CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Lý do chọn đề tài Trong vài năm trở lại đây được sự quan tâm khuyến khích từ Chính phủ về đầu tư phát triển các nguồn năng lượng tái tạo để giảm sức ép cho các nhà máy điện đang vận hành bằng nguyên liệu hóa thạch cụ thể là Quyết định số 39/2018/QĐ-TTg ngày 10/9/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 37/2011/QĐ-TTg ngày 29/6/2011 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện gió tại Việt Nam[1]; Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam[2], Quyết định số 02/2019/QĐ-TTg ngày 08/01/2019 sửa đổi bổ sung một số điều của Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ[3], Thông tư số 16/2017/TT-BCT ngày 12/9/2017 về “quy định về phát triển dự án và Hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời”[4], Thông tư số 05/2019/TT-BCT ngày 11/3/2019 “sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 16/2017/TT-BCT” của Bộ Trưởng Bộ Công Thương (Áp dụng giá điện FIT 1 từ ngày 01/6/2017 đến hết ngày 30/6/2019)[5] và Quyết định số 13/2020/QĐ- TTg ngày 06/4/2020 của Chính phủ về cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam[6]; Thông tư 18/2020/TT-BCT ngày 17/7/2020 của Bộ Công Thương quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời[7], Văn bản số 7088/BCT-ĐL ngày 22/9/2020 của Bộ Công Thương về việc hướng dẫn các vướng mắc thực hiện phát triển điện mặt trời mái nhà (Áp dụng giá điện FIT 2 từ ngày 01/7/2019-31/12/2020)[8]. Dưới sức ép đầu tư ồ ạt các nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió, hệ thống điện (HTĐ) đối mặt với thách thức lớn về việc đảm bảo yêu cầu chất lượng điện năng, tổn thất điện năng, thông số phối hợp bảo vệ, dòng ngắn mạch, thay đổi vị trí dừng lưới tối ưu…. Điều này chủ yếu là do tính chất không liên tục của các nguồn năng lượng tái tạo.
Ví dụ, năng lượng mặt trời phụ thuộc vào bức xạ mặt trời và năng lượng gió phụ thuộc vào tốc độ gió. Từ ngày 01/6/2017 đến ngày 31/12/2020, các hệ thống điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN) phát triển rất nhanh và đấu nối vào lưới điện phân phối. Việc phát triển ĐMTMN cũng đã góp phần hỗ trợ việc đảm bảo khả năng cung cấp điện cho khách 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Liêm HVTH: Lý Văn Tịnh hàng nhưng bên cạnh đó việc phát triển quá nhanh và tập trung vào một số khu vực có tiềm năng bức xạ cao cũng tạo ra những vấn đề gây khó khăn trong công tác quản lý kỹ thuật, quản lý vận hành như: Dự báo khả năng phát của điện mặt trời, chất lượng điện năng không đảm bảo (điện áp, sóng hài, hiện tượng nhấp nháy điện áp, …), tổn thất điện năng bất thường, thay đổi dòng ngắn mạch, thiết bị bảo vệ hoạt động bất thường, thiết bị bù hoạt động không chính xác, vị trí dừng lưới tối ưu thay đổi… 1. Hướng tiếp cận của đề tài Vận hành hệ thống điện với tỉ lệ xâm nhập cao của nguồn năng lượng tái tạo là một vấn đề không mới với các nước phát triển mạnh nguồn năng lượng tái tạo như: Mỹ, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Bỉ, Út, Tây Ban Nha, Pháp… nhưng với nước ta thì mới bắt đầu phát sinh khi nguồn điện gió và năng lượng mặt trời phát triển mạnh từ cuối năm 2019 khi áp dụng giá điện FIT 2 từ ngày 01/7/2019 - 31/12/2020.
Hiện nay, các nước phát triển có rất nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của điện mặt trời và gió đến hệ thống điện nhưng các giải pháp đưa ra chỉ phù hợp với môi trường đặt thù thuộc lưới điện của họ, chi phí để triển khai khá cao và cần đầy đủ cơ sở pháp lý. Luận văn này tập trung vào việc xác định các vấn đề kỹ thuật cho lưới điện phân phối với tỉ lệ xâm nhập cao của nguồn năng lượng mặt trời. Từ đó chọn ra ba vấn đề có tính cấp thiết và đề ra giải pháp khắc phục. Đó là: Quá áp, bù công suất phản kháng và điểm dừng lưới tối ưu.
Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài 1. Phạm vi thực hiện đề tài Luận văn được thực hiện trong phạm vi nghiên cứu sau đây: Các vị trí hệ thống điện mặt trời mái nhà trên xuất tuyến 22kV của lưới điện tỉnh Tây Ninh đã lắp đặt từ cuối năm 2019 khi áp dụng giá điện FIT 2 từ ngày 01/7/2019 - 31/12/2020 và công suất mặt trời lắp đặt tại các thống điện mặt trời mái nhà theo hiện trạng đang vận hành. Xác định các vấn đề kỹ thuật đang tồn tại trên các xuất tuyến 22kV của tỉnh Tây Ninh với tỉ lệ xâm nhập cao của nguồn điện mặt trời mái nhà cụ thể tuyến 475 và 477 trạm 110kV Tân Hưng. 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Liêm HVTH: Lý Văn Tịnh Đề xuất giải pháp khắc phục cho 3 vấn đề cấp thiết: Quá áp, bù công suất phản kháng, điểm dừng lưới tối ưu và mô phỏng để đánh giá hiệu quả của các giải pháp.
Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, các phương pháp nghiên cứu sau đây đã được sử dụng: Thực hiện phân tích số liệu thu thập được từ các phần mềm đo ghi xa, phần mềm theo dõi thông số vận hành các trạm biến áp 110kV, phần mềm SCADA/DMS nhằm xác định các vấn đề kỹ thuật đang tồn tại trên các xuất tuyến 22kV của tỉnh Tây Ninh với tỉ lệ xâm nhập cao của nguồn điện mặt trời mái nhà cụ thể tuyến 475 và 477 trạm 110kV Tân Hưng. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết để đưa ra giải pháp giải quyết 3 vấn đề cấp thiết: Quá áp, bù công suất phản kháng và điểm dừng lưới tối ưu. Thực hiện mô phỏng xuất tuyến 475, 477 trạm 110kV Tân Hưng trước và sau khi áp dụng giải pháp bằng phần mềm ETAP để đánh giá giải pháp đề xuất trong đề tài luận văn này là hiệu quả và có thể áp dụng vào lưới điện thực tế. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Luận án có ý nghĩa về mặt khoa học, thể hiện qua các yếu tố sau đây: Xác định và phân tích dữ liệu thu thập được từ các phần mềm Công ty Điện lực Tây Ninh đang sử dụng để vận hành lưới điện thực tế nhằm tìm ra các vấn đề kỹ thuật đang tồn tại trên lưới điện. Sử dụng cơ sở lý thuyết để đưa ra giải pháp nhằm giải quyết 3 vấn đề cấp thiết: Quá áp, bù công suất phản kháng và điểm dừng lưới tối ưu. Ứng dụng các phần mềm mô phỏng để đánh giá hiệu quả của các giải pháp để đề xuất triển khai thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Ngoài ý nghĩa khoa học nêu trên, Luận án cón có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong vận hành lưới điện phân phối.
Luận án chỉ ra các vấn đề kỹ thuật đang tồn tại trên lưới điện phân phối khi tỉ lệ xâm nhập của nguồn điện mặt trời mái nhà ngày càng cao và đề ra giải pháp nhằm 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Liêm HVTH: Lý Văn Tịnh giải quyết các vấn đề đó góp phần vận hành lưới điện phân phối tỉnh Tây Ninh được hiệu quả, ổn định và tin cậy. Kết quả mong muốn Sau khi hoàn thành, đề tài sẽ đạt được các kết quả mong muốn sau đây: Nhận dạng đầy đủ các vấn đề thực tế đang tồn tại trên lưới điện khi tỉ lệ xâm nhập của nguồn điện mặt trời mái nhà cao. Tìm ra đúng các nguyên nhân gây ra các 3 vấn đề cấp thiết: Quá áp, bù công suất phản kháng và điểm dừng lưới tối ưu trên lưới điện phân phối chưa giải quyết được. Đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết 3 vấn đề cấp thiết: Quá áp, bù công suất phản kháng và điểm dừng lưới tối ưu đang vướng mắc trên lưới điện phân phối với tỉ lệ xâm nhập cao của nguồn điện mặt trời mái nhà.
Áp dụng vào thực tế mang lại hiệu quả cao. Định hướng phát triển đề tài nhằm tiếp tục giải quyết các vấn đề còn lại mà luận văn chưa có đủ thời gian thực hiện. 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Liêm HVTH: Lý Văn Tịnh CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ LƯỚI ĐIỆN TỈNH TÂY NINH 2. Nguồn điện Hiện nay, nguồn điện chính cung cấp cho tỉnh Tây Ninh từ trạm 500/220kV Cầu Bông (2x900MVA) và một phần từ trạm 500/220kV Tân Định (2x3x300MVA)[9].
Ngoài nguồn điện chính nêu trên, trên địa bàn tỉnh hiện có các nguồn điện năng lượng tái tạo đấu nối lưới 220kV gồm: Nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng 1 và Dầu Tiếng 2 (công suất là 150+200MW) [9]. Bên cạnh 2 nhà máy điện mặt trời nối lưới 220kV, tổng nguồn điện đấu nối lưới điện do Công ty Điện lực Tây Ninh quản lý là 588MW[9] trong đó: - Thủy điện nhỏ đấu nối lưới trung áp 3 MW chiếm 0,5% cụ thể: Nhà máy thủy điện Dầu Tiếng DO1 (1,5MW) [9], Nhà máy thủy điện Dầu Tiếng CS2 (1,5MW) [9]. - Nhà mái điện mặt trời nối lưới 110kV: 308MW chiếm 52,4% cụ thể: Nhà máy điện mặt trời Hoàng Thái Gia và HCG Tây Ninh (công suất là 50+50MW), nhà máy điện mặt trời KCN Thành Thành Công số 1 và số 2 (công suất là 48+50MW), nhà máy điện mặt trời Bách khoa Á Châu 1 (công suất là 30MW), nhà máy điện mặt trời Trí Việt 1 (công suất là 30MW), nhà máy điện mặt trời Tân Châu 1 (công suất là 50MW) [9]. - Điện mặt trời mái nhà nối lưới trung áp: 185,9MW[9] chiếm 31,6%.
- Điện mặt trời mái nhà nối lưới hạ áp: 59,6MW[9] chiếm 10,1%. - Sinh khối đấu lưới 110kV 31,5MW[9] chiếm 5,4%. - Hiện trạng mặt trời mái nhà theo từng Điện lực trực thuộc Công ty Điện lực Tây Ninh như sau: Bảng 2.1: Hiện trạng mặt trời mái nhà theo từng Điện lực[9] Số khác hàng Công suất (MWp) STT Đơn vị Sinh hoạt Ngoài SH Tổng Sinh hoạt Ngoài SH Tổng 1 Thành Phố Tây Ninh 865 149 1.014 15,21 18,29 33,50 2 Gò Dầu 209 52 261 3,30 11,07 14,37 3 Trảng Bàng 214 90 304 3,25 27,63 30,88 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ GVHD: PGS.TS Nguyễn Văn Liêm HVTH: Lý Văn Tịnh Số khác hàng Công suất (MWp) STT Đơn vị Sinh hoạt Ngoài SH Tổng Sinh hoạt Ngoài SH Tổng 4 Tân Châu 441 224 665 8,02 96,74 104,76 5 Châu Thành 346 88 434 7,24 30,40 37,64 6 Dương Minh Châu 292 93 385 5,65 19,48 25,13 7 Tân Biên 175 80 255 3,65 17,02 20,68 8 Hoà Thành 621 98 719 11,60 10,08 21,68 9 Bến Cầu 169 77 246 3,18 14,50 17,68 Công ty 3.