CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ RỐI LOẠN CHỨC NĂNG GAN 1.1 Tổng quan về đái tháo đường và các biến chứng của bệnh đái tháo đường Tổng quan về đái tháo đường Đái tháo đường xuất hiện do rối loạn chuyển hóa đường trong máu. Khi hocmon insulin do tuyến tụy sản sinh bị thiếu hoặc không làm được nhiệm vụ chuyển hóa đường, làm cho lượng đường trong máu luôn ở mức cao, và các tế bào bị thiếu năng lượng để hoạt động, có yếu tố di truyền, do hậu quả từ tình trạng thiếu insulin tuyệt đối hay tương đối. Tuyến tụy là một tuyến kép dài khoảng 15cm, có hình tam giác thuôn dài, nằm phía sau dạ dày sát thành sau ổ bụng, một đầu nằm ở đường cong của tá tràng, đầu kia vào lách. Insulin là kích thích tố do tụy tạng tiết ra, đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa lượng đường trong máu [7].
Vai trò của Insulin: Insulin có tác dụng làm giảm đường huyết. Nếu thiếu sẽ gây rối loạn trao đổi Glucid, làm tăng đường huyết, gây bệnh ĐTĐ [8]. Insulin giúp tăng tính thẩm thấu glucose vào cơ, bình thường sau bữa ăn lượng glucose trong máu cao sẽ kích thích tăng tiết insulin dẫn đến tăng vận chuyển glucose vào tế bào, nếu cơ không hoạt động, phần lớn glucose được chuyển sang dự trữ dưới dạng glycogen, chất này sau đó được sử dụng để cung cấp năng lượng cho hoạt động của cơ [8]. Một trong tác dụng quan trọng của insulin chuyển phần lớn glucose về gan sau khi ăn chuyển sang dạng glycogen dự trữ.
Khi dự trữ lượng glycogen có thể đạt 6% trọng lượng của gan tương đương 100g. Lượng glucose còn lại trong thức ăn sẽ tổng hợp chất béo dự trữ. 3 Insulin tổng hợp acid béo từ glucid và vận chuyển nó tới mô mỡ, làm tăng tổng hợp và dự trữ protein ở hầu hết các tế bào cơ thể.1 Cấu trúc cơ sở của tuyến tụy [91] Insulin tăng vận chuyển tích cực acid amin vào tế bào. Tác dụng này phối hợp với hormone tăng trưởng của tuyến yên.
Insulin có tác dụng trực tiếp lên riboson trong việc dịch mã thông tin tổng hợp protein. Insulin phối hợp với hormone tăng trưởng tuyến yên tăng vận chuyển axit amin vào tế bào, tổng hợp protein phát triển cơ thể. Ở người đái tháo đường, hệ thống này không còn hoạt động bình thường nửa. Tụy tạng không còn sản xuất được insulin hay cơ thể không còn khả năng sử dụng insulin để đưa đường vào bên trong tế bào.
Đường không vào được bên trong tế bào, ở lại trong máu và đưa đường huyết (hay lượng đường trong máu) lên cao gây ra bệnh đái tháo đường. Khi đường huyết vượt quá một độ cao nào đó, thận không giữ được nữa và đường sẽ theo nước tiểu đi ra ngoài [9]. Triệu chứng bệnh đái tháo đường âm thầm, gây suy giảm nhanh sức khoẻ cũng như khả năng lao động bởi các biến chứng nguy hiểm của bệnh trên nhiều cơ quan, làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, hiệu quả lao động và tuổi thọ của bệnh nhân. Một điều đáng lo là 50% người bệnh đái tháo đường không biết mình bị bệnh.
Bệnh có những thuộc tính sau: tăng glucose máu, kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbohydrat, lipid và protein, bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch do hậu quả của xơ vữa động mạch. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là tình trạng tăng đường huyết cùng với các rối loạn về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, khoáng chất. Các rối loạn này có thể đưa đến các biến chứng cấp 4 tính, các tình trạng dễ bị nhiễm trùng và lâu dài sẽ gây ra các biến chứng ở mạch máu nhỏ và mạch máu lớn. Để kiểm soát bệnh đái tháo đường, trước tiên cần xác định rõ loại đái tháo đường để có hướng chăm sóc thích hợp và kiểm soát bệnh hiệu quả hơn.
Bệnh đái tháo đường có thể chia làm 3 loại chính: đái tháo đường type 1, đái tháo đường type 2 và đái tháo đường trong thai kỳ. Đái tháo đường type 1 diễn ra khi tuyến tụy không thể sản xuất được insulin và cơ thể bị thiếu insulin. Khi thiếu insulin, đường không được chuyển hóa dẫn đến ứ đọng trong máu. Do có nguyên nhân bẩm sinh hoặc di truyền, phần đông trẻ em và người trẻ tuổi thường bị loại bệnh này, nhưng người lớn tuổi cũng có thể mắc phải.
Đái tháo đường type 2 xảy ra khi cơ thể vẫn sản xuất được insulin, nhưng ngày càng ít đi và insulin sản xuất không còn hoạt động đúng mức nửa, còn được gọi là kháng insulin, không chuyển hóa được đường trong máu. Phần đông những người bệnh đái tháo đường type 2 thường thừa cân hoặc béo phì ở người lớn. Một vài nguyên nhân gây ra sự rối loạn chuyển hóa này bao gồm yếu tố di truyền, béo phì, tế bào beta trong tuyến tụy bị tổn thương. Tình trạng thừa cân, béo phì, ít hoạt động thể lực, là những đặc điểm thường thấy ở người đái tháo đường type 2 có kháng insulin.
Tăng insulin máu, kháng insulin còn gặp ở người tiền đái tháo đường, tăng huyết áp vô căn, người mắc hội chứng chuyển hóa … Người đái tháo đường type 2 bên cạnh kháng insulin còn có thiếu insulin- đặc biệt khi lượng glucose huyết tương khi đói trên 10,0 mmol/l. Triệu chứng bệnh đái tháo đường âm thầm, gây suy giảm nhanh sức khỏe cũng như khả năng lao động bởi biến chứng nguy hiểm của bệnh trên nhiều cơ quan, làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống, hiệu quả lao động và tuổi thọ bệnh nhân. Một điều đáng lo là 50% người bệnh đái tháo đường không biết mình bị bệnh. Một số triệu chứng của bệnh đái tháo đường thường gặp gồm: ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, sụt cân, mệt mỏi,.Khi có các triệu chứng này, cần phải tiến hành xét nghiệm đường huyết để chẩn đoán.
Đái tháo đường thai kỳ là trường hợp bệnh đái tháo đường chỉ xảy ra ở phụ nữ trong giai đoạn mang thai, mà trước khi mang thai người này chưa bao giờ bị đái tháo đường. Đái tháo đường thai kỳ thường ngắn hạn và sẽ hết khi bạn kết thúc thai kỳ. Tuy nhiên tỷ 5 lệ bị đái tháo đường về sau của phụ nữ bị đái tháo đường khi mang thai sẽ cao hơn những người khác. Vì thế, bệnh nhân có kế hoạch sống cân bằng hơn qua chế độ dinh dưỡng hợp lý kết hợp cùng lối sống vận động lành mạnh để giảm thiểu khả năng bị đái tháo đường trong tương lai.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [10] và mức đường huyết bình thường được tóm tắt minh họa trong bảng 1.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường [10] Tên xét nghiệm Đường huyết bình Giai đoạn tiền đái Chẩn đoán bệnh đái thường tháo đường tháo đường Đường huyết ngẫu < 7.1 mmol/l nhiên (140 mg/dL) (140 - 200 mg/dL) (200 mg/dL) Đường huyết lúc 4.9 mmol/l ≥ 7 mmol/l đói (72-100mg/dL) (101 - 125 mg/dL) (126 mg/dL) Nghiệm pháp dung < 7.1 mmol/l nạp glucose (140 mg/dL) (140 - 200 mg/dL) (200 mg/dL) HbA1c <5.5% Các biến chứng của bệnh đái tháo đường type 2 Các biến chứng mạn của bệnh đái tháo đường type 2 Các biến chứng mạn của bệnh đái tháo đường type 2 gia tăng theo tình trạng đường huyết cao kéo dài vì bệnh đái tháo đường type 2 có một thời gian dài không có triệu chứng và nhiều bệnh đái tháo đường type 2 đã có các biến chứng ngay tại thời điểm chẩn đoán [7]. Việc điều trị dù được tuân thủ và theo dõi nghiêm ngặt cũng khó lòng đạt được mục đích kiểm soát đường huyết tối ưu lâu dài. Do vậy, sự xuất hiện của một hoặc nhiều biến chứng mạn trong quá trình diễn tiến bệnh là điều khó tránh khỏi. Các biến chứng mạn của bệnh đái tháo đường type 2 được phân chia thành hai loại: (i) các biến chứng liên quan mạch máu bao gồm biến chứng mạch máu nhỏ (mắt, thận, thần kinh) và biến chứng mạch máu lớn (bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên và mạch máu não); và (ii) các biến 6 chứng không liên quan mạch máu bao gồm rối loạn tiêu hóa, rối loạn tình dục, nhiễm trùng và những thay đổi ở da.
Biến chứng cấp tính của bệnh đái tháo đường Một số biến chứng cấp tính đáng lưu ý do bệnh ĐTĐ gây ra là hôn mê do nhiễm acid ceton, hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu máu, hôn mê do acid lactic tăng cao trong máu,,, Chẩn đoán theo y học hiện đại Tiêu chí chẩn đoán đái tháo đường Theo khuyến cáo của Bộ Y tế hiện nay, tiêu chuẩn đái tháo đường dựa trên 1 trong các tiêu chuẩn sau đây: - Một mẫu huyết tương bất kỳ ≥ 200 mg/dl kết hợp với các triệu chứng lâm sàng của tăng đường huyết. - Đường huyết lúc đói ≥ 126 mg/dl (sau 8 giờ không ăn). - Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 200 mg/dl. Ngoài ra còn tham chiếu các triệu chứng lâm sàng như thường biểu hiện bởi nhóm triệu chứng khát nước và uống nước nhiều, tiểu nhiều, ăn nhiều, sụt cân.
Xét nghiệm cận lâm sàng Đường huyết: Theo Bộ Y Tế đưa cách thử HbA1c thử máu trong phòng thí nghiệm vào tiêu chuẩn, và lấy tiêu chuẩn HbA1c là cao hơn hay bằng 6,5%, đó là cách thử Glycohemoglobin. Nhưng không áp dụng cho trường hợp có bệnh thiếu máu, bệnh hồng cầu, vì kết quả sẽ không chính xác, nên lại phải dựa vào tiêu chuẩn đói và no. Lúc đói cao hơn 126mg/dL (7.3mmol/l), lúc no cao hơn 200mg/dL (11./l) là có bệnh đái tháo đường. Theo tiêu chí chẩn đoán mới nhất được WHO công nhận năm 2017, các loại đường huyết dùng để chẩn đoán bao gồm: Đường huyết lúc đói: ít nhất phải thử 2 lần liên tiếp khi đói, lấy ở tĩnh mạch: - Đường huyết lúc đói < 100 mg/dL: bình thường.
- Đường huyết lúc đói ≥ 126 mg/dl (sau 8 giờ không ăn): chẩn đoán tạm thời là bệnh đái tháo đường (chẩn đoán xác định cần nên làm thêm một lần nửa). - Đường huyết ≥ 101 mg/dl và < 126 mg/dl: rối loạn đường huyết lúc đói. Đường huyết sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose: 7 - Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose < 140 mg/dl = dung nạp glucose bình thường. - Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 140 mg/dl và < 200 mg/dl: rối loạn dung nạp glucose.
- Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose > 200 mg/dl: chẩn đoán tạm thời là bệnh đái tháo đường, chẩn đoán chính xác sau khi lặp lại mẫu thử lần 2 với kết quả như trên.