MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết - Xác định tuổi địa chất và môi trường lắng đọng trầm tích là một trong những công việc đầu tiên trong công tác định hướng tìm kiếm thăm dò, dự đoán vùng sinh, chứa, chăn, giúp cho việc thăm do đạt hiệu quả cao nhật. - __ Trong nghiên cứu phân tang phân tập, người ta sử dụng các số liệu giải đoán từ địa chan, t6 hợp các đường cong dia vật lý, thạch học trầm tích .Trong số đó có phương pháp sinh địa tầng. - - Việc nghiên cứu sinh dia tầng tại Việt Nam hiện nay gom ba nhóm chính là nghiên cứu về hóa thạch tảo vôi, hóa thạch trùng lỗ Foraminifera va bào tử phan hoa.
Sự tong hop két quả dựa trên ba nhóm hóa thạch trên sẽ cho ta bức tranh toàn diện nhât vê môi trường tram tích và cô khí hậu. - Mac dù đã thực hiện phân tích dịch vụ rất nhiều giếng khoan trong khu vực bề Nam Côn Sơn. Nhưng kết quả phân tích chỉ thể hiện rời rạc ở từng giếng khoan cụ thé. Cho nên việc tong hợp số liệu đã phân tích ở từng khu vực nghiên cứu là rất cần thiết.
Do đó, tác giả chọn đề tài “Liên kết dia tang và xác định môi trường lang đọng tram tích theo phương pháp sinh dia tang của lô H bễ Nam Côn Son” 2. Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu: - _ Xây dựng nguôn cơ sở dữ liệu khoa học có giá tri cao trong lĩnh vực cô sinh địa tầng phục vục cho công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí trong khu vực. - _ Xây dựng cơ so di liệu nên tang cho các nghiên cứu sau nay. Nội dung nghiên cứu: - _ Xây dựng mặt cắt liên kết về địa tang và môi trường lang đọng tram tích cũng như các hóa thạch chủ đạo dựa trên kết quả minh giải cô sinh cụ thé sử dụng sỐ liệu về hóa thạch vi cổ sinh, hóa thạch tảo vôi, và bào tử phan hoa của các giếng khoan trong lô H.
13 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Ha Nghiên cứu địa tầng, cô khí hậu phân chia các chu kỳ trầm tích trong địa tang các giếng khoan và liên kết các chu kỳ trầm tích giữa các giếng khoan. Ngoài ra bước đầu liên hệ các đường cong địa vật lý giếng khoan (cụ thể sử dụng đường log gamma ray) nhằm chính xác hóa các bề mặt dé làm rõ tính logic và độ tin cậy từ các số liệu trên. Đối tượng nghiên cứu: Lô H thuộc bé Nam Côn Sơn. Phương pháp nghiên cứu: Thống kê, thu thập các dữ liệu phân tích sinh địa tầng của lô nghiên cứu.
Tổng hợp số liệu, minh giải lại các kết quả phân tích trước đây theo các tiêu chuẩn quốc tế (CoreLabs, Robert Son) và tài liệu cập nhật mới từ các viện nghiên cứu Sử dụng hai phần mềm hé trợ (StrataBugs v2.0 và CycloLog v2012) dé chính xác hóa kết quả minh giải và thể hiện kết quả. Nghiên cứu sự thay đổi của các tổ hợp hóa thạch nhằm tìm ra các ranh giới tập trầm tích và môi trường. Cơ sở dữ liệu: Cơ sở dữ liệu sử dung trong đề tài là các kết quả phân tích cé sinh được lưu giữ tại Trung tam Phân tích Thí nghiệm — Viện Dầu khí Việt Nam. Việc phân tích các chỉ tiêu cỗ sinh trong quá trình tìm kiếm thăm dò được thực hiện khá đầy đủ ở các giêng khoan.
Các tài liệu liên quan dén dia chân cũng như đường cong được cung cap từ các nhà thâu trong quá trình gửi mẫu phân tích 14 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Hà 7. Y nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Xây dựng lại và chính xác hóa hệ thống cổ sinh định tuổi và xác định ranh giới đúng đắn của các thành hệ trầm tích ở bể Nam Côn Sơn. Trong đó có phát hiện một số gidng loài cho phép lần đầu tiên phân chia Oligoxen thành hai phần là Oligoxen sớm và muộn. Đây là cơ sở đúng đã cho việc áp dụng các lô bên cạnh bề Nam Côn Sơn và có thé áp dụng cho các bề thêm lục địa Việt Nam.
Xây dựng được sơ đồ phân bố môi trường tích lũy trầm tích. 15 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Hà CHUONG 1: DAC DIEM DIA CHAT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Lich sử nghiên cứu thăm dò va khai thác dau khí 1.1 Giới thiệu đặc điểm vị trí địa lý lô H Lô nghiên cứu lô H năm ở phan ria phía Đông Nam bé Nam Côn Sơn, ngoài khơi Việt Nam(hinh 1. Vị trí lô nam giới han trong khoảng 7°15” đến 7°45” vĩ độ Bắc và 108°30’ đến 109°20° kinh độ Đông, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 390 km Toàn bộ 16 có diện tích khoảng 4,148 km”. Mực nước biển trong phạm vi lồ dao động trung bình trong khoảng độ sâu từ 130m đến 400m.
et “- Bé Cửu Long Hình 1.1: Sơ đồ vị trí lô H 1. Lịch sử nghiên cứu thăm dò và khai thác dầu khí Sau khi nhà nước ban hành Bộ luật Đầu tư nước ngoài và luật Dầu khí đã có nhiều nhà thầu ký kết các hợp đồng triển khai công tác tìm kiếm thăm dò dau khí ở 16 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Ha thêm lục địa Việt Nam nói chung và bề Nam Côn Sơn nói riêng. Tính đến nay, Ở bể Nam Côn Sơn các nhà thâu đã tiễn hành khảo sát 54.779 km địa chân 2D và 5.399 km” địa chan 3D, đã khoan khoảng 150 giếng khoan thăm dò và khai thác trong bể Nam Con Sơn. Lô nghiên cứu được tiễn hành thăm dò khảo sát đầu tiên vào năm 1988.
Các nhà thầu đã tham gia công tác tìm kiếm trong phạm vi lô từ năm 1988 cho đến nay gôm có ONGC, BP, Pearl Energy Limited, Kris Energy và Lundin Petroleum AB. Lịch sử nghiên cứu thăm dò khu vực lô nghiên cứu có thé khái quát như sau: Năm 1988, nhà thầu ONGC kí kết hợp đồng với Petrovietnam thực hiện các hoạt động khảo sát lô 06, 12 và 19. Công tác thu nỗ địa chan 2D đã được ONGC triển khai với 4.532,5 km tuyến địa chan 2D vào các năm 1991-1992. Sau đó ONGC đã khoan giếng H-B-1Xvao tháng 10/1990.
Đối tượng của giếng này là tram tích vụn tuổi Oligoxen hệ tang Cau, kết quả giếng khoan có biểu hiện khí nhỏtrong hệ tầng Cau, tuy nhiên ONGC đã không thử vỉa ở độ sâu này. Đối tượng thứ hai giếng khoan hướng tới là tập đá vôi Terumbu, nhưng độ bão hòa hydrocacbon của tang này là thấp và kết quả thử via cho thay sản phẩm chỉ có nước. Hợp đồng dầu khí ký kết vào tháng 02 năm 2007 đã phân lô H ngoài khơi thêm lục địa Việt Nam cho 3 nhà thầu quản lý với tỷ lệ lần lượt là Pearl Energy Limited (33,33%), Kris Energy (33,33%) và Lundin Petroleum AB (33,33%), trong đó Pearl Energy Limited giữ vai trò nhà điều hành các hoạt động trong lô. Trong thời gian điều hành đã tiến hành khảo sát 2,342 km” dia chan 3D quy đổi, trong đó năm 2007: 731 km”,năm 2008: 998 km“ và năm 2009: 613 km“.
Kết qua minh giải dia chan đã xác định được các cấu tạo triển vọng là: A, B, D: Từ đó tiến hành khoan 3 giếng khoan thăm dò trên các cau tạo này: e Giếng H- A-1X: khoan tháng 6/2009 hướng tới đối tượng là tầng chứa cát kết hệ tầng Dừa và tập đá vôi. Tuy vậy giếng khoan lại không gặp được đối tượng dự kiến ban đầu, chỉ phát hiện một lượng khí nhỏ trong tập cát kết biển sâu Plioxen sớm. 17 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Hà e Giếng khoan H-C-1X (3/2010) và H-D-1X (6/2010) déu hướng tới đối tượng là tầng chứa cát kết hệ tang Dừa và Thông-Mãng Cau. Nhưng kết quả cũng tương tự giống giếng khoan H-A-1X trước đó, giếng H-C-1X cũng chỉ có biểu hiện khí ở 5m đá cát kết hệ tang Dừa, giếng H-D-1X thì hoàn toàn khô.2: Vị trí lô và 4 giếng khoan tại lô H 18 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Ha Hình 1.3 : Bản đồ cau tạo móng đi ngang lô H 1.2 Đặc điểm các thành tạo địa chất 1.1 Đặc điểm địa tầng Cho tới nay bể trầm tích Nam Côn Sơn đã có một khối lượng giếng khoan rất lớn, kế cả giếng khoan thăm dò và khai thác ở nhiều lô khác nhau.
Kết quả khoan đã làm sáng tỏ hơn bức tranh về địa tầng, thành phần trầm tích, ranh giới của các hệ tang và chiều dày của chúng. Thang địa tang tổng hợp của khu vực được thé hiện trên hinh 1.Xét theo thứ tự từ già tới trẻ, đặc điểm địa tang-thach học của khu vực được ghi nhận như sau: 19 Luận văn Thạc Sĩ— Đào Thu Ha S c|lé|s 4 = .=t ^ Ậ MOI TRƯƠNG? Ề d THACH HOC MO TA THACH HỌC R h KIEN TẠO aa = =. | & TRAM TÍCH |) © | ay | rr a |S a Cat kết, bột kết và bùn xen lẫn sét kết chứa phong O phú hóa thạch bién, gắn kết yếu hoặc bở rời. : : i Biên nông đên thêm # 8 E|2 B= oD ke Sét biển sâu chiếm wu thế xen kẽ bột kết, cát kết 5 phân lớp mỏng A De © mm Bié ^ iữa thé “ = Đá vôi phân dạng ám tiêu san hô đến Điện SẠC mm = <q Z.
fa = 2 S S Đá vôi xen kẹp với các lớp sét-bột kết, sét vôi Sg “ C "Bb for Biển nông trong thềm 3 = đên giữa thêm OD © -s < a =I Cát kết xen kẹp những lớp sét kết và sét vôi Cat kết xen kẽ khá đều các tập sét kết, bột kết Đồng bằng ven biển mỏng, đôi chỗ có lẫn than mỏng hoặc đá vôi đến biển nông B= Bb -= : : : : 8 | Cát két hạt nhỏ dén vừa xen kẽ với bột kết, sét két oD = A A <O Sét phân xen kẽ ít bột kêt, cát kêt và lớp sét chứa an) a than va than = Cát kết phân lớp day hoặc dang khối xen kẽ một Dam ho đên dong bang = khối lượng nhỏ các lớp bột kết hoặc sét ven biên as Sét đầm hồ, đá phiến sét Hình 1.5: Cot địa tầng tong hop khu vực nghiên cứu 1.1 Đặc điểm móng trước Đệ Tam Đá móng ở hầu hết các giếng khoan trong khu vực bắt gặp chủ yếu là đá mác-ma và đá biến chất. Đá mác-ma với thành phần chủ yếu gồm granite, granodiorit. Đá biến chất thành phan chủ yếu là phylit và đá trầm tích cát bột kết bị biến tinh. Ngoài ra, còn đá móng bat gặp có thé là đá phun trào.
Tudi của các thành tạo này có thé là Jura muộn-Creta. Tuy nhiên do văng mặt tang chắn khu vực nên móng không phải là đối tượng tìm kiếm của các các giếng khoan khu vực.