Mở đầu - Cơ cấu phụ trợ: đảm nhận các chức năng như hiệu chỉnh, khống chế độ mở v.4 là sơ đồ nguyên lý của một máy điều tốc có cơ cấu phản hồi mềm.4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.1 Mục đích của đề tài. Từ kinh nghiệm tích lũy qua thực tế thế giới cho thấy một trong những đặc điểm nổi bật của thủy điện vừa và nhỏ, đó là tỷ trọng đầu tư cho thiết bị chiếm tỷ lệ cao so với các công trình thủy điện lớn. Thường thì thiết bị thủy điện vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ 30% đến 40% vốn đầu tư ban đầu. Trường hợp đặc biệt, con số này có thể lên đến 50%.
Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc đầu tư nghiên cứu nhằm hoàn thiện thiết bị thủy điện vừa và nhỏ. Hiện nay trên thế giới, cùng với sự ứng dụng nhiều các thành quả khoa học và công nghệ mới, thủy điện vừa và nhỏ đã hoàn toàn thay đổi chất lượng nguồn năng lượng của mình, kết quả là mọi sự nhìn nhận về thủy điện vừa và nhỏ đã phải thay đổi. Đóng góp phần không nhỏ cho sự thay đổi đó phải kể đến việc ứng dụng ngày càng rộng rãi các hệ thống điều khiển tự động cùng kỹ thuật vi xử lý trong quá trình vận hành và điều khiển các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ. Sự hoàn thiện của máy điều tốc tua bin thủy điện cũng là một trong những yếu tố quan trọng làm nên sự thay đổi lớn đó.
Với mục tiêu giảm giá thành đầu tư và đơn giản trong vận hành các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, theo logic đơn giản người ta có thể cho rằng ở đây chỉ cần sử dụng những máy điều tốc tuabin có nguyên lý đơn giản và rẻ nhất so với những máy điều tốc của các nhà máy thủy điện lớn. Tuy nhiên, nếu tiếp Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 - 23 - Luận văn Thạc sĩ khoa học Chương 1: Mở đầu cận vấn đề này từ góc độ “điều khiển đồng bộ” nhà máy thủy điện vừa và nhỏ chứ không chỉ đơn thuần là “điều tốc” thì chúng ta lại phải thay đổi quan niệm trên. Các kết quả nghiên cứu trên thực tế tại Mỹ, Nga và ngay cả Trung Quốc cho thấy tại các nhà máy thủy điện lớn, điều tốc tua bin chỉ là một phần trong hệ thống tự động điều khiển cũng như bảo vệ tổ máy trong quá trình làm việc. Trong khi đó, đối với nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, việc lắp đặt riêng biệt các hệ thống điều tốc, điều khiển tự động và bảo vệ tổ máy sẽ dẫn đến nhiều tốn kém trong đầu tư ban đầu.
Ở đây, phương án tối ưu được lựa chọn phổ biến trên thế giới, đó là tổ hợp các chức năng trên vào cùng với điều tốc tua bin. Với xu hướng tiến tới nhà máy thủy điện vừa và nhỏ hoàn toàn tự động, việc ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến trong điều khiển với các bộ vi xử lý mạnh tưởng như làm phức tạp thêm cho nhà máy thủy điện, nhưng thực tế lại cho thấy điều ngược lại. Với ứng dụng kỹ thuật mới, việc vận hành, bảo dưỡng sửa chữa các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ được đơn giản đi nhiều nhờ sử dụng nhiều tổ hợp, linh kiện tiêu chuẩn. Điều mà trước đây chưa thể có được.5 là mô hình của một nhà máy thủy điện nhỏ, với việc ứng dụng các công nghệ kỹ thuật số tiên tiến trong điều khiển tự động hóa các quá trình.
Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 Luận văn Thạc sĩ khoa học Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 - 24 - Chương 1: Mở đầu Hình 1.5: Mô hình của một nhà máy thủy điện nhỏ sử dụng các công nghệ kỹ thuật số tiên tiến. - 25 - Luận văn Thạc sĩ khoa học Chương 1: Mở đầu 1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Như ở phần trên đã trình bày, nhằm tăng cường khả năng chủ động sản xuất các trang thiết bị điều khiển tự động mang tính hiện đại hóa cao, nâng cao năng lực cạnh tranh trước xu thế hội nhập khu vực và toàn thế giới… Đề tài tập trung nghiên cứu về công nghệ van tuyến tính thế hệ mới và khả năng ứng dụng của nó trong việc thiết kế chế tạo các máy điều tốc tự động điện – thủy cho các trạm thủy điện cỡ vừa và nhỏ.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Về mặt khoa học, đề tài mang tính nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào trong các lĩnh vực của sản xuất và đời sống.
Đây là một ý nghĩa khoa học hết sức sâu sắc, mỗi ngành khoa học chỉ có thể phát triển khi các kết quả nghiên cứu của nó được nghiên cứu ứng dụng phục vụ con người. Về mặt thực tiễn, đề tài mang tính thực tiễn cao do là một phần trong nội dung nghiên cứu của Dự án khoa học công nghệ quy mô lớn của Nhà nước: “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành thiết bị thủy điện cho nhà máy thủy điện Đaksrông công suất 20MW”, (Thuộc chương trình phát triển khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 2005 – 2010). Việc nghiên cứu tự thiết kế chế tạo các trang thiết bị điều khiển tự động, hiện đại trong công nghiệp nói chung và thiết bị điều chỉnh tuabin thủy điện nói riêng sẽ giúp cho đội ngũ kỹ sư và công nhân Việt Nam có thêm kinh nghiệm và nâng cao tay nghề, thu nhập, một mặt giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thêm các thế mạnh cạnh tranh trước xu thế hội nhập với thế giới. Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 - 26 - Luận văn Thạc sĩ khoa học Chương 2: Tổng quan CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN.1 Máy điều tốc cơ – thủy lực, sơ đồ nguyên lý làm việc.
Trên thế giới hiện nay, các máy điều tốc dùng cho nhà máy thủy điện vừa và nhỏ được thiết kế và chế tạo dựa trên hai nguyên lý cơ bản, đó là nguyên lý cơ – thủy lực và nguyên lý điện – thủy lực. Loại hoạt động theo nguyên lý cơ – thủy lực đã được nghiên cứu và ứng dụng từ khởi đầu phát triển của ngành thủy điện. Với các ưu điểm như: kết cấu đơn giản, dễ chế tạo, độ tin cậy và độ bền cao trong quá trình vận hành… Cho đến nay loại này vẫn được sử dụng phổ biến trong các trạm thủy điện vừa và nhỏ ở nước ta.1 là sơ đồ nguyên lý của một máy điều tốc cơ – thủy lực do Trung Quốc sản xuất. Đây là một loại điều tốc có phản hồi mềm.
Cấu tạo của nó bao gồm: - Cơ cấu cảm biến và đo lường: cụm quả văng và động cơ điện dẫn động (1÷6), cơ cấu cam (25, 26, 38, 39). - Cơ cấu điều chỉnh: hệ thống cánh hướng dòng. - Cơ cấu chấp hành: cụm van phân phối (7÷12; 40÷43), cụm xylanh thủy lực (34÷37; 44÷50) - Cơ cấu ổn định: bộ phận phản hồi mềm (13÷16; 23, 24 27÷33; 64÷73) - Cơ cấu phụ trợ: cụm hiệu chỉnh (17÷22). Bộ phận phản hồi gồm bộ giảm chấn thủy lực (gồm các pittông 64, 65, các lò xo 66, 67, 68, kim tiết lưu 69) và cơ cấu cam (lò xo 25, trục 26, con lăn Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 - 27 - Luận văn Thạc sĩ khoa học Chương 2: Tổng quan 38, cam 39), ngoài ra còn phải kể đến cơ cấu các thanh truyền (13, 14, 15, 16, 23, 24, 70, 71, 72, 73) Nguyên lý hoạt động của loại điều tốc này có thể được khái quát như sau: Động cơ điện (1) (có liên hệ thẳng với máy phát) dẫn động cơ cấu quả văng ly tâm (5).
Quả văng đo độ lệch của số vòng quay thực tế của tua bin so với số vòng quay định mức. Mọi sự thay đổi của vòng quay tua bin đều dẫn tới sự thay đổi số vòng quay của quả văng. Khi công suất ra của tuabin cân bằng với phụ tải của máy phát, tổ hợp tuabin – máy phát làm việc ổn định với số vòng quay định mức. Lực ly tâm do cơ cấu quả văng (5) gây ra cân bằng với lực của lò xo (6), nó giữ cho vị trí của ống lót (7) với con trượt (8) ở vị trí đóng (vị trí trung gian).
Độ mở cánh hướng (được khống chế bởi hành trình của xylanh sécvô) là phù hợp với công suất định mức của tổ máy. Trong trường hợp phụ tải giảm, mômen động lực của tuabin và mômen cản của máy phát mất cân bằng, số vòng quay của tuabin tăng lên. Lúc này, do điện áp tăng dẫn đến số vòng quay của động cơ điện (1) cũng tăng lên tương ứng, lực ly tâm của cơ cấu quả văng (5) tăng lên, ống lót (7) được kéo lên, lò xo (6) bị ép lại, ngăn bên phải của xylanh sécvô được nối thông với đường hồi về bể, dưới tác dụng của áp lực dầu từ bình tích năng (luôn nối thông với ngăn bên trái của xylanh sécvô) piston trong xylanh sécvô dịch chuyển sang phải làm quay cánh tay đòn (48), dẫn động trục (47) làm giảm độ mở cánh hướng để giảm lưu lượng vào tuabin, hạ thấp số vòng quay của tuabin xuống. Vị trí cân bằng mới được thiết lập, tổ máy trở lại với số vòng quay định mức.
Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 - 28 - Luận văn Thạc sĩ khoa học Chương 2: Tổng quan Nguyễn Văn Tuệ_CH Máy thủy khí 2004 - 2006 - 29 - Luận văn Thạc sĩ khoa học Chương 2: Tổng quan Khi piston trong xylanh sécvô dịch chuyển theo hướng sang phải, cơ cấu cam (39) tác động vào trục phản hồi (26) làm quay cơ cấu khung (33) theo chiều kim đồng hồ tạo ra hai tác động phản hồi. - Tác động phản hồi do bộ giảm chấn: Khi cơ cấu khung (33) quay theo chiều kim đồng hồ, đai ốc (31) trên trục ren (32) liên kết qua các thanh (24), (14) và (70) kéo piston (64) của bộ giảm chấn đi lên, áp suất dầu ở khoang dưới giảm tạo ra lực kéo piston thứ cấp (65) đi xuống, lò xo (66) bị nén lại. Dưới tác động của các thanh liên kết (71), (73), (72) và (13) con trượt (8) bị đẩy lên phía trên đóng bớt các lỗ lưu thông trên ống lót (7) hạn chế sự dao động của hệ thống do hệ thống cánh hướng vượt quá độ mở cần thiết.