Tổng quan nghiên cứu

Vi rút Hanta (Hantavirus) thuộc họ Bunyaviridae là tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm từ động vật sang người, dẫn đến hai thể bệnh lâm sàng nghiêm trọng gồm sốt xuất huyết hội chứng thận (HFRS) và hội chứng phổi do vi rút Hanta (HPS) với tỷ lệ tử vong dao động từ 35% đến 50%. Trên thế giới, mỗi năm ghi nhận hàng chục nghìn ca mắc Hantavirus, trong đó khu vực Đông Á chiếm tới 90% tổng số ca HFRS. Tại Việt Nam, các khảo sát dịch tễ học cho thấy tỷ lệ chuột mang kháng thể kháng vi rút Hanta đạt từ 14% đến 34%, trong khi tỷ lệ người có kháng thể dương tính tại thủ đô Hà Nội là khoảng 5,4% và bệnh nhân nghi nhiễm tại miền Nam lên đến 11,5%.

Mặc dù nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng rất lớn thông qua khí dung chất thải hoặc vết cắn của động vật gặm nhấm, công tác giám sát dịch tễ học và chẩn đoán căn nguyên vi rút Hanta tại nước ta trước đây chủ yếu dựa vào kỹ thuật huyết thanh học, vốn tiềm ẩn nguy cơ phản ứng chéo và không định danh được chính xác loài vi rút lưu hành. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết về y tế dự phòng, luận văn tập trung thực hiện hai mục tiêu cụ thể: tối ưu hóa kỹ thuật RT-PCR (Reverse Transcriptase - Polymerase Chain Reaction) đơn bước để phát hiện vi rút Hanta trên chuột, và ứng dụng quy trình này để tầm soát sự lưu hành của mầm bệnh trên mẫu mô phổi chuột tại 7 địa điểm trọng điểm thuộc 4 quận ở Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2017. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập công cụ chẩn đoán sinh học phân tử có giới hạn phát hiện đạt 10 mũ 3 bản sao trên một phản ứng, cung cấp dữ liệu dịch tễ học phân tử chuẩn xác phục vụ công tác kiểm soát dịch bệnh chủ động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết phân loại vi rút học của Ủy ban Quốc tế về Phân loại Vi rút (ICTV) và mô hình lan truyền bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người (Zoonosis). Hệ thống lý thuyết phân chia Hantavirus thành hai nhóm chính tương ứng với nguồn gốc địa lý và biểu hiện bệnh học: nhóm Cựu Thế Giới (Old World) phân bố chủ yếu ở châu Á, châu Âu gây thể HFRS và nhóm Tân Thế Giới (New World) phân bố ở châu Mỹ gây thể HPS.

Hệ gen của vi rút Hanta là sợi ARN đơn âm phân đoạn gồm 3 đoạn kích thước: đoạn lớn L mã hóa cho enzym ARN polymerase phụ thuộc ARN (RdRp), đoạn nhỏ S mã hóa cho protein nucleocapsid (N), và đoạn trung bình M mã hóa cho phức hợp glycoprotein vỏ tiền thân (GPC) sau đó phân cắt thành G1 và G2. Khung lý thuyết phân tử xác định vùng nucleotide từ vị trí 1936 đến 2353 trên đoạn gen M có tính bảo tồn rất cao giữa các phân loài Hantavirus, đặc biệt chứa mô típ axit amin WAASA (vị trí 644 đến 648). Đoạn gen đích dài 418 cặp bazơ này được chứng minh là cơ sở dữ liệu tối ưu nhất cho việc định loại, phân tích tiến hóa và xây dựng cây phát sinh chủng loại tương đương với việc sử dụng toàn bộ trình tự hệ gen.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập mẫu chuột thực địa bằng phương pháp đặt bẫy lồng tại 7 điểm giám sát thường quy thuộc 4 quận nội ngoại thành Hà Nội, bao gồm bến xe vận tải Nam Hà Nội, ga Giáp Bát, chợ Thành Công, chợ Thái Hà, nhà máy bia Hà Nội, bệnh viện Đống Đa và bệnh viện Hà Đông. Tại mỗi điểm, 50 bẫy lồng được bố trí liên tục trong 3 đêm, thu mẫu vào sáng sớm để đảm bảo chuột sống và chất lượng bệnh phẩm tươi nguyên. Động vật bắt được trải qua quy trình phân loại hình thái học dựa trên kích thước sọ, chiều dài thân đuôi và đặc điểm bộ lông trước khi gây mê giải phẫu lấy mẫu mô phổi bảo quản ở nhiệt độ âm 80 độ C. Cỡ mẫu thu thập liên tục trong 3 năm từ 2015 đến 2017 đảm bảo tính đại diện cao cho quần thể gặm nhấm đô thị.

Quy trình xét nghiệm phân tử lựa chọn phương pháp RT-PCR đơn bước (OneStep RT-PCR) sử dụng cặp mồi đặc hiệu SEO-MF 1936 và SEO-MR 2353. Phương pháp này được lựa chọn thay thế cho phân lập vi rút sống vì giảm thiểu thời gian thực hiện, tiết kiệm chi phí và không yêu cầu điều kiện nghiêm ngặt của phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3 hoặc cấp độ 4. Mẫu chứng dương là ARN chuẩn chủng Seoul virus Gou3 nồng độ 10 mũ 7 bản sao trên microlit do Đại học Hokkaido cung cấp; chứng âm là mô phổi chuột nhắt trắng Swiss sạch bệnh. Mẫu mô được nghiền tự động bằng máy Mini-Beadbeater với hạt thủy tinh 0,1 mm, tách chiết ARN tổng số qua cột lọc silica, kiểm tra độ tinh sạch qua tỷ lệ quang phổ A260 trên A280 đạt ngưỡng chuẩn 1,1 trên máy Nanodrop. Dữ liệu trình tự gen Sanger từ hệ thống ABI 3100-Avant được phân tích so sánh bằng phần mềm MEGA 7 và DNA Star để khẳng định mẫu thực địa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thực nghiệm đã tối ưu hóa thành công các thông số kỹ thuật then chốt của phản ứng RT-PCR:

  • Nhiệt độ bắt cặp mồi tối ưu được xác định chính xác ở mức 52 độ C. Tại nhiệt độ này, sản phẩm khuếch đại cho băng điện di kích thước 418 cặp bazơ sáng rõ, sắc nét nhất và hoàn toàn không xuất hiện băng phụ hay ADN tạp khi so sánh với các mức nhiệt độ 50, 55 và 58 độ C.
  • Chu trình nhiệt chính đạt hiệu suất cao nhất ở 35 chu kỳ khuếch đại với thời gian kéo dài chuỗi 1 phút tại 72 độ C và thời gian kết thúc phản ứng 10 phút. Thiết lập này giúp rút ngắn 15% thời gian vận hành máy so với chu trình 40 chu kỳ nhưng vẫn đảm bảo mật độ sản phẩm ADN đích đậm đặc.
  • Giới hạn phát hiện (LOD) của quy trình đạt ngưỡng 10 mũ 3 bản sao trên một phản ứng, tương đương độ pha loãng 10 mũ trừ 5 từ nồng độ mẫu chuẩn ban đầu.
  • Độ đặc hiệu phân tử đạt 100%, không xảy ra bất kỳ hiện tượng khuếch đại chéo nào với các tác nhân vi rút ARN truyền qua chân đốt phổ biến tại Việt Nam gồm vi rút viêm não Nhật Bản và cả 4 týp vi rút Dengue (D1, D2, D3, D4). Độ lặp lại nội phản ứng và ngoại phản ứng đạt sự đồng nhất 100% qua 3 lần thử nghiệm lặp lại.
  • Tầm soát thực địa đã phát hiện sự lưu hành của vi rút Hanta trên các cá thể chuột cống thu thập tại các khu vực đông dân cư. Phân tích phả hệ di truyền đoạn gen M của các chủng phân lập năm 2015 và 2016 cho thấy độ tương đồng nucleotide và axit amin đạt trên 95% so với các chủng vi rút Seoul tham chiếu tại khu vực châu Á.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả khuếch đại vượt trội của quy trình chứng minh cặp mồi SEO-MF và SEO-MR bám dính rất ổn định trên vùng bảo tồn của gen mã hóa glycoprotein G2. Giới hạn phát hiện 10 mũ 3 bản sao là chỉ số kỹ thuật lý tưởng, cho phép phát hiện sớm các cá thể chuột mang vi rút ngay cả trong giai đoạn tải lượng mầm bệnh trong mô phổi còn thấp hoặc ở thể nhiễm mạn tính không triệu chứng.

Dữ liệu điều tra thực địa có thể được trình bày và trực quan hóa rất hiệu quả thông qua hệ thống bảng biểu so sánh tỷ lệ nhiễm theo từng loài gặm nhấm, kết hợp biểu đồ cột biểu diễn biến thiên tỷ lệ chuột nhiễm vi rút theo các tháng trong năm. Việc phân bố chuột nhiễm vi rút Hanta được thể hiện rõ nét trên bản đồ không gian dịch tễ học tại 7 địa bàn khảo sát, phản ánh sự tích tụ mầm bệnh tại các đầu mối giao thông như ga Giáp Bát và bến xe vận tải, nơi có mật độ loài Rattus norvegicus cư trú cao. Cây phát sinh chủng loại xây dựng theo thuật toán Neighbor-Joining với giá trị lặp lại bootstrap 1000 lần đã phân nhóm chính xác các chủng vi rút tại Hà Nội vào nhánh tiến hóa của vi rút Seoul (SEOV). Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, khẳng định chuột cống đô thị chính là ổ chứa tự nhiên chủ yếu duy trì mầm bệnh Hantavirus trong môi trường sống của người dân thủ đô.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả thực nghiệm và dữ liệu dịch tễ thu được, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Chuẩn hóa và chuyển giao quy trình kỹ thuật RT-PCR: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) Hà Nội cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành cần ban hành tài liệu hướng dẫn kỹ thuật chuẩn (SOP), tổ chức tập huấn kỹ thuật xét nghiệm RT-PCR đoạn gen M cho 100% cán bộ phòng xét nghiệm vi sinh tại các trung tâm y tế dự phòng trong thời gian 6 tháng tới.

  2. Thiết lập mạng lưới giám sát dịch tễ học định kỳ trên động vật gặm nhấm: Chi cục Thú y phối hợp với ngành y tế dự phòng triển khai bẫy bắt và xét nghiệm định kỳ tối thiểu 200 mẫu chuột mỗi quý tại 100% các điểm nút giao thông, chợ đầu mối và khu vực xử lý rác thải lớn trên địa bàn thành phố, duy trì cảnh báo sớm trước 30 ngày đối với nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

  3. Nâng cấp cơ sở hạ tầng và an toàn sinh học phòng xét nghiệm: Các cơ sở y tế cần đầu tư trang bị đồng bộ máy nghiền mô kín tự động, hệ thống máy PCR hiện đại và tủ an toàn sinh học, đảm bảo 100% các đơn vị thực hiện chẩn đoán đáp ứng tiêu chuẩn an toàn sinh học cấp độ 2 trở lên theo quy định hiện hành trong vòng 12 tháng.

  4. Triển khai chiến dịch vệ sinh môi trường và kiểm soát quần thể chuột: Ủy ban nhân dân các quận, huyện phối hợp cùng ngành y tế phát động chiến dịch diệt chuột đồng loạt 2 lần mỗi năm vào các thời điểm giao mùa, kết hợp truyền thông nâng cao nhận thức cho trên 80% hộ dân tại các vùng có nguy cơ cao về các biện pháp che đậy thức ăn, vệ sinh nhà cửa và sử dụng bảo hộ khi dọn dẹp kho bãi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Tài liệu luận văn là nguồn tư liệu khoa học giá trị, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ xét nghiệm và nghiên cứu viên vi sinh y học: Cung cấp đầy đủ thông số kỹ thuật chi tiết về nhiệt độ gắn mồi 52 độ C, chu trình 35 chu kỳ nhiệt và phương pháp tách chiết mô mỡ phức tạp, giúp ứng dụng ngay vào quy trình chẩn đoán vi rút ARN thực tế.
  • Chuyên gia dịch tễ học và y tế công cộng: Cung cấp bức tranh tổng thể về dịch tễ học Hantavirus tại Hà Nội, làm cơ sở xây dựng mô hình dự báo không gian và đánh giá nguy cơ lây truyền mầm bệnh từ động vật hoang dại sang người.
  • Giảng viên, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sinh học thực nghiệm, Công nghệ sinh học: Tài liệu mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu phân tử, kỹ thuật kiểm tra quang phổ A260 trên A280 đạt chuẩn 1,1 và ứng dụng phần mềm tin sinh học MEGA 7 trong phân tích cây phả hệ di truyền.
  • Cơ quan quản lý y tế và lãnh đạo ban ngành dự phòng: Tham khảo dữ liệu về hơn 21 loài Hantavirus và phân bố thực địa tại 7 địa bàn trọng điểm để hoạch định chính sách phân bổ nguồn lực và xây dựng kế hoạch ứng phó y tế công cộng hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Kỹ thuật RT-PCR trong luận văn có ưu điểm gì vượt trội so với phương pháp huyết thanh học ELISA? RT-PCR khuếch đại trực tiếp vật liệu di truyền ARN của vi rút với độ đặc hiệu đạt 100%, cho phép phát hiện mầm bệnh ngay từ giai đoạn 1 đến 7 ngày đầu khi cơ thể vật chủ chưa kịp sinh kháng thể, loại trừ hoàn toàn nguy cơ dương tính giả do phản ứng chéo giữa các serotype khác nhau của Hantavirus.

Tại sao nghiên cứu lại chọn đoạn gen M dài 418 cặp bazơ thay vì đoạn gen S hay L? Đoạn gen M mã hóa phức hợp glycoprotein vỏ G1 và G2, chứa mô típ WAASA và vùng nucleotide từ vị trí 1936 đến 2353 có tính biến dị phù hợp để phân loại dưới nhóm. Đoạn gen này được các nghiên cứu quốc tế chứng minh là có giá trị tương đương toàn bộ hệ gen trong việc định danh kiểu gen và dựng cây gia hệ với độ tin cậy bootstrap 1000 lần.

Giới hạn phát hiện 10 mũ 3 bản sao trên một phản ứng có ý nghĩa gì trong thực tế? Mức phát hiện 10 mũ 3 copies trên phản ứng chứng tỏ phương pháp có độ nhạy rất cao, phát hiện được vi rút ngay cả trong các mẫu mô phổi có nồng độ ARN thấp hoặc mẫu bệnh phẩm chuột ở giai đoạn nhiễm trùng mạn tính, giúp ngăn ngừa triệt để tình trạng âm tính giả.

Vi rút Hanta lây truyền sang người chủ yếu qua những con đường nào? Phương thức lây truyền chủ yếu chiếm trên 90% các ca bệnh là qua đường hô hấp do hít phải các hạt khí dung chứa chất thải như phân, nước tiểu, nước bọt của chuột nhiễm bệnh. Ngoài ra, vi rút có thể lây qua vết cắn trực tiếp hoặc tiếp xúc chất thải qua vết thương hở trên da.

Tại sao nghiên cứu lại tập trung lấy mẫu tại các chợ, nhà ga và bến xe? Các khu vực bến xe vận tải, ga Giáp Bát và chợ dân sinh là nơi tập trung mật độ cao của loài chuột cống Rattus norvegicus do nguồn thức ăn dồi dào và nhiều nơi ẩn nấp. Sự giao lưu hàng hóa và mật độ người qua lại đông đúc tại đây tạo ra rủi ro tiếp xúc và bùng phát dịch bệnh cao nhất.

Kết luận

  • Luận văn đã tối ưu hóa thành công quy trình kỹ thuật RT-PCR đơn bước phát hiện vi rút Hanta với nhiệt độ bắt cặp mồi 52 độ C, số chu kỳ nhiệt 35 chu kỳ và thời gian kéo dài chuỗi 1 phút.
  • Phương pháp đạt độ đặc hiệu tuyệt đối 100%, không phản ứng chéo với 4 týp vi rút Dengue và vi rút viêm não Nhật Bản, giới hạn phát hiện đạt ngưỡng nhạy 10 mũ 3 bản sao trên một phản ứng.
  • Hoàn thành điều tra dịch tễ học thực địa tại 7 địa điểm thuộc Hà Nội trong giai đoạn 2015 đến 2017, khẳng định sự lưu hành của vi rút Hanta trên quần thể chuột cống đô thị.
  • Phân tích di truyền phân tử đoạn gen M kích thước 418 cặp bazơ xác nhận các chủng phân lập tại Hà Nội thuộc phân loài vi rút Seoul có độ tương đồng trên 95% với các chủng trong khu vực châu Á.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và công cụ kỹ thuật thực nghiệm vững chắc cho công tác giám sát chủ động dịch bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người.

Trong giai đoạn 12 đến 24 tháng tới, quy trình RT-PCR cần được mở rộng ứng dụng trên các mẫu bệnh phẩm lâm sàng người nghi nhiễm sốt xuất huyết hội chứng thận tại các bệnh viện tuyến đầu. Các cơ quan y tế dự phòng và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp quy trình kỹ thuật này nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi.