Tổng quan nghiên cứu

Công tác đo đạc và thành lập bản đồ địa chính chính quy giữ vai trò nền tảng trong quản lý nhà nước về đất đai theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 Luật Đất đai năm 2013. Tính đến năm 2018, tỉnh Phú Thọ có 277 xã, phường, thị trấn nhưng vẫn còn 57 xã chưa hoàn thành đo đạc bản đồ địa chính chính quy, chiếm tỷ lệ khoảng 20,6%. Xã Thạch Khoán, huyện Thanh Sơn là địa bàn miền núi điển hình với tổng diện tích tự nhiên 1656,18 ha, trong đó địa hình đồi núi hiểm trở chiếm tới 65% diện tích, độ dốc trung bình từ 30 đến 35 độ và độ cao dao động từ 14,7 m đến 377,1 m (biên độ chênh cao đạt 362,4 m).

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi xuất phát từ thực trạng chia cắt địa hình sâu sắc, thảm phủ thực vật dày đặc khiến việc áp dụng phương pháp truyền thống bằng máy toàn đạc điện tử gặp trở ngại lớn về thông hướng ngắm, tiêu tốn nhiều nhân lực và dễ tích lũy sai số đường chuyền. Mục tiêu cụ thể của đề tài là ứng dụng công nghệ định vị toàn cầu GPS ở chế độ đo tĩnh để thiết kế, thi công và bình sai mạng lưới khống chế đo vẽ gồm 192 điểm, liên kết chặt chẽ với 05 điểm mốc tọa độ cấp trên hiện có. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian toàn xã Thạch Khoán từ tháng 11/2018 đến tháng 08/2019.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp hệ thống mốc khống chế tọa độ đạt độ chính xác cao theo chuẩn Thông tư 25/2014/TT-BTNMT, phục vụ trực tiếp cho công tác đo vẽ chi tiết và lập hồ sơ địa chính để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 1.640 hộ gia đình (khoảng 4.700 nhân khẩu), đồng thời tối ưu hóa chi phí sản xuất khoảng 28% so với phương pháp đo đạc truyền thống.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết định vị vệ tinh toàn cầu NAVSTAR GPS kết hợp với lý thuyết xử lý toán học trắc địa và bình sai lưới tự do/phụ thuộc. Nguyên lý định vị tương đối dựa trên việc thu nhận đồng thời tín hiệu sóng tải ở hai tần số L1 (tần số 1575,42 MHz, bước sóng 19,032 cm) và L2 (tần số 1227,60 MHz, bước sóng 24,420 cm) từ các vệ tinh chuyển động ở độ cao 20.200 km.

Thông qua các mô hình phân sai bậc một, bậc hai và bậc ba, phương pháp đo tĩnh triệt tiêu hoàn toàn sai số đồng hồ vệ tinh, sai số đồng hồ máy thu và loại trừ đáng kể ảnh hưởng của tầng điện ly cũng như tầng đối lưu. Cơ sở toán học xử lý số liệu dựa trên nguyên lý số bình phương nhỏ nhất nhằm cực tiểu hóa tổng bình phương số hiệu chỉnh véc tơ cạnh, xác định tọa độ không gian 3 chiều trong hệ quy chiếu WGS-84, sau đó chuyển đổi sang Hệ quy chiếu Quốc gia VN-2000 (múi chiếu 3 độ, kinh tuyến trục 104 độ 45 phút của tỉnh Phú Thọ) và hệ độ cao Hòn Dấu.

Các khái niệm then chốt được vận dụng gồm: véc tơ cạnh đáy (baseline), số nguyên đa trị pha sóng tải (ambiguity phase), hệ số suy giảm độ chính xác hình học không gian (PDOP) và sai số trung phương vị trí điểm mặt bằng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm hệ thống bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 đo vẽ theo Chỉ thị 299/TTg, các mốc trắc địa cấp quốc gia và số liệu quản lý đất đai do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ cung cấp. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp tại thực địa thông qua hệ thống máy thu vệ tinh chuyên dụng Hi-Target HD 8200X và South 9600.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 192 điểm khống chế đo vẽ được thiết kế rải đều toàn xã và 05 điểm mốc gốc (01 mốc địa chính cơ sở hạng III số hiệu 103467 và 04 mốc địa chính cấp 2 số hiệu 086166, 086167, 086169, 086170). Phương pháp chọn mẫu áp dụng nguyên tắc phân bố điểm theo cặp thông hướng quang học cục bộ, kết nối thành chuỗi tam giác và tứ giác khép kín để tối ưu hóa đồ hình hình học.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích bình sai bằng phần mềm DPSurvey và TGO là khả năng tự động hóa lọc bỏ tín hiệu nhiễu đa đường dẫn, kiểm soát chặt chẽ sai số khép hình đa giác và đánh giá chính xác các chỉ tiêu sai số trung phương vị trí điểm. Toàn bộ quy trình thực nghiệm và tính toán được thực hiện trong khung thời gian 10 tháng (11/2018 - 08/2019).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, độ chính xác hình học của mạng lưới GPS đo tĩnh vượt xa các tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 25/2014/TT-BTNMT. Sau khi bình sai phụ thuộc gắn với 05 điểm mốc gốc, sai số trung phương vị trí điểm lớn nhất của 192 mốc đo vẽ chỉ đạt 2,38 cm (thấp hơn nhiều so với giới hạn cho phép 5,0 cm đối với lưới khống chế cấp 1 và 7,0 cm đối với lưới cấp 2). Sai số trung phương tương đối cạnh đạt từ 1/35.000 đến 1/42.000, vượt trội so với yêu cầu tối thiểu là 1/25.000.

Thứ hai, thời gian thi công thực địa được rút ngắn tới 45%. Toàn bộ công tác đo ngắm 192 điểm mốc bằng công nghệ GPS chỉ mất 18 ngày công thực tế, trong khi phương pháp đường chuyền toàn đạc điện tử ước tính cần ít nhất 33 ngày công do phải phụ thuộc vào việc phát luổng thông hướng trong điều kiện đồi dốc 30-35 độ.

Thứ ba, hiệu quả nhân công và chi phí kinh tế được tối ưu hóa rõ rệt. Đội ngũ thi công GPS chỉ cần 2 người/tổ máy thu, giảm 35% định mức lao động so với tổ máy toàn đạc (cần từ 4 đến 5 người gồm người ngắm máy, ghi sổ và đi gương). Chi phí thực hiện phương án GPS tiết kiệm được 28% tổng dự toán nhờ cắt giảm chi phí nhân công phụ trợ và giải tỏa hành lang đo ngắm.

Thứ tư, 100% véc tơ cạnh đo độc lập đều đạt độ tin cậy toán học cao với hệ số Ratio lớn hơn 1,5 và hệ số lọc thô Gross Error lớn hơn 2,5, đảm bảo không có cạnh đo nào bị trượt chu kỳ pha.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự vượt trội của công nghệ GPS đo tĩnh tại xã Thạch Khoán là do phương pháp này không đòi hỏi thông hướng quang học trực tiếp giữa các điểm mốc cách xa nhau, triệt tiêu hoàn toàn sai số tích lũy góc và sai số khúc xạ khí quyển vốn rất phổ biến khi dùng máy toàn đạc trong địa hình chênh cao 362,4 m. Việc thiết lập thời gian đo ngắm đồng thời trên 30 phút với số lượng vệ tinh khỏe duy trì liên tục từ 6 đến 8 vệ tinh (chỉ số PDOP luôn dưới 2,8) đã cung cấp nguồn trị đo dư dồi dào để giải quyết chính xác số nguyên đa trị.

Trong các báo cáo trắc địa, dữ liệu kiểm định chất lượng thường được trình bày trực quan thông qua bảng phân bố sai số khép hình đa giác và biểu đồ so sánh định mức thời gian giữa hai công nghệ. Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu đo đạc địa chính tại vùng trung du Bắc Bộ, khẳng định công nghệ GPS là giải pháp tối ưu để thay thế mạng lưới đường chuyền truyền thống tại các khu vực đồi núi phức tạp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm tại xã Thạch Khoán, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản trị nhằm nâng cao hiệu quả đo đạc địa chính:

  1. Chuẩn hóa quy trình ứng dụng công nghệ GPS đo tĩnh và đo động RTK trong đo vẽ địa chính: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật áp dụng công nghệ định vị vệ tinh kết hợp trạm định vị vệ tinh dẫn đường liên tục (VRS/CORS), đặt mục tiêu tăng 60% năng suất đo vẽ chi tiết thửa đất và áp dụng thống nhất cho toàn bộ các huyện trong tỉnh từ Quý II/2020.

  2. Hiện đại hóa trang thiết bị thu nhận tín hiệu vệ tinh đa hệ thống: Các đơn vị tư vấn đo đạc cần nâng cấp thiết bị sang các dòng máy thu GNSS 2 tần số có khả năng thu nhận đồng thời tín hiệu GPS, GLONASS, Galileo và BeiDou, duy trì chỉ số PDOP dưới 3,0 trong điều kiện tán cây rậm rạp, lộ trình thực hiện liên tục trong giai đoạn 2020 - 2022.

  3. Nâng cao năng lực chuyên môn về xử lý toán học và bình sai số liệu: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Sơn phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức 03 khóa bồi dưỡng chuyên sâu về phần mềm bình sai (DPSurvey, Trimble Business Center) cho 100% cán bộ địa chính cấp xã nhằm loại bỏ triệt để sai số thô trong xử lý dữ liệu, hoàn thành trong giai đoạn 2020 - 2021.

  4. Tích hợp mạng lưới tọa độ vào hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai số: Ủy ban nhân dân xã Thạch Khoán cùng Văn phòng Đăng ký đất đai số hóa toàn bộ 192 mốc khống chế đo vẽ lên hệ thống thông tin đất đai quốc gia (VBDLIS), bảo đảm hoàn thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 1.640 hộ dân trước Quý IV/2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cán bộ quản lý và chuyên viên kỹ thuật tại Sở, Phòng Tài nguyên và Môi trường: Tài liệu cung cấp cơ sở khoa học và căn cứ thực tiễn để thẩm định phương án kỹ thuật - dự toán, kiểm tra nghiệm thu chất lượng lưới khống chế đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ lớn theo đúng Thông tư 25/2014/TT-BTNMT.

  • Các doanh nghiệp và đơn vị tư vấn khảo sát đo đạc địa chính: Cung cấp giải pháp tối ưu hóa quy trình tổ chức đo tĩnh GPS, phương pháp lựa chọn mốc gốc và bảng phân tích định mức kinh tế kỹ thuật giúp cắt giảm 28% chi phí sản xuất tại 57 xã còn lại của tỉnh Phú Thọ cũng như các vùng trung du, miền núi trên toàn quốc.

  • Giảng viên, học viên sau đại học và sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Kỹ thuật trắc địa - bản đồ: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật hoàn chỉnh về mô hình toán xử lý số liệu GPS, thuật toán phân sai pha sóng tải và kỹ thuật bình sai chuyển đổi tọa độ WGS-84 sang VN-2000.

  • Chính quyền địa phương cấp huyện và xã: Nắm bắt quy trình xây dựng hạ tầng dữ liệu không gian đất đai chuẩn xác, tạo tiền đề đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp ranh giới đất đai tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao công nghệ GPS đo tĩnh lại ưu việt hơn máy toàn đạc điện tử tại xã Thạch Khoán? Xã Thạch Khoán có 65% diện tích là đồi núi với độ dốc 30-35 độ và chênh cao 362,4 m. Máy toàn đạc điện tử đòi hỏi phải phát luổng thông hướng tầm xa gây tốn kém nhân công và dễ tích lũy sai số đo góc. Ngược lại, máy thu GPS thu nhận tín hiệu vệ tinh trực tiếp, đo đạc độc lập không phụ thuộc khoảng cách giữa các trạm máy, giúp giảm 45% thời gian thi công thực địa.

2. Độ chính xác của lưới khống chế 192 điểm tại Thạch Khoán có đạt chuẩn Thông tư 25/2014/TT-BTNMT không? Mạng lưới hoàn toàn đạt và vượt các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành. Sai số trung phương vị trí điểm sau bình sai lớn nhất đạt 2,38 cm (quy chuẩn cho phép dưới 5,0 cm đối với cấp 1 và dưới 7,0 cm đối với cấp 2). Sai số tương đối cạnh đạt mức 1/35.000 đến 1/42.000 (vượt mức tiêu chuẩn yêu cầu 1/25.000), bảo đảm độ tin cậy tuyệt đối để đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 đến 1:2000.

3. Khi đo tĩnh GPS trong điều kiện đồi núi, các thông số kỹ thuật nào cần được kiểm soát nghiêm ngặt? Cần tuân thủ thời gian đo ngắm tối thiểu 30 phút/ca đo, số lượng vệ tinh khỏe thu nhận đồng thời từ 5 vệ tinh trở lên, chỉ số hình học PDOP không vượt quá 4,0 (thực tế duy trì dưới 2,8), góc ngưỡng thu tín hiệu đặt từ 10 đến 15 độ, tỷ lệ giải đa trị Ratio lớn hơn 1,5 và hệ số Gross Error lớn hơn 2,5 để loại bỏ sai số đa đường dẫn.

4. Ứng dụng công nghệ GPS mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào cho dự án đo đạc? Phương pháp đo tĩnh GPS giúp tinh giản tổ máy từ 4-5 người xuống còn 2 người, giảm 35% nhân công thực địa và cắt giảm 28% tổng chi phí thi công nhờ không tốn phí phát quang thông hướng. Đồng thời, tiến độ hoàn thành mạng lưới 192 điểm được rút ngắn từ 33 ngày xuống còn 18 ngày làm việc.

5. Tọa độ đo bằng GPS được xử lý và chuyển đổi sang hệ tọa độ quốc gia bằng cách nào? Dữ liệu đo thô trong hệ quy chiếu WGS-84 được bình sai tự do để đánh giá độ chính xác nội tại, sau đó bình sai phụ thuộc gắn với 05 mốc tọa độ gốc Nhà nước và chuyển đổi sang Hệ tọa độ Quốc gia VN-2000 kinh tuyến trục 104 độ 45 phút, kinh tuyến gốc Greenwich, múi chiếu 3 độ thông qua phần mềm chuyên dụng DPSurvey.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội của công nghệ định vị GPS đo tĩnh trong xây dựng lưới khống chế đo vẽ tại vùng đồi núi phức tạp xã Thạch Khoán.
  • Thiết kế và bình sai thành công mạng lưới 192 điểm mốc khống chế với sai số vị trí điểm đạt dưới 2,38 cm, vượt xa chỉ tiêu kỹ thuật của Thông tư 25/2014/TT-BTNMT.
  • Giúp giảm 45% thời gian đo đạc thực địa, giảm 35% nhân lực và tiết kiệm 28% tổng chi phí sản xuất so với phương pháp đường chuyền toàn đạc điện tử.
  • Thiết lập nền tảng hạ tầng trắc địa vững chắc để hoàn thiện bản đồ địa chính chính quy, phục vụ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 1.640 hộ dân trên diện tích 1656,18 ha.
  • Đóng góp quy trình công nghệ chuẩn mực, có khả năng nhân rộng trực tiếp cho 57 xã còn lại chưa đo vẽ địa chính chính quy của tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn tới.

Đóng góp lớn nhất của công trình là giải quyết triệt để bài toán kinh tế - kỹ thuật trong công tác trắc địa địa chính tại địa bàn miền núi khó khăn. Các cơ quan quản lý và đơn vị đo đạc cần nhanh chóng đưa quy trình GPS đo tĩnh và RTK vào kế hoạch triển khai nhiệm vụ đo đạc địa chính tổng thể năm 2020 - 2025. Hãy liên hệ ngay với các đơn vị tư vấn chuyên ngành hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ để tiếp nhận chuyển giao quy trình kỹ thuật và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn sản xuất.