CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TỐC TURBINE NƯỚC 1.1 Ý nghĩa, vai trò việc điều chỉnh tần số của máy phát điện[17] Quá trình sản xuất và tiêu thụ điện năng có tính chất đặc biệt so với các sản phẩm khác, đó là sự cân bằng giữa cung và cầu diễn ra liên tục trong từng phút, từng giây…điều này có nghĩa là cân bằng công suất tác dụng trong hệ thống điện diễn ra một cách tự nhiên. Một nhiệm vụ hết sức quan trọng của việc cung cấp điện là đảm bảo các chỉ tiêu về chất lượng điện năng của hệ thống điện, trong đó hai chỉ tiêu đặc biệt quan trọng là chỉ tiêu về điện áp và tần số phải nằm trong phạm vi cho phép theo quy định U lv = Uđm ± 5%U đm và flv = fđm ± 0,2Hz. Trong đó thông số điện áp mang tính chất cục bộ còn tần số mang tính chất hệ thống, bởi vì điện áp có thể thay đổi bằng biến áp hoặc ổn áp đối với từng thiết bị tiêu thụ điện. Đối với máy phát điện, việc điều chỉnh điện áp chính là điều chỉnh từ thông qua roto của máy phát(hoặc điều chỉnh bằng biến áp ngoài mắc sau máy phát) còn việc điều chỉnh tần số hệ thống chính là điều chỉnh công suất hữu công của tổ máy phát ra.
Đối với máy phát thủy điện, việc điều chỉnh công suất hữu công của tổ máy chính là điều chỉnh công suất cơ của turbine thủy lực bằng cách điều chỉnh độ mở cánh hướng để thay đổi lưu lượng nước qua turbine. Như vậy, hệ thống điều tốc trong các máy phát thủy điện là một hệ thống tự động điều chỉnh công suất cơ của turbine thủy lực để duy trì tốc độ quay (tần số) của máy phát trong giới hạn cho phép, đồng thời đảm bảo cho máy phát làm việc ở các chế độ: tần số, công suất yêu cầu. Đối với trường hợp cụ thể, turbine hộ gia đình ở Việt Nam, công suất máy phát thủy điện cần đảm bảm lớn hơn công suất tiêu thụ của tổng các thiết bị điện. Bộ điều tốc 4 máy phát có nhiệm vụ điều chỉnh thủy năng hay nói một cách trực quan là điều chỉnh lưu lượng nước vào turbine để duy trì tốc độ quay ổn định của turbine khi công suất tiêu thụ thay đổi.1 Tính tất yếu của việc điều chỉnh tần số Quan điểm để đưa ra kết luận khẳng định phải thay đổi công suất phát máy phát để duy trì ổn định tần số bởi vì khi có sự thay đổi về tần số thì sẽ gây ra những hậu quả xấu cho thiết bị như: Các thiết bị được thiết kế và làm việc tối ưu ở tần số định mức.
Khi tần số giảm thì hiệu suất của thiết bị cũng giảm ví dụ như: Quạt, động cơ. Làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm từ máy dệt, mài, tiện. Các yếu tố gây ra việc thay đổi tần số, công suất là do sự không phù hợp giữa năng lượng điện sản sinh và tiêu thụ như: Giờ trong ngày như: sử dụng nhiều thiết bị điện khi ở nhà Ngày trong tuần như: Thứ bảy, chủ nhật. Ảnh hưởng của thời tiết như: Mưa, nắng., tác động đến lượng nước đầu vào Những yếu tố ngẫu nhiên khác.2 Bản chất và ý nghĩa điều chỉnh tần số trong hệ thống điện - Tấn số và điện áp là hai chỉ tiêu quan trọng nhất của chất lượng điện năng.
Mỗi một thiết bị tiêu thụ điện làm việc với một tần số nhất định. Khi tần số của nguồn cung cấp cho thiết bị tiêu thụ điện lệch khỏi tần số định mức của nó thì công suất tác dụng P, công suất phản kháng Q và các thông số khác của thiết bị đó cũng thay đổi. Người ta đã 5 xây dựng được đặc tính về mối quan hệ giữa P và Q theo tần số ở một phụ tải tổng hợp có dạng như sau: P,Q f fđm Hình 1. Đặc tính phụ tải tổng hợp theo tần số Trong đó: + Đối với công suất tác dụng (P), đặc tính có dạng tuyến tính.
Độ dốc của đặc tính phụ thuộc vào thành phần động cơ đồng bộ (ĐB), động cơ không đồng bộ (ĐK) có trong phụ tải tổng hợp đó. - Đối với ĐB: Khi tần số thay đổi 1% thì P thay đổi 1%; - Đối với ĐK: Khi tần số thay đổi 1% thì P thay đổi 3%; - Các lò điện trở, hồ quang …P không phụ vào tần số. + Đối với công suất phản kháng (Q), tại một nút phụ tải ta có: Q = Q0 + ΔQ - Qc (1.1) 6 Với: - Q o : Công suất phản kháng mà các động cơ và máy biến áp tiêu thụ (công suất từ hoá); - ΔQ : Tổn thất công suất phản kháng trong hệ thống; - Q c : Công suất phản kháng do đường dây sinh ra. Khi tần số giảm, Qo tăng, ΔQ và Q tăng.
Đối với một nút phụ tải, khi tần số giảm 1% thì Q tăng (1÷5)%. Ngoài ra sự thay đổi tần số của hệ thống cũng có một phần ảnh hưởng đến điện áp, nhờ vậy khi hệ thống thiếu công suất phản kháng làm điện áp giảm, có thể giảm bớt độ sụt áp bằng cách nâng tần số lên. Như vậy, tần số có vai trò quan trọng đến hệ thống điện, có ảnh hưởng trực tiếp đến các thiết bị tiêu thụ điện, cho nên việc giữ tần số ở một giá trị cố định (hay giữ cho tần số chỉ được sai lệch trong một phạm vi cho phép) là một yêu cầu quan trọng của hệ thống. Khác với điện áp, tần số tại mọi điểm trong hệ thống đều như nhau.
Quá trình điều chỉnh để duy trì tần số ở một giá trị nhất định (hay được sai lệch trong phạm vi cho phép) được gọi là điều tốc. Vì vậy điều tốc là một trong những thiết bị quan trọng trong dây chuyền sản xuất điện năng. Tuy nhiên việc điều chỉnh tần số hiện nay chỉ được thực hiện tại các nhà máy điện vì các cơ cấu cồng kềnh phức tạp.3 Tần số của máy phát và phương trình động học của Turbine Ta có tần số dòng điện của máy phát điện xoay chiều được xác định theo biểu thức: 7 n.2) 60 Trong đó: - f: Tần số dòng điện xoay chiều (Hz) - n: Tốc độ quay của rotor máy phát (v/ph) - p: Số đôi cực từ của máy phát Vì số đôi cực p của máy phát không đổi nên muốn bảo đảm tần số dòng điện không đổi ta phải duy trì số vòng quay n của rotor. Rotor của máy phát được nối vào trục của turbine.
Dưới tác dụng của năng lượng dòng nước, turbine thủy lực quay làm rotor máy phát quay theo. Phương trình động lực trên trục turbine máy phát là: d M t Mc J (1.3) dt Trong đó: - M t: Moment động lực, có tác dụng làm turbine quay. Moment này do năng lượng dòng nước sinh ra. - M c: Moment cản trên trục turbine máy phát.
Moment này do ma sát, moment điện từ …Moment điện từ do dòng điện chạy trong phần ứng của máy phát sinh ra. Moment này thay đổi khi phụ tải máy phát thay đổi. - J: Moment quán tính của tổ máy, quy về trục turbine. - ω: Tốc độ góc của trục turbine máy phát.4) 60 Thấy rằng khi số vòng quay không đổi (n=const) khi dn/dt = 0 hay dω/dt = 0.
Thay vào phương trình (1.3) ta được: Mt = Mc Vậy để giữ tốc độ turbine không đổi ta phải đảm bảo moment động lực bằng moment cản hay công suất turbine bằng công suất máy phát (N=M. Vì công suất của phụ tải máy phát thay đổi liên tục nên muốn bảo đảm tần số dòng điện không đổi ta phải liên tục thay đổi công suất của turbine thủy lực cho phù hợp. Công suất của turbine thủy lực do dòng nước cung cấp và được xác định bằng biểu thức: NTB = 9,81.5) Trong đó: NTB : Công suất turbine (kW) η : Hiệu suất sử dụng cột nước của turbine Q: Lưu lượng dòng nước (m3/s) H: Chiều cao cột nước hiệu dụng (m) Từ công thức trên ta thấy có thể thay đổi η, Q hay H để điều chỉnh công suất của turbine nhưng tiện lợi và kinh tế nhất là điều chỉnh lưu lượng Q. Lưu lượng Q của một dòng nước qua tiết diện S được xác định theo biểu thức: Q = v.6) 9 Với: v : Vận tốc dòng chảy qua tiết diện S (m/s) S: Mặt cắt ngang dòng nước (m2 ) Ta tính vận tốc dòng nước như sau: v 2.7) Với: H: Độ cao cột nước, đó chính là chênh lệch mực nước hồ với hạ lưu turbine.
v : Vận tốc của dòng chảy khi ra khỏi đường ống.2 Ví dụ chênh áp cột nước Viết phương trình Becnuli cho hai mặt cắt (1-1) và (2-2) bỏ qua tổn thất và coi nước là chất lỏng lý tưởng, ta có: v12 p1 v2 p Z1 2 2 Z 2 (2) (1.g Trong đó: p1 = p2 =po: Áp suất khí trời v1 = 0: Vì thể tích hồ chứa rất lớn 10 γ : Trọng lượng riêng của nước Z 1, Z 2 :Độ cao mặt đang xét so với mặt chuẩn. (Z1 - Z2 = H) Thay vào phương trình [1.11) Vì độ cao cột nước H hầu như không đổi trong khoảng thời gian xét nên vận tốc dòng nước chảy qua turbine là không đổi. Vậy để điều chỉnh lưu lượng Q người ta phải thay đổi tiết diện dòng chảy khi ra khỏi đường ống. Tùy vào từng loại turbine mà có những biện pháp điều chỉnh lưu lượng khác nhau.
Đối với turbine tâm trục người ta thường thay đổi độ mở cánh hướng nước và góc quay của bánh xe công tác. Đối với turbine cánh gáo người ta vừa điều khiển kim phun và vừa điều khiển cánh hướng dòng. Vòi phun có tác dụng hướng dòng nước đến bánh xe công tác và để điều chỉnh lưu lượng cho phù hợp với yêu cầu phụ tải. Trong vòi phun có van kim (kim phun).
Nhờ có cơ cấu điều khiển van kim sẽ di chuyển dọc theo trục làm thay đổi tiết diện miệng vòi, do đó điều chỉnh được lưu lượng. Tóm lại, điều tốc cho turbine thủy lực là điều khiển lưu lượng nước vào turbine để giữ cho tốc độ quay turbine không đổi khi phụ tải thay đổi.4 Đặc tính điều chỉnh của turbine Phương trình đặc tính điều chỉnh của turbine biểu diễn mối quan hệ giữa tần số đối với công suất tác dụng của tổ máy như sau: (f0 - f) + Bp(P0 - P) = 0 (1.13) Trong đó: f : Tần số dòng điện máy phát f0 : Tần số định mức f0 =50Hz P : Công suất điện phát ra của tổ máy P0: Công suất đặt Có đặc tĩnh như đồ thị sau: Hình 1.