CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình sử dụng năng lượng 1. Tình hình sử dụng năng lượng trên thế giới Năng lượng là một trong những yếu tố thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội cũng như duy trì mọi sự sống trên trái đất. Trong nhiều thập kỉ qua, việc thiêu thụ năng lượng trên thế giới tăng lên không ngừng cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Từ xa xưa, tổ tiên loài người đã biết sử dụng năng lượng để chiếu sáng, sưởi ấm và đun nấu. Sau đó nhờ lửa con người đã làm ra được đồ gốm, công cụ kim loại. Cuối thể kỉ 18, máy hơi nước đầu tiên được đưa vào sử dụng và từ đó đến nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự ra đời của động cơ đốt trong, cánh mạng công nghiệp làm năng lượng thế giới gia tăng một cách chóng mặt. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) dự báo, trong gần ba thập kỷ tới, tiêu thụ lượng năng lượng thế giới dự kiến sẽ tăng 56% do sự tăng trưởng của các nước đang phát triển.
Lượng năng lượng tiêu thụ trên thế giới có thể tăng từ mức 534.1024 đơn vị nhiệt lượng Anh (BTU) năm 2010 lên tới 820. Trong đó, mỗi 1024 BTU tương đương 172 triệu thùng dầu thô. Hiện nay, năng lượng hóa thạch chiếm 80% tổng lượng năng lượng nêu trên và năng lượng sinh khối chỉ chiếm 10% và chủ yếu được dùng cho các hoạt động mang tính thông thường. Ngoài ra, còn có 10% năng lượng điện sơ cấp.
Nguồn năng lượng này được sản xuất ở mức 55% từ các loại năng tái tạo, đặc biệt là thủy điện và ở mức 45% từ năng lượng hạt nhân. Năng lượng hóa thạch trên thế giới hầu hết đã được phát hiện và đưa vào khai thác, với tốc độ khai thác và sử dụng như hiện nay, năng lượng hóa thạch đang ngày càng cạn kiệt [1]. Theo đánh giá năm 2011, trữ lượng dầu mỏ khoảng 1033,8 tỷ Barel, nhiều nhất là ở Ả Rập Saudi. Những nước khai thác dầu mỏ nhiều nhất thế giới là các nước Trung Đông với tổng sản lượng khai thác chiếm 65,4%… Tiêu thụ nhiên liệu lỏng thế giới theo tổng quan IEO 2009 sẽ tăng từ 85 triệu thùng/ngày năm 2006 lên 107 triệu thùng/ngày vào năm 2030.
Trữ lượng than đá khoảng 982,4 tỷ tấn. Than đá được khai thác nhiều ở Bắc bán cầu, trong đó trữ lượng khai thác lớn nhất là các nước Châu Á- TBD, Bắc Mỹ, và Liên Xô (cũ). Tổng sản lượng HV: Đặng Trần Đông -1- 16BKTN Luận văn tốt nghiệp than đá khai thác năm 2006 là 4,27 tỉ tấn/năm. Theo dự báo của tổng quan IEO 2009, tổng lượng tiêu thụ than đá thế giới tăng 49% trong giai đoạn dự đoán, từ 127,5 triệu tỷ BTU (quadrillion BTU) năm 2006 lên 190,2 triệu tỷ BTU vào năm 2030.
Trong năm 2006, than đá chiếm 27% tổng tiêu thụ năng lượng thế giới. Trong tổng sản lượng than được sản xuất trên toàn thế giới năm 2006, có 62% được sử dụng để sản xuất điện, 34% được sử dụng bởi nhà tiêu dùng công nghiệp, và gần 4% phần còn lại được tiêu thụ trong dân cư và các ngành thương mại. Trữ lượng khí thiên nhiên khoảng 146 ngàn tỷ m3 , trong đó khai thác nhiều nhất là các nước Trung Đông và Liên Xô (cũ) với sản lượng khai thác chiếm 38,7% tổng sản lượng. Trên toàn thế giới, tổng tiêu thụ khí tự nhiên tăng mức trung bình là 1,6%/năm trong tổng quan nghiên cứu của IEO 2009, từ 104 nghìn tỉ feet khối vào năm 2006 lên 153 nghìn tỉ feet khối vào năm 2030.
Năng lượng hạt nhân cũng đang phát triển mạnh, sản lượng Uranium năm 2006 đạt 36 ngàn tấn. Một số quốc gia đang duy trì và phát triển năng lượng hạt nhân như Pakistan, Nhật Bản, Trung Quốc, và Ấn Độ. Năng lượng sinh khối cũng được phát triển trên quy mô rộng khắp toàn cầu, mặc dù còn khá mới mẻ nhưng đây hứa hẹn là nguồn năng lượng sạch cho tương lai do khả năng tái tạo và thân thiện với môi trường, không gây hiệu ứng nhà kính. Nguồn nguyên liệu dồi dào và giá thành rẻ là cơ sở để phát triển năng lượng sinh khối, giúp giảm sự lệ thuộc vào nguồn tài nguyên nhiên liệu không tái sinh truyền thống.
Ngoài ra, thủy triều, địa nhiệt… cũng đang được nhiều nước đưa vào sử dụng. Hiện có 24 quốc gia sản xuất tổng cộng 56.786 GWh điện từ năng lượng địa nhiệt trong năm 2005, chiếm 0,3% lượng điện tiêu thụ toàn cầu. Nguồn năng lượng từ sóng đại dương là rất lớn nhưng cho đến nay, hiệu suất năng lượng thu được còn rất thấp nên việc ứng dụng năng lượng sóng chưa mang tính kinh tế và thực tiễn. Trữ lượng năng lượng sơ cấp trên thế giới được trình bày trong bảng 1.
Nhìn chung, trong tương lai, than là nguồn năng lượng chủ yếu của thế giới. Bởi vì than có trữ lượng lớn, dự tính lượng than có thể khai thác được đến 230 năm nữa, so với 41 năm của dầu mỏ, 62 năm của khí đốt và 73 năm đối với Uranium. Thủy điện vốn là nguồn năng lượng có thể tái tạo đã được khai thác HV: Đặng Trần Đông -2- 16BKTN Luận văn tốt nghiệp khá mạnh, đang ngày càng gặp phải những vấn đề về môi trường (mất đất, sói lở, biến đổi hệ sinh thái, di dân…) Bảng 1.1 Trữ lượng năng lượng sơ cấp trên thế giới [1] Dầu mỏ Khí thiên nhiên Than đá Uranium 3 Trữ Lượng 1033,8 tỷ Barrel 146 ngàn tỷ m 982,4 tỷ tấn 4360 ngàn tấn Bắc Mỹ 6,2% 5,0% 26,1% 17,4% Trung, Nam mỹ 8,6% 4,3% 2,2% 6,2% Châu Âu 2,0% 3,5% 12,4% 3,0% Trung Đông 65,4% 38,7% 0% 0% Châu Á - TBD 4,3% 7,0% 29,7% 25,1% Châu Phi 7,2% 7,7% 6,2% 17,2% Liên Xô (cũ) 6,3% 38,7% 23,4% 31,0% 3 Sản lượng 85 triệu thùng/ 2330 tỷ m 4,27 tỷ tấn 36 ngàn tấn ngày (2006) Đã khai thác 756,7 tỷ Barrel – 62,64 ngàn tỷ m3 210,3 tỷ tấn – - (đến 1995) 45% – 31% 21% Số năm có thể 41,0 61,9 230,0 73 năm KT (sau 1999) Tuy nhiên, giá của các năng lượng hóa thạch dùng vẫn rẻ hơn so với các nguồn năng lượng khác. Các nguồn năng lượng khác muốn cạnh tranh với năng lượng hóa thạch cần có chính sách trợ giá hợp lý và chương trình khuyến khích sử dụng.
Dự đoán cho thấy trong thời gian tới, lượng tiêu thu các nguồn năng lượng truyền thống như dầu mỏ, khí thiên nhiên, than đá vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Đặc biệt là trong công nghiệp, giao thông vận tải khi các thiết bị, nhà máy đã quen thuộc với việc sử dụng các dạng năng lượng hóa thạch để làm chất đốt, hệ thống cung cấp và vận chuyển đã đồng bộ từ trước đến nay. So với dầu mỏ, khí thiên nhiên thì mức độ tăng nhu cầu than đá tương đối ổn định, chiếm khoảng 25% nhu cầu năng lượng sơ cấp của thế giới. Nhu cầu đòi hỏi về năng lượng của từng khu vực trên thế giới cũng không giống nhau.
Mức tiêu thụ năng lượng có thể được coi là một trong những chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một nước. Các nước kinh tế phát triển đã tiêu thụ tới quá nửa tổng số năng lượng được sản xuất ra trên thế giới. Trong khi đó, các nước đang phát triển với diện tích lớn, dân số đông, nhưng chỉ tiêu thụ khoảng 1/3 tổng năng lượng. Cụ thể năm 2006, các nước OECD tiêu thụ 241,7 triệu tỷ BTU, chiếm hơn 50% lượng tiêu thụ toàn thế giới là 472,4 triệu tỷ BTU.
HV: Đặng Trần Đông -3- 16BKTN Luận văn tốt nghiệp Các năm 2010, 2015 và dự kiến về sau cũng như vậy. Sự suy giảm kinh tế hiện nay làm giảm nhu cầu về năng lượng trong ngắn hạn, do nhu cầu tiêu dùng và chế tạo sản phẩm và dịch vụ chững lại. Tuy nhiên, phần lớn các nước sẽ lại bắt đầu phục hồi xu hướng tăng trưởng kinh tế trong vòng từ 12 đến 24 tháng tới. Phần lớn các nước OECD có cơ sở hạ tầng năng lượng tốt nhất thế giới.
Bên cạnh đó, họ chiếm phần lớn mức tiêu thụ năng lượng thế giới hiện nay. Tuy nhiên mức tiêu thụ năng lượng của một số nền kinh tế mới nổi ngoài OECD có nhiều khả năng gia tăng. Năm 2006, 51% năng lượng tiêu thụ trên thế giới là nằm trong khu vực OECD, nhưng tỷ lệ này sẽ tăng trưởng chậm trong giai đoạn 2006 - 2030, trung bình 0,6%/năm, trong khi tỷ lệ này ở các nền kinh tế mới nổi bên ngoài OECD là 2,3%. Dự báo tiêu thụ năng lượng trên thế giới theo nhóm nước 2006-2030 được trình bày trong bảng 1.2 Dự báo tiêu thụ năng lượng trên thế giới theo nhóm nước, 2006-2030 (đơn vị: Triệu tỷ BTU)[1] Tỷ lệ tăng trung bình hàng năm từ Nhóm nước 2006 2010 2015 2020 2025 2030 2006-2030 (%) OECD 241,7 242,8 252,4 261,3 269,5 278,2 0,6 Bắc Mỹ 121,3 121,1 125,9 130,3 135,6 141,7 0,6 Châu Âu 81,6 82,2 84,8 87,9 90,0 91,8 0,5 Châu Á 38,7 39,5 41,8 43,1 43,9 44,6 0,6 Ngoài OECD 230,8 265,4 299,1 334,4 367,8 400,1 2,3 Châu Âu và Nga 50,7 54,0 57,6 60,3 62,0 63,3 0,9 Châu Á 117,6 139,2 163,2 190,3 215,4 239,6 3,0 Trung Đông 23,8 27,7 30,3 32,2 34,6 37,7 1,9 Châu Phi 14,5 16,2 17,7 19,1 20,6 21,8 1,7 Trung và Nam Mỹ 24,2 28,3 30,3 32,5 35,2 37,7 1,9 Toàn thế giới 472,4 508,3 551,5 595,7 637,3 678,3 1,5 Các nước ngoài OECD khu vực châu Á, có mức tăng trưởng tiêu thụ năng lượng mạnh nhất so với các khu vực khác, là 117,6 triệu tỷ BTU năm 2006, dự HV: Đặng Trần Đông -4- 16BKTN Luận văn tốt nghiệp kiến đến năm 2030 mức tiêu thụ đạt 239,6.
Các nước ngoài OECD khu vực Trung Đông, Trung và Nam Mỹ cũng có mức tiêu thụ năng lượng tăng cao, lần lượt là 23,8 và 24,2 triệu tỷ BTU, chiếm khoảng 60% và 50%, so với 25% của các nước ngoài OECD khu vực châu Âu. Nhìn chung việc sử dụng các dạng năng lượng đều tăng trong giai đoạn 2006 - 2030. Giá dầu thế giới vẫn sẽ tương đối cao. Mức tăng trưởng tiêu dùng các nhiên liệu lỏng khoảng 0,9% mỗi năm trong giai đoạn 2006 - 2030.
Các nguồn năng lượng tái tạo có mức tăng trưởng nhanh nhất, mức tiêu thụ tăng khoảng 3% mỗi năm. Việc sử dụng các nguồn năng lượng hoá thạch kéo theo vấn đề môi trường và nhiều chính phủ trên thế giới sẽ tiếp tục khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo.