Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT& THIẾT BỊ BÙ TĨNH SVC 1. Tổng quan về ổn định hệ thống điện Sự ổn định hệ thống điện đó là tính chất hoặc khả năng của một hệ thống để duy trì trạng thái hoạt động cân bằng dưới điều kiện hoạt động bình thường và sẽ đạt được một trạng thái cân bằng chấp nhận được sau khi chịu một nhiễu loạn. Sự cân bằng phụ thuộc vào điều kiện vận hành ban đầu và mức độ nhiễu loạn. Mất ổn định điện áp là hiện tượng tụt giảm điện áp liên tục hoặc quá trình điện áp tăng cao liên tục khi cố gắng phục hồi công suất phụ tải vượt quá giới hạn khả năng của hệ thống nguồn phát điện và lưới truyền tải.
Sụp đổ điện áp là một quá trình xảy ra bởi một chuỗi các sự kiện đi kèm sự mất ổn định điện áp dẫn đến mất điện lớn, diện rộng hoặc điện áp giảm thấp bất thường tại vùng quan trọng của hệ thống. Sự phân loại các ổn định của hệ thống điện được trình bày cơ bản ở Hình 1. Ổn định hệ thống Ổn định góc Ổn định tần số Ổn định điện áp Ổn định góc - Ổn định quá độ Ổn định điện áp - Ổn định điện áp- Dao động bé Dao động lớn Dao động bé Thời gian ngắn Thời gian dài Thời gian ngắn nn Thời gian ngắn Thời gian dài Hình 1.1: Phân loại ổn định hệ thống điện 5 Luan van ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG T2019-TĐ46 TS. NGUYỄN NHÂN BỔN 1.
Ổn định góc rôto Ổn định góc rôto đề cập đến khả năng các máy phát trong cùng một hệ thống liên kết vẫn duy trì được đồng bộ sau khi chịu tác động của một dao động nhiễu loạn. Sự ổn định này là điều kiện cân bằng giữa hai lực đối nhau là công suất cơ đầu vào và công suất điện ở đầu ra của mỗi máy điện đồng bộ trong hệ thống điện. Mất ổn định có thể là kết quả xuất hiện bởi các góc lệch rôto của một số các máy phát hoặc một nhóm máy phát không đồng bộ với một số các máy phát khác. Ổn định tần số Ổn định tần số là khả năng của hệ thống điện giữ được tần số ổn định sau khi hệ thống điện có một nhiễu loạn lớn do mất cân bằng đủ lớn giữa nguồn phát và phụ tải.
Mất ổn định có thể là kết quả do tần số của hệ thống điện bị dao động dẫn đến việc cắt điện các tổ máy phát hoặc các phụ tải. Ổn định điện áp Ổn định điện áp của hệ thống điện là khả năng của một hệ thống điện khôi phục lại điện áp ban đầu hay lân cận ban đầu khi chịu các kích động nhỏ tại phụ tải. Ổn định điện áp về bản chất là một trạng thái động và bị tác động bởi việc kiểm soát điện áp và các đặc tính của tải dưới dạng biến thiên. Ổn định điện áp tĩnh (static voltage stability) là khả năng của hệ thống điện có thể giữ điện áp của các nút trong giới hạn cho phép so với điện áp định mức khi có các kích động nhỏ đến hệ thống như sự biến thiên liên tục công suất phụ tải.
Các kích động nhỏ này xảy ra liên tục nên ổn định tĩnh gắn liền với chế độ xác lập của hệ thống điện. Chỉ tiêu của ổn định tĩnh là sau khi có kích động nhỏ tới hệ thống thì điện áp tại mọi thanh cái nhận điện cùng tăng hoặc cùng giảm tương ứng với công suất phản kháng cấp vào thanh cái đó. Cụ thể hơn, hệ thống có ổn định tĩnh nếu và ngược lại thì hệ thống không đạt chỉ tiêu ổn định tĩnh. Ổn định động (dynamic voltage stability) là khả năng của hệ thống điện có thể giữ điện áp của các nút trong giới hạn cho phép so với điện áp định mức khi có các kích động lớn đến hệ thống như sự cố mất máy phát, đường dây công suất lớn.
6 Luan van ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG T2019-TĐ46 TS. NGUYỄN NHÂN BỔN Chỉ tiêu của ổn định động là sau khi có kích động lớn tới hệ thống là điện áp tại tất cả các thanh cái nhận điện đều nằm trong giới hạn cho phép so với điện áp định mức. Giả sử một hệ thống điện đang ở trạng thái ổn định. Khi có thay đổi nào đó trong hệ thống điện thì hệ thống sẽ xuất hiện quá trình dao động, nếu dao động lớn thì hệ thống điện có thể rời khỏi trạng thái cân bằng lúc trước và xuất hiện quá trình quá độ để thiết lập lại trạng thái ổn định mới với điểm vận hành ổn định mới, nếu sự thay đổi là liên tục (ví dụ như phụ tải tăng dần) thì quá trình thiết lập phải xác định được điểm vận hành ổn định mới vì điểm này luôn thay đổi.
Đây chính là mục tiêu mong muốn khi vận hành hệ thống điện. Tuy nhiên, hệ thống điện có thể mất ổn định khi sự thay đổi trong hệ thống dẫn đến không có điểm vận hành ổn định nữa. Vì không tồn tại điểm vận hành ổn định mới nên hệ thống sẽ xảy ra một quá trình quá độ phức tạp. Quá trình này bắt đầu bằng việc điện áp sụt giảm chậm và sau đó là giảm nhanh do có các thay đổi khác xảy ra theo trong hệ thống.
Điều này dẫn đến sự sụt giảm điện áp liên tục và hệ thống điện bị tan rã. Các phương pháp đánh giá sự ổn định điện áp của hệ thống điện Đánh giá ổn định của các hệ thống có hai phương pháp đánh giá [6]: - Phương pháp trực tiếp (direct method): phương pháp này xác định ổn định động mà không cần giải quyết các phương trình vi phân. Nó dựa trên cơ sở được gọi là hàm năng lượng. Phương pháp hàm năng lượng được xem là trường hợp đặc biệt của phương pháp Lyapunov tổng quát hơn.
Hiện nay phương pháp này đã được nghiên cứu rất đầy đủ. Tuy nhiên nó vẫn còn giới hạn bởi mô hình hoá và kỹ thuật tính toán không tin cậy đặc biệt trong vùng lân cận điểm mất ổn định đối với hệ thống nhiều máy. Phương pháp này có ưu điểm là tính toán nhanh, thuận tiện cho bài tính trực tuyến. - Phương pháp gián tiếp (indirect method): phương pháp này dựa trên các phương trình mô hình hoá các phần tử trong hệ thống bằng các phương trình vi phân.
Dĩ nhiên do tính phi tuyến nên không có phương pháp giải trực tiếp mà phải giải bằng các phương pháp số và lặp hoặc tuyến tính hoá lân cận điểm ổn định. 7 Luan van ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG T2019-TĐ46 TS. NGUYỄN NHÂN BỔN Phương pháp này có ưu điểm là các phần tử trong hệ thống có thể mô tả chính xác theo như nó có thể (có bộ điều khiển kích từ, điều tốc, các hoạt động bộ bảo vệ v.Tuy nhiên nó cần nhiều thời gian để tính toán. Do đó nó sẽ được ưu tiên trong các nghiên cứu qui hoạch hoặc phân tích sự cố.
Đối với giới hạn của đề tài này, phương pháp gián tiếp được sử dụng để xem xét sử dụng thiết bị bù nâng cao ổn định điện áp của hệ thống. Mô hình hệ thống điện - Không gian trạng thái Theo [7], trạng thái của một hệ thống động như hệ thống điện, có thể mô tả bởi tập n phương trình vi phân bậc nhất phi tuyến có dạng sau: xɺ i f i ( x 1 , x 2 ,.1) Trong đó: - n: là số biến của hệ thống. - r : số biến điều khiển. hệ phương trình trên viết lại dưới dạng ma trận như sau: xɺ f i ( x , u , t ) (1.x n ) là véc tơ trạng thái của hệ thống T - u (u 1 , u 2 ,.u r ) là véc tơ đầu vào (biến điều khiển) của hệ thống T - f (f1 , f 2 ,.f n ) Trong trường hợp đạo hàm của các biến trạng thái không là một hàm explicit thì hệ thống gọi là hệ thống autonomous.
Khi đó phương trình trên có thể viết đơn giản lại là: xɺ f i ( x , u ) (2.3) Ngoài ra đôi khi ta quan tâm một số biến đầu ra quan hệ đại số với các biến trạng thái và biến điều khiển có thể diển tả dưới dạng: y g(x, u ) (2.4) Trong đó: 8 Luan van ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG T2019-TĐ46 TS. NGUYỄN NHÂN BỔN T - y ( y1 , y 2 ,.y m ) là véc tơ biến đầu ra (output) của hệ thống.g m ) Cụ thể như sau, với hệ thống máy điện đồng bộ và bộ kích từ dạng IEEE-loại 1 các phương trình mô tả hệ thống có thể viết nhau: Các phương trình vi phân về kích từ và điều tốc: d i i s dt (2.5) ' ' ' ' di TMi [E qi X di I di ]I qi [E di X qi I qi ]I di Di (i s ) dt Mi Mi Mi Mi (2.6) dE 'qi E'qi[X di X 'di ]I di ] E 'fdi dt T ' d 0i T' doi T'doi (2.7) dE 'di E' I qi di (X qi X' qi ) dt T' q 0i T' qoi (2.8) dE 'fdi K S E (E fdi ) V Ei E fdi Ri dt TEi TEi (2.9) dVRi V K K K K Ri Ai R fi Ai Fi E fdi Ai (Vrefi Vi ) dt TAi TAi TAi TFi TAi (2.10) dR Fi R K Fi Fi E fdi dt TFi (TFi ) 2 (2.11) Các phương trình đại số stator: E 'di Vi sin( i i ) R si I di X 'qi I qi 0 (2.12) E 'qi Vi cos( i i ) R si I qi X 'di I di 0 (2.13) Các phương trình hệ thống: 9 Luan van ĐỀ TÀI CẤP TRƯỜNG T2019-TĐ46 TS. NGUYỄN NHÂN BỔN n I di Vi sin( i i ) I qi Vi cos( i i ) PLi (Vi ) Vi Vk Yik cos(i k ik ) 0 k 1 (1.14) n I di Vi cos( i i ) I qi Vi sin( i i ) Q Li (Vi ) Vi Vk Yik sin(i k ik ) 0 k 1 (1. Điểm cân bằng (Equibibrium or singular points) Điểm cân bằng là điểm mà tại đó tất cả các đạo hàm xɺ 1 , xɺ 2 ,.xɺ n là đồng thời bằng không.
Hệ thống được xem là dừng bởi vì tất cả các biến bằng hằng số và không thay đổi theo thời gian.