CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về Chondroitin Sulfate (CS) 1. Khái niệm: Chondroitin Sulfate (CS) là một glycosaminoglycan gồm các đơn vị disaccharide lặp lại của galactosamine và axit glucuronic thông qua các liên kết β (1→4) hoặc β (1→3) (cụ thể là N-acetyl-D-galactosamine (GalNAc) và D- glucuronic acid (GlcA).
GAG được tìm thấy có hàm lượng cao trong các mô sụn, nội mạng lưới collagen bám trong các cơ chất vô định hình có chứa axit glycoprotein hyaluronic (HA). CS là một polyme có phân tử lớn gồm 15-150 đến 200 đơn vị cấu trúc 2 đường đơn của GlcA và GalNAc. Công thức hoá học của CS: (C14H21NO14S)n. Khối lượng phân tử của CS thường biến động trong khoảng 10.
CS tinh khiết là chất bột màu trắng hoặc trắng ngà, hòa tan tốt trong nước, dễ hút ẩm, không hoà tan trong ethanol, methanol, cetone. Khối lượng phân tử của CS nguyên liệu thường được sử dụng trong thực phẩm bảo vệ sức khỏe là thấp hơn, khoảng 15. Phân loại Chondroitin Sulfate (CS) Chondroitin có 3 loại chính là A, B và C (Hình 1.1) và 2 loại phụ là D và E, chúng đặc trưng bởi số lượng và vị trí của nhóm Sulfate trong nhóm disaccharide lặp lại của chuỗi polysaccharide. - CS A: gốc Sulfate gắn ở vị trí C-4 (GlcA-GalNAc-4S: chondroitin-4- Sulfate, viết tắt là CS4 hoặc CS-A), có nhiều ở mô sụn.
- CS B: acid iduronic thay thế acid glucuronic (IdoA-GalNAc-4S), viết tắt là CS4 hoặc CS-B. Tên cũ của nó là dermatan Sulfate thường có nhiều ở da, còn thấy có ở van tim, gân, thành mạch. Vị trí bị Sulfate hoá ở C-4 của GlcNAc và C- 5 của glucuronic acid bị epime hoá thành iduronic acid. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cấu tạo phân tử của các loại CS - CS C: gốc Sulfate gắn ở vị trí C-6 (GlcA-GalNAc-6S: chondroitin-6- Sulfate, viết tắt là CS6 hoặc CS-C, phổ biến hơn hai loại trên). - CS D: gốc Sulfate gắn ở vị trí carbon 2 của axit glucuronic and 6 của GalNAc. - CS E: gốc Sulfate gắn ở vị trí Carbons 4 và 6 của GalNAc. Tuy nhiên, CS từ các nguồn nguyên liệu khác nhau rất đa dạng về cấu trúc và kích thước, chúng chứa ở mức độ nhiều hay ít các isome CS, có tới 16n-isome của CS, do phụ thuộc vào sự thay đổi vị trí Sulfate hoá của các cặp đường đôi tạo nên 16 isome/mỗi cặp.
Trong đó, CS-A và CS-C là những thành phần chủ yếu hình thành các Proteoglucan (PG). Các dạng đồng phân và công thức cấu tạo của CS CS với các disacarit khác nhau và khung carbohydrate tổng thể có thể được sinh tổng hợp và có số lượng và vị trí khác nhau của các nhóm Sulfate (Hình 1. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do đó, CS là một GAG không đồng nhất được hình thành từ các disacarit sunfate xen kẽ và khác nhau của GlcA và GalNAc được liên kết bởi các liên kết β (13). Hơn nữa, các disacarit khác nhau được liên kết với nhau bằng liên kết (14).
CSA và CSC được cấu thành bởi các disacarit sunfate ở vị trí C4 hoặc C6 của dư lượng GalNAc, tương ứng, và có thể có tỷ lệ phần trăm nhỏ của disacarit monoSulfated trên C2 của GlcA. Bên cạnh sự hiện diện chính của hai loại disacarit monoSulfated này ở vị trí C4 hoặc C6 của GalNAc, các disacarit với số lượng và vị trí khác nhau của các nhóm Sulfate có thể có mặt, với tỷ lệ phần trăm khác nhau, trong các chuỗi carbohydrate. Các loại khác nhau của disacarit đã được disulfit hóa có thể có mặt trong cấu trúc CS với số lượng khác nhau cũng liên quan đến các nguồn động vật cụ thể (như ở sụn cá hoặc xương), chẳng hạn như disacarit diSulfated ở vị trí C2 của GlcA và C6 của GalNAc (được gọi là disacarit D), ở vị trí C4 và C6 của GalNAc (disacarit E) hoặc C2 của GlcA và C4 của GalNAc (disacarit B) (Hình 1. Cuối cùng, một tỷ lệ phần trăm nhỏ của disacarit không sunfate hầu như luôn có trong khung CS trong khi disacarit tri-sunfate là ở dạng vết.
Cấu trúc của Chondroitin Sulfate (CS) Trong tự nhiên, cấu trúc phân tử CS rất đa dạng và phức tạp, đa phần nhóm -OH ở vị trí carbon 4 và 6 của GalNAc được Sulfate hoá, đối với một số chuỗi GAG khác thì ở vị trí 2 của GlcA. Quá trình Sulfate hoá là nhờ các enzym sulfotransferase đặc hiệu. Việc Sulfate hoá ở các vị trí khác nhau tạo nên hoạt tính sinh học đặc thù của CS. Do vậy, cho tới nay chưa thu nhận được CS bằng con đường tổng hợp hoá học, mà mới chỉ tổng hợp được các mạch oligosaccharide ngắn có trình tự giống một đoạn mạch CS như một số CS tetrasaccharide (4 gốc đường đơn) có khả năng kích thích sự phát triển và phân hoá của neron thần kinh, còn phân tử disaccharide thì không có tác dụng trên.
Vì thế, cho tới nay các CS chỉ được tách chiết từ các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Những năm trước đây, CS được tinh chế chủ yếu từ sụn vây cá mập, sụn cá đuối, do đó giá thành rất cao và có thể gây hại cho hệ sinh thái biển. Cho nên, đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhằm tách chiết CS từ da cá, sụn của bò, lợn, đặc biệt là sụn lưỡi hái, chân gà và khí quản vịt… Trước đây, các loài cá sụn (Chondrichthyes) như cá mập, cá đuối là những loài động vật có xương sống nhưng bộ xương chứa hoàn toàn sụn cả khi ở tuổi trưởng thành là nguồn nguyên liệu sụn đắt tiền, nhưng có chứa hàm lượng CS cao, thường được sử dụng để sản xuất CS trên thế giới. Hàm lượng CS thu được từ sụn vây cá mập hoặc khí quản cá sấu là 18% (chất khô), nhỏ hơn 23% trong sụn xương ức cá sấu, và đặc biệt là 30% trong sụn xương móng cá sấu và sụn ức gà.
Điều này cho thấy sụn ức gà là một loại phụ phẩm thải ra trong quá trình chế biến gà fillet có thể trở thành một nguyên liệu rẻ tiền cho quá trình sản xuất CS nhằm thay thế cho các loại nguyên liệu truyền thống quý hiếm và đắt tiền từ sụn vây cá mập hoặc sụn cá sấu….[4] Ngoài ra, trong khí quản vịt cũng có 3,6% CS và trong sụn chân gà có khoảng 2,5% CS cũng là các nguồn nguyên liệu sẵn có để sản xuất CS. CS gắn với các protein bằng liên kết O-glycosid tạo thành một proteoglycan (PG) (hay glucoprotein), là hợp chất hữu cơ thuộc nhóm mucopolysaccharide. Phân tử PG của mô sụn (chứa khoảng 80 - 100 mạch CS) gắn kết cùng với protein và acid hyaluronic tạo thành một phức hệ thuỷ động học vững chắc. Sự kết hợp giữa nhóm Sulfate (SO42-) của gốc đường với các nhóm carboxyl (-COO-) của gốc đường axit làm cho phân tử CS có mật độ điện tích âm rất cao (anion polysaccharide) dễ dàng liên kết đồng hoá trị với các protein trong cấu trúc PG.
Chuỗi CS được gắn với nhóm -OH của gốc serine ở một số protein. Tuy nhiên, các protein gắn chọn lọc chính xác như thế nào với GAG vẫn chưa được làm sáng tỏ. GAG được tổng hợp trong mạng lưới nội bào và trong thể Golgi. Theo hình 2 sự gắn kết của chuỗi GAG và protein lõi được bắt đầu với các gốc đường đơn theo phương thức cố định là Xyl-Gal-Gal-GlcA; xylose được gắn với phân tử serine của protein lõi trong mạng lưới nội bào, còn các phân tử đường khác được gắn trong hệ Golgi.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. 3 Liên kết giữa chuỗi GAG và protein lõi 1. Tầm quan trọng của Chondroitin Sunfate đối với con người Ở cơ thể người, Chondroitin Sunfate là thành phần được tìm thấy ở sụn khớp, xương, da, giác mạc mắt và thành các động mạch. Các phân tử GAG (trong đó có CS) có chức năng tạo cấu trúc và điều khiển trong cơ thể sống.
Về cấu trúc, nó là thành phần chính của mô sụn. CS có mặt trong các tổ chức gân, cơ, dây chằng… tạo sự vận động linh hoạt và tính đàn hồi trong hoạt động khớp, tạo độ bền khi bị nén ép. Về điều khiển, CS rất dễ gắn kết với protein trong mô tế bào, mối quan hệ này rất quan trọng cho việc điều hoà các hoạt động của tế bào. Các liên kết cộng hóa trị CS và protein lõi tạo ra phân tử PG của mô sụn (chứa khoảng 80-100 mạch CS) cùng với protein gắn kết với acid hyaluronic tạo thành một phức hệ thuỷ động học có khả năng nén thuận nghịch rất cần thiết cho sụn để chống lại sức ép nén với biến dạng nhỏ nhất.
CS còn có tác dụng hỗ trợ điều trị các bệnh lý về xương khớp. CS làm tăng sản xuất chất nhầy và khả năng bôi trơn của dịch khớp, đảm bảo chức năng dinh dưỡng và sự vận động linh hoạt của khớp. Vì vậy, CS giúp giảm và ngăn chặn quá trình thoái hoá khớp. CS còn có vai trò bảo vệ sụn khớp nhờ ức chế các enzyme phá hủy sụn khớp như collagenase, phospholipase A2, N–acetylglucosaminedase.
Ngoài ra, CS cũng góp phần nuôi dưỡng các tế bào của giác mạc mắt, tái tạo lớp giác mạc. CS đã được dùng qua đường uống để điều trị viêm khớp với liều lượng 800 đến 1. Kết quả tích cực đạt được sau nhiều tháng điều trị. Các nghiên cứu trên động vật cũng cho thấy hiệu quả sinh học của CS được tăng lên khi dùng nhiều lần trong ngày [5].
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các phương pháp hỗ trợ quá trình trích ly từ sụn chân gà Chondrontin Sulfate có thể thu nhận được nhờ thủy phân sụn bằng phương pháp thủy phân hóa học hoặc enzyme. Phương pháp hóa học và phương pháp vật lý 1. Phương pháp hóa học Nói chung, các phương pháp sản xuất CS từ sụn đã được xác định và bao gồm 4 bước khác nhau như sau: 1.
Thủy phân sụn bằng tác nhân hóa học như kiềm hoặc axit. Bẻ gẫy lõi proteoglycan bằng kiềm hoặc axit. Loại bỏ protein bằng kết tủa với axit tricloaxetic và ly tâm lọc. Thu hồi và tinh sạch CS.
Trong phương pháp hoá học, mô sụn được xử lý bằng nước nóng, dung dịch muối, kiềm (NaOH) hoặc acid (HCl, H2SO4) để tách GAG khỏi các phân tử khác (protein, hyaluronic acid…). Phương pháp này đã được áp dụng để thu CS từ sụn gà, sụn bò,tuy nhiên đã xuất hiện việc phá vỡ các liên kết glycoside của CS sau khi thu nhận CS. Các điều kiện thủy phân cũng có thể làm giảm trọng lượng phân tử trung bình của sản phẩm thu được. Mặt khác trong phương pháp này, sản phẩm có những mối nguy từ việc tồn dư các chất hóa học trong quá trình xử lý và tạo ra sự ô nhiễm môi trường.