chương 1 cũng chỉ ra các lĩnh vực mà việc học cộng tác áp dụng vào. Lịch sử phát triển của học cộng tác Ba dự án đầu tiên - Dự án ENFI tại Đại học Gallaudet, Dự án CSILE tại Đại học Toronto, và Dự án Chiều không gian Thứ năm tại Đại học California, San Diego (UCSD) - chính là tiền thân cho những gì sau đó được coi là các lĩnh vực của CSCL. Cả ba dự án này đều liên quan đến việc thăm dò các phương pháp sử dụng công nghệ nhằm cải thiện việc học tập liên quan đến đọc viết. Dự án ENFI đã tạo ra một số ví dụ đầu tiên về các chương trình dành cho thành phần có hỗ trợ bởi máy tính.
Các sinh viên theo học tại Gallaudet đều bị điếc hoặc khiếm thính; rất nhiều sinh viên như vậy đã vào đại học với các khiếm khuyết trong kỹ năng giao tiếp bằng văn bản Các công nghệ được phát triển vào lúc đó, mặc dù cũng được xem là tiến bộ, lại có vẻ thô sơ theo như tiêu chuẩn ngày nay. Các lớp học đặc biệt đã được xây dựng sao cho các bàn học chứa máy tính sẽ được sắp xếp thành một vòng tròn. Một phần mềm tương tự các chương trình trò chuyện ngày nay đã được xây dựng để giúp sinh viên và giáo viên có thể thực hiện các cuộc thảo luận bằng văn bản. Công nghệ sử dụng trong dự án ENFI được thiết kế nhằm hỗ trợ một hình thức tạo ra ý nghĩa mới bằng cách đưa ra một phương tiện truyền tải dưới hình thức văn bản mới.
Một dự án có ảnh hưởng từ rất sớm khác đã được thực hiện bởi Bereiter và Scardamalia tại trường Đại học Toronto. Họ đã lo ngại rằng việc học tập tại trường lớp thường hời hợt và kém năng động. Trong Dự án CSILE (Computer Supported Intentional Learning Environment - Môi trường học tập dưới sự hỗ trợ của máy tính), dự án này được biết đến như một diễn đàn kiến thức, họ đã phát triển các công nghệ và phương pháp sư phạm nhằm tái cấu trúc các lớp học dưới dạng các cộng đồng xây dựng kiến thức. Cũng giống với dự án ENFI, CSILE cũng tìm kiếm các Luan van 12 cách thức giúp việc viết lách có ý nghĩa hơn bằng cách để sinh viên tham gia vào hoạt động biên soạn văn bản chung của cả hai dự án.
Các văn bản được biên soạn trong mỗi trường hợp đều khá khác nhau, tuy nhiên các văn bản của ENFI thường mang tính chất đàm thoại nhiều hơn; chúng được biên soạn ngẫu hứng và thường không được lưu trữ vượt quá thời hạn của một tiết học. Mặt khác, các văn bản của CSILE thì lại thường có tính chất lưu trữ, giống như các tài liệu học thuật thông thường khác. Giống như trường hợp của CSILE, Dự án Chiều không gian Thứ năm (5thD) cũng bắt đầu nhằm cải thiện các kỹ năng đọc của sinh viên. Dự án khởi đầu bằng một chương trình ngoại khóa do Cole và các đồng nghiệp tổ chức tại Đại học Rockefeller.
Dự án 5thD đã được phát triển thành một hệ thống có khả năng tích hợp hầu hết các hoạt động sử dụng máy tính nhằm nâng cao các kỹ năng đọc và giải quyết vấn đề của sinh viên. Các sinh viên sẽ được hỗ trợ bởi các các bạn học có kỹ năng tốt hơn và các sinh viên tự nguyện từ Trường Sư phạm. Chương trình ban đầu chỉ được triển khai tại bốn địa điểm ở San Diego, nhưng cuối cùng cũng được mở rộng tại nhiều địa điểm trên khắp thế giới Tất cả các dự án trên - ENFI, CSILE và 5thD, đều được thực hiện với mục đích đẩy mạnh công tác giảng dạy theo chiều hướng sáng tạo ý nghĩa. Cả ba đều thiên hướng việc sử dụng máy tính và công nghệ thông tin như các nguồn lực để đạt được mục đích này, và chúng đều giới thiệu các hình thức mới lạ có khả năng tổ chức các hoạt động xã hội trong khuôn khổ giảng dạy.
Bằng cách này, chúng đã đặt vững nền móng cho sự xuất hiện của CSCL sau đó Năm 1983, một hội thảo về chủ đề “giải quyết vấn đề chung và máy vi tính” đã được tổ chức tại San Diego. Sáu năm sau, một hội thảo do NATO tài trợ đã được tổ chức tại Maratea, Italy. Hội thảo Maratea năm 1989 này được rất nhiều người đánh giá là cột mốc đánh dấu sự ra đời của lĩnh vực học cộng tác, khi đó là cuộc tụ hội quốc tế và công cộng đầu tiên đã sử dụng cụm từ “học tập cộng tác bằng máy tính” trong tiêu đề của mình. Luan van 13 Hội nghị chính thức đầu tiên về CSCL đã được tổ chức tại Đại học Indiana vào mùa thu năm 1995.
Các sự kiện quốc tế tiếp theo diễn ra ít nhất hai năm một lần, bao gồm các hội nghị tại Đại học Toronto năm 1997, Đại học Stanford năm 1999, Đại học Maastricht, Hà Lan năm 2001, Đại học Colorado năm 2002, Đại học Bergen, Norway năm 2003, và Đại học Quốc gia Trung ương tại Đài Loan năm 2005. Những nghiên cứu và lý thuyết về các tài liệu chuyên nghành CSCL đã được xây dựng ngay sau khi hội thảo Maratea do NATO tài trợ diễn ra. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu của học cộng tác 1. Khái niệm học cộng tác Cộng tác là một quá trình nhằm chia sẻ sáng tạo [2].
Quá trình này nhằm trao đổi, trợ giúp, phối hợp giữa một nhóm người nhằm đạt được một mục tiêu xác định. Một nhóm các cá nhân có một vấn đề chung để giải quyết. Mỗi thành viên có một quan điểm khác nhau và có sự hiểu biết khác nhau về vấn đề này. Họ trao đổi kiến thức và đưa ra ý kiến của mình để giải quyết vấn đề.
Trong hầu hết các trường hợp, một vấn đề được chia thành các vấn đề con và được giải quyết bởi một hoặc nhiều thành viên của nhóm. Con người đã thực hiện việc cộng tác từ rất lâu, là cơ sở cho sự phát triển và hình thành nên xã hội loài người. Từ đó con người phát triển từ giai đoạn bầy đàn sang giai đoạn xã hội. Hoạt động cộng tác được thể hiện dưới nhiều hình thức: cộng tác trong công việc, cộng tác trong truyền đạt tri thức.
Học cộng tác là một thuật ngữ chỉ những cách tiếp cận đào tạo khác nhau liên quan đến việc sử dụng trí tuệ giữa các học viên với nhau hoặc giữa các học viên với giáo viên nhằm tăng cường khả năng tiếp thu tri thức, khả năng vận dụng và áp dụng tri thức vào thực tế trên cơ sở có sự hợp tác của nhiều thành viên. Các học viên có thể làm việc theo nhóm hai người hoặc hơn để cùng nhau nghiên cứu giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra. Hình thức học cộng tác trong đó không chỉ tập trung vào bài giảng của giáo viên trên lớp, mà nó còn có cả các hoạt động thảo luận, tương tác tích cực giữa sinh viên với nhau. Môi trường này giáo viên không chỉ đóng vai trò là người nắm tri thức để truyền đạt mà còn có vai trò là chuyên gia Luan van 14 thiết kế quá trình, xây dựng môi trường tiếp thu tri thức cho người học.
Học cộng tác là phương pháp có nhiều ưu điểm so vơi phương pháp cổ điển đang được áp dụng hiện nay. Với phương pháp này, học không còn đơn thuần là một tiến trình học thuật cá nhân đơn lẻ, mà là một tiến trình xã hội, trong đó các học viên làm việc cùng nhau. Theo [5] học cộng tác đem lại nhiều lợi ích cho người học, đặc biệt kĩ năng làm việc nhóm và sự thích thú mà phương pháp cổ điển không thể mang lại. Một hệ thống học cộng tác hoặc một phần mềm nhóm là một cơ sở hạ tầng phần mềm cơ bản thúc đẩy công việc cộng tác.
Theo [6], hệ thống cộng tác là một hệ thống dựa trên máy tính hỗ trợ các nhóm người tham gia vào một nhiệm vụ chung. Đối với khía cạnh này, hệ thống cung cấp một giao diện được chia sẻ cho phép thực hiện các nhiệm vụ chung. Một nhiệm vụ chung và một giao diện được chia sẻ là các yếu tố thiết yếu cho một hệ thống cộng tác. Đặc điểm của học cộng tác Việc học tập sẽ được thực hiện dưới hình thức cộng tác nhằm phát triển kiến thức.
Học cộng tác được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, và có những đặc trưng sau: - Để học được những kiến thức, khái niệm hoặc kĩ năng mới, sinh viên cần tiếp cận với những kiến thức đó theo nhiều cách khác nhau với mục đích rõ ràng. Sinh viên cần kết hợp giữa việc tiếp thu kiến thức mới từ tài liệu với những kiến thức đã biết. Từ đó người học có thể chủ động tiếp thu và vận dụng tri thức mới trên cơ sở những hiểu biết đã có của bản thân. Vậy nên trong học cộng tác, quá trình học trở thành quá trình xây dựng tri thức cá nhân một cách tích cực - Môi trường học tập rất quan trọng.
Môi trường học tập tốt thì càng kích thích cao trong việc nhận thức. Theo những nghiên cứu về giáo dục, việc học tập thường bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và các hoạt động trong hoàn cảnh đó. Khi sinh viên trong môi trường học cộng tác, các hoạt động học cộng tác sẽ đưa sinh viên vào nhiệm vụ hoặc những câu hỏi mang tính thách thức. Sinh viên sẽ chủ động thực hành luôn những điều đã, đang hoặc nhằm giải quyết những vấn đề mà giáo viên Luan van 15 đưa ra thay vì chỉ nghe giảng rồi sau đó trả lời những câu hỏi mang tính kiểm tra lại những thông tin từ bài giảng.
Môi trường học tập này thách thức sinh viên và phát triển kĩ năng tranh luận và tự giải quyết vấn đề. - Trong môi trường học cộng tác, đối tượng người học đa dạng: người học có sự đa dạng về kiến thức, kinh nghiệm, phong cách và mục tiêu học tập. Việc học cộng tác trở nên có hiệu quả và việc mỗi người học đều có thể đóng góp kinh nghiệm và kiến thức của cá nhân và việc giải quyết chung việc của nhóm. - Môi trường học cộng tác là nơi mà sinh viên có thể nói, có thể trao đổi với nhau.
Việc học được thực hiện ngay trong quá trình trao đổi, nói chuyện đó. Việc học tập cộng tác không chỉ bó hẹp trong phạm vi một nhóm sinh viên mà còn có thể mở rộng ra với nhiều người tham gia. Sinh viên cùng nhau khám phá, cùng nhau trao đổi, phản hồi thông tin giúp sinh viên có hiểu biết tốt hơn và mang lại những kiến thức mới mẻ hơn.