Chương 1: Cấu trúc địa chất và tình hình dầu khí mỏ X bể Cửu Long trung tâm như mỏ X có thể đạt tới 500m. Tuổi của hệ tầng theo phức hệ bào tử phấn (Oculopollis, Magnastriatites) được xác định tuổi Paleogen, Oligoxen sớm. Hệ tầng Trà Cú được chia làm hai phần: trên và dưới, phần trên chủ yếu là thành tạo mịn, phần dưới là thành tạo thô chứa dầu. Chiều dày của hệ tầng dao động từ 0 đến 800m.
Đặc điểm phân bố của các lớp trầm tích này là gá kề vào các khối nhô cổ, các lớp xiên chéo thay đổi bề dày nhanh, thay đổi tướng cũng nhanh thể hiện ở vùng có năng lượng cao, có lẽ là do phá hủy trực tiếp ở các khối nhô cổ ở gần rồi bồi đắp ở dưới các khối nhô này. Phụ thống Oligoxen thƣợng Hệ tầng Trà Tân (E32tt) Các thành tạo trầm tích hệ tầng Trà Tân phân bố khá rộng ở cấu tạo, có độ sâu từ 2800 - 3000m đến 4000m. Trên các mặt cắt địa chấn hệ tầng này tương ứng với tập “C” và “D”, nóc tập “C” là một bất chỉnh hợp khu vực. Đầu thời kỳ này có 2 pha phun trào để lại 2 lớp bazan điển hình ở GK4, GK14, GK64 thuộc vòm Bắc điều đó chứng tỏ có sự tái hoạt động kiến tạo nhẹ vào giai đoạn này.
Thành phần thạch học của tập “D” chủ yếu là các lớp sét đầm hồ màu xám đen dày, giàu vật chất hữu cơ xen kẹp các thấu kính cát mỏng. Chiều dày tập D từ 0 -1000m (trung bình 600m). Tập “C” gồm sét, bột kết xen kẹp với cát kết lắng đọng trong môi trường sông hồ, đầm lầy và biển nông. Ngoài ra, còn gặp ít lớp cuội kết, sạn kết, sét vôi, những lớp đá vôi mỏng, đôi khi có cả đá phun trào andesit xen lẫn ở phần dưới của lát cắt mỏng, các thấu kính than mỏng và các mảnh than.
Cát kết màu xám, xám tro hạt mịn tới trung, đôi khi gặp hạt thô. Đặc biệt các lớp cát xen kẽ ở phần đáy có chứa dầu khí. Đặc điểm phân bố các lớp trầm tích này là tương đối nằm ngang ở các trũng sâu và gá kề vào các khối nhô cổ ở các đới nâng của vùng ven rìa. Đặc điểm nổi bật của chúng là mang tính lắp đầy.
Sét kết của hệ tầng Trà Tân có hàm lượng và chất lượng vật chất hữu cơ cao đến rất cao đặc biệt là tầng Trà Tân giữa, chúng là nhưng tầng sinh dầu tốt ở bồn trũng Cửu 13 Chương 1: Cấu trúc địa chất và tình hình dầu khí mỏ X bể Cửu Long Long đồng thời là tầng chắn tốt cho tầng đá móng granite nứt nẻ. Trong trầm tích của hệ tầng này tìm thấy nhiều bào tự phấn hoa Rhizohone, Ffussiena, Florschuetzia Trillibata và tảo Pediastrum nước ngọt đầm lầy. Bề dày của hệ tầng trong khoảng 1000-1200m. Trầm tích của hệ tầng Trà Tân được xác định có tuổi Oligoxen muộn.
Hệ Neogen Thống Mioxen Phụ thống Mioxen Hạ Hệ tầng Bạch Hổ tạo lớp phủ rộng cấu tạo hầu hết trong các lỗ khoan ở độ sâu từ 1800m - 2000m đến 2800 - 3000m. Hệ tầng này tướng ứng với tập địa chấn “B1”. Hệ tầng gồm hai phần: Phần trên là sét màu nâu, xám xanh giàu hóa thạch Rotalia hay còn được gọi là tầng sét Rotalit được thành tạo trong môi trường biển nông - đồng bằng ven bờ, bề dày của tầng sét Rotalit khoảng 30m đến 300m. Phần dưới gồm chủ yếu là cát kết, bột kết xen với các lớp sét kết màu xám, đỏ và chứa dầu.
Ngoài ra còn gặp lớp phun trào phân bố giữa tập địa chấn “B1”. Tầng phun trào này có thành phần chủ yếu là bazan và vụn núi lửa bị phong hóa nhẹ từng phần, chúng phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Bắc bồn trũng Cửu Long. Bề dày của lớp đá núi lửa này thay đổi từ vài mét đến 250m, một số nơi 400m. Lớp phun trào bazan này tạo nên một tầng phản xạ địa chấn mạnh trong trầm tích tuổi Mioxen.
Trong mặt cắt hệ tầng gặp những hóa thạch bào tử phấn: F.levipoli, Magnastriatites, Pinuspollenites, Alnipollenites và ít vi cổ sinh Synedra fondaena. Đặc biệt trong phần trên của mặt cắt hệ tầng này, tập sét màu xám lục gặp khá phổ biến hóa thạch đặc trưng nhóm Rotalia: Orbulina universa, Ammoia sp., nên chúng được gọi là tập sét Rotatid. Phụ thống Mioxen trung Hệ tầng Côn Sơn (N12 cs) Hệ tầng này phân bố rộng rãi ở cấu tạo, tương ứng với tập địa chấn “B2”. Cấu tạo 14 Chương 1: Cấu trúc địa chất và tình hình dầu khí mỏ X bể Cửu Long nên hệ tầng bao gồm chủ yếu các lớp cát ackoz - lithic dày xen các lớp bột và sét, sét vôi màu xanh thẫm, đôi chổ gặp các lớp than và dolomite.
Chiều dày thay đổi trong khoảng 250m - 900m, chủ yếu dày 500m - 600m. Các trầm tích này được thành tạo trong môi trường tướng châu thổ ở phía Tây, đầm lầy - đồng bằng ven bờ ở phía Đông. Độ rỗng của hệ tầng lớn nhưng lại thiếu vắng các tầng chắn khu vực nên tiềm năng dầu khí bị hạn chế. Đa phần các lớp có hệ gắn kết yếu hoặc còn ở trạng thái bở rời nên các tích lũy dầu khí ở đây thường nặng vì mất hết các khí hydrocacbon nhẹ.
Hệ tầng phong phú bào tử phấn thuộc phức hệ Florsfhuetzia, Levopoli, Acrostichum, Picaepollennitez, Rhizophora, Compositae, phong phú Foraminifera. Tuổi của hệ tầng vào Mioxen giữa. Phụ thống Mioxen thƣợng Hệ tầng Đồng Nai (N13đn) Hệ tầng Đồng Nai phân bố rộng rãi ở cấu tạo, tương ứng tập địa chấn B3. Thành phần gồm các lớp hạt cát thô đến hạt mịn xen kẹp lớp bột, sét và than được thành tạo trong môi trường đầm lầy - đồng bằng châu thổ ở phần Tây bồn trũng đến rìa vịnh và biển nông ở phần Đông bồn trũng.
Bề dày của hệ tầng thay đổi lớn nhưng không có tầng chắn mang tính khu vực vì các lớp trầm tích phần lớn vẫn ở trạng thái bở rời hoặc gắn kết yếu vì thế nước biển rất dễ xâm nhập vào. Hóa thạch đặc trưng gồm Florsfhuetzia Meridionalis, Picaepollenitez, Dacridium, Stenochlaena Palustris Carya, Opercullina. Tuổi của hệ tầng được xếp vào Mioxen muộn. Thống Plioxen - Hệ đệ tứ Hệ tầng Biển Đông ( N2-Qbd) Hệ tầng Biển Đông chủ yếu là cát hạt trung mịn với ít lớp mỏng bùn, sét màu xám nhạt chứa glauconit thuộc môi trường trầm tích biển nông, ven bờ, một số nơi có gặp đá cacbonat.
Chúng phân bố và trải đều khắp toàn bồn trũng, với bề dày ổn định trong khoảng 400 - 700. Trầm tích của hệ tầng gần như nằm ngang, nghiêng thoải về phía Đông. Hệ tầng Biển Đông có chứa các hóa thạch foraminifera: Pseudorotalia, Globorotalia, dạng rêu, Molusca, san hô, rong tảo và bào tử phấn: Dacrydium, Polocapus. 15 Chương 1: Cấu trúc địa chất và tình hình dầu khí mỏ X bể Cửu Long 1.2 Đặc tính cấu kiến tạo Theo tài liệu địa chấn 3D và kết quả khoan, cấu tạo mỏ X là một khối nâng địa lũy của đá móng granit chôn vùi, kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, kích thước 28x6 km và biên độ 1400m theo đường đồng mức khép kín cuối cùng 4450m.
Sự tồn tại của các đứt gãy làm cho cấu tạo mỏ X có cấu trúc hết sức phức tạp và bị chia cắt ra các khối nâng khác nhau (Hình 1. Cấu trúc hiện tại của nóc móng được xác định bởi tầng địa chấn mặt móng SH- BSM, của phức hệ trung gian bởi các tầng SH-11, SH-10, SH-8, SH-7 và của phức hệ thềm (platform) bởi các tầng SH-5, SH-3, SH-2 và SH-1. Cấu tạo mỏ X có dạng các nếp lồi khép kín trong tất cả các tầng địa chấn: SH-BSM, SH-11, SH-10, SH-8, SH-7 và SH- 5, theo lát cắt càng đi lên phía trên thì các nếp lồi càng bị san phẳng và thu hẹp về kích thước. Trong phạm vi cấu tạo X, phần trên cùng của phức hệ thềm (SH-3, SH-2, SH-1) không tồn tại các cấu tạo khép kín, do đó trên bình đồ cấu trúc hiện nay, có thể xem cấu tạo X thuộc loại cấu trúc bị chôn vùi.
MặtMặt cắt địacắt chấnđịa mỏ chấn mỏVietsovpetro) X (nguồn Bạch Hổ 16 Chương 1: Cấu trúc địa chất và tình hình dầu khí mỏ X bể Cửu Long Cấu trúc của khu vực nghiên cứu bị chia cắt bởi vô số các đứt gãy đoạn tầng, tuy nhiên, theo lát cắt, càng đi lên trên thì tần suất bắt gặp chúng càng giảm, biên độ của đứt gãy giảm dần cho đến khi tắt hoàn toàn. Số lượng đứt gãy nhiều nhất là trong móng, đứng vị trí thứ hai là tầng kiến trúc của phức hệ trung gian (SH-11, SH-10), vị trí thứ ba là tầng kiến trúc của phức hệ thềm (SH-5). Căn cứ vào thời gian tắt hẳn của các đứt gãy, trong lát cắt chúng được chia ra đứt gãy trước Kainozoi, đứt gãy Paleogen và đứt gãy Neogen, còn về chủng loại gồm đứt gãy nghịch và đứt gãy thuận. Các đứt gãy Paleogen được coi là quan trọng nhất trong việc tạo thành các bẫy chứa, chúng phát triển không những trong phức hệ trung gian, mà còn cả trong đá móng.
Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, chúng đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành bẫy chứa và hệ thống nứt nẻ trong đá móng. Các đứt gãy chính chạy theo phương Đông - Bắc, có chiều dài và biên độ khá lớn, trên bình đồ cấu trúc, chúng phân bố á song song, một số kết hợp lại với nhau, đến lượt chúng lại bị chia cắt bởi các đứt gãy khác (Hình 1. Nếu như trong móng, do chiều cao của thân dầu dạng khối lớn (hơn 1800 m), ảnh hưởng của các đứt gãy lên cấu trúc của vỉa chứa bị hạn chế (ngoại trừ các đứt gãy nghịch ở cánh Tây của cấu tạo và một vài khối riêng rẽ ở vòm Bắc), thì trong lát cắt Oligoxen chúng có khả năng tạo ra các bẫy chắn kiến tạo. Các đứt gãy Paleogen thường kế thừa từ móng và có xu hướng hội tụ ở vòm Trung Tâm vì vậy càng làm cho khối Trung Tâm bị phân chia và dập vở nhiều hơn (Hình 1.
Phía Tây tầng móng mỏ X được giới hạn bởi các đứt gãy nghịch lớn có thể quan sát thấy trên các mặt cắt địa chấn, chúng cắt qua các giếng khoan: GK450, GK924, GK485, GK2001, GK140, trong lát cắt của các giếng này có thể bắt gặp sự lặp lại của địa tầng. Phương của các đứt gãy nghịch này trùng với phương kéo dài của cấu tạo. Phía Đông khối nâng móng được giới hạn bởi các đứt gãy thuận, biên độ từ vài chục mét đến vài nghìn mét, ở nơi gần với khối nhô cao chúng phân chia thành các đứt gãy nhỏ hơn.