương pháp “từ trên xuống” (top-down) sử dụng tiền chất là vật liệu khối và phương pháp “từ đưới lên” (bottom-up) tién chất là nguyên tử hoặc phân tử.3 Sơ đồ biểu diễn các phương pháp tổng hợp nano [42] 7 1.121 Công nghệ chế tạo “từ trên xuống ” Trong cách tổng hợp này, phương pháp phá hủy được sứ dụng. Phân tử lớn hơn (vật liệu khối) bị phân hủy thành một phân tứ nhỏ hơn và sau đó các phân tử nhỏ hơn này biến đổi thành các hạt nano. Nghiên, lắng đọng hơi vật lý và các phương pháp phá hủy khác là ví dụ về tổng hợp từ trên xuống [41]. - Phương pháp nghiền cơ học hoặc phân tán chất lóng, đây là hai phương pháp điển hình của công nghệ nano “từ trên xuống” (fop-down).
Các công nghệ này được áp dụng để thu nhận bột kim loại với kích thước hạt cỡ nano mét, các máy nghiền thường dùng là máy nghiền qua. Phương pháp cơ học với ưu điểm quy trình đơn giản, dụng cụ ít tốn kém và chế tạo được lượng lớn vật liệu. Hạn chế của phương pháp được đề cấp đến là kích thước hạt không đồng nhất, bị ảnh hưởng bởi thời gian nghiền, xay xát, hạt nano bị kết tụ lại với nhau và dễ bị nhiễm bẩn từ dụng cụ thiết bị. Phương pháp thường dùng để chế tao vật liệu nano kim loại.
- Phuong phap ling déng chan khéng vat ly (physical vapor depositio — PVD) gém ba giai đoạn liên tục: Hóa hơi vật liệu, vận chuyển vật liệu hóa hơi đến đề và ngưng tụ. Nhiệt độ hóa hơi vật liệu tại 500 đến 1200°C trong môi trường khí trơ He hoặc Ar, áp suất 103 Pa và được ngưng tụ trên để lạnh ở dang bột kích thước nano. Quá trình này giúp làm giảm động năng của các nguyên tử được hóa hơi, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ngưng tụ. - Phong phap ling déng chan khéng héa hoc (chemical vapor desposition — CVD) thi tiền chất được hóa hơi, sau đó được khuếch tán lên bề mặt đế đã được gia nhiệt dé phản ứng với các nguyên tử hóa hơi của chất thứ hai, tạo ra chắt rắn đạng nano.
Phương pháp này sử dụng để chế tạo màng mỏng hoặc lớp phủ bề mặt, có thể thu được hạt nano bằng cách cạo vật liệu nano từ tắm dé. - Phuong phap laze bóc lớp (laser ablation) là phương pháp mà vật liệu được hóa hơi bằng xung laze rồi được ngưng tụ đưới dạng hạt nano. Quá trình bóc lớp laze sử đụng để rắn ngâm trong dung địch nên các hạt nano thu được ở dạng dung dịch keo nhờ vậy có thể tạo ra các hạt có kích thước nhỏ hơn khi chiếu laze nhiều lần. Phương pháp này có thể chế tạo được nhiều loại vật liệu nhưng vì hiệu suất thấp nên chỉ giới hạn trong phòng thí nghiệm.122 Công nghệ tổng họp “từ dưới lên” Công nghệ “từ dưới lên” (bottoem-up) dựa trên sự hình thành vật liệu nano từ các nguyên tử hoặc ion riêng biệt, sản phẩm tạo thành có tính linh hoạt và chất lượng tốt nên được quan tâm hơn phương pháp “từ trên xuống” (top-down).
Phương pháp vật lý, hóa học hay kết hợp của hai phương pháp trên được gọi là phương pháp “từ đưới lên” [42]. -_ Phương pháp vật lý “từ dưới lên” là phương pháp tổng hợp vật liệu nano từ nguyên tử hoặc bằng phương pháp chuyển pha. Các phương pháp vật lý làm bốc hơi bằng đốt, phún xạ hay phóng điện hồ quang tạo ra nguyên tử để tổng hợp vật liệu nano. Phương pháp chuyền pha là phương pháp mà vật liệu nóng chây được làm lạnh nhanh để thu được trạng thái vô định hình; xử lý nhiệt để chuyển pha vô định hình thành tinh thé, - Phuong phap hóa học “từ dưới lên” tạo vật liệu nano từ các ion, tùy từng loại vật liệu cụ thế sẽ có kỹ thuật chế tạo phù hợp làm tăng tính đa dạng của phương pháp.
Phân loại sự hình thành vật liệu nano theo hai dạng: vật liệu nano được hình thành từ pha lỏng (khử hóa học, kết tủa, sol-gel.) và từ pha khí (nhiệt phân, khử hóa hoc. Phương pháp hóa học có thể tạo ra hạt nano, dây nano, ống nano, màng nano, bột nano. -_ Phương pháp kết hợp hóa — lý “từ dưới lên” dựa trên nguyên tắc vật lý và hóa học kết hợp để tạo vật liệu nano như điện phân, ngưng tụ từ pha khí, kết tủa có hỗ trợ sóng siêu âm. Vật liệu nano được tạo ra có cấu trúc đa đạng như dạng hạt, dạng ống, dạng dây, mạng mảng.3 Một số các phương pháp hóa học “từ dưới lên ” để chế tạo vật liệu nano a) Phương pháp sol — gel là phương pháp từ đưới lên được ưa chuộng nhất để tổng hợp các hạt nano.
Các tiền chất điển hình là oxit kim loại và clorua được sử dụng trong phương pháp sol — gel. Bằng cách sử đụng các phương pháp khác nhau như khuấy, siêu âm và lắc, tiền chất được phân tán trong chất lỏng. Dung địch thu được bao gồm pha rắn và lỏng được tách ra bằng cách sử dụng các kỹ thuật khác nhau như lọc, lắng và ly tâm để thu hồi các hạt nano. Polyme vô cơ được hình thành đưới dạng kết tủa với độ phân tán được kiểm soát bởi thành phần dung dịch, pH và nhiệt độ.
Sản phẩm được sấy khô để loại bỏ tiền chất hữu cơ. > Primary octahedra @ Residual solvent A” Anatase 2; av. acters $ ©sư Rutile Sol a — Brookite Hình 1.