MỞ ĐẦU 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI Mạng lưới đường bộ nước ta hiện nay cần hàng triệu khối vật liệu để duy tu, bảo dưỡng mặt đường hàng năm. Trong khi các nguồn vật liệu này phân bố không đều, điều kiện khai thác khó khăn, và cự ly vận chuyển ngày càng xa nên tạo ra giá thành cao. Ngoài ra, nhựa đường phải nhập ngoại rất tốn kém trong khi nhựa chứa trong đường cũ là một nguồn giá trị bổ sung, việc tái sử dụng lượng vật liệu hiện có không những tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn giảm thiểu tác động môi trường. Vì vậy việc nghiên cứu công nghệ tái chế bê tông nhựa phù hợp cho Việt Nam là rất cần thiết.
Hiện nay trên thế giới có 4 công nghệ tái chế gồm: tái chế nóng tại trạm trộn và hiện trường, tái chế nguội tại trạm trộn và hiện trường [1]. Ở Việt Nam công nghệ tái chế nguội tại hiện trường (sử dụng nhũ tương hay bitum bọt kết hợp xi măng) và công nghệ tái chế nóng ở nhà máy (cho phép sử dụng dưới 25% bê tông nhựa thu hồi) đã thực hiện ở nhiều công trình. Công nghệ tái chế nguội mặt đường nhựa tại trạm trộn (Cold Central Plant Recycling) là công nghệ tái sử dụng vật liệu mặt đường nhựa cũ thu hồi – RAP (Reclaimed Asphalt Pavement) sau khi cào bóc, kết hợp với vật liệu mới tại trạm trộn để tạo nên hỗn hợp bê tông nhựa tái chế nguội (BTNTCN). Kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy, sử dụng công nghệ nhựa tái chế nguội mặt đường nhựa tại trạm trộn có nhiều ưu điểm như tiết kiệm chi phí do sử dụng lại vật liệu mặt đường nhựa cũ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, bê tông nhựa tái chế nguội có tính kinh tế hơn vì vật liệu không phải làm nóng, hỗn hợp bê tông nhựa tại trạm có thể dễ dàng vận chuyển từ trạm trộn đến công trường thi công [1, 2].
Với những ưu điểm của công nghệ tái chế nhựa nguội tại trạm trộn, hoàn toàn có thể đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng vào công tác duy tu, bảo dưỡng và làm đường mới với tải trọng thấp. -2- Công nghệ BTNTCN tại trạm trộn được thi công theo những bước cơ bản sau [2]: - Cào bóc lớp mặt đường nhựa cũ hiện hữu từ mặt đường; - Vận chuyển vật liệu về trạm trộn bê tông nhựa hoặc tồn chứa trong kho; - Nghiền và sàng vật liệu RAP theo kích thước mắt sàng phù hợp để khi phối trộn với cốt liệu mới (đá dăm, cát, bột khoáng) sẽ tạo nên cấp phối cốt liệu phù hợp; - Đưa RAP vào phễu chứa và vận chuyển đến buồng trộn để trộn chung với vật liệu mới theo cấp phối đã được thiết kế từ phòng thí nghiệm; - Vận chuyển hỗn hợp BTNTCN ra công trường và thi công (rải, lu lèn) như đối với lớp bê tông nhựa thông thường. Bên cạnh đó cũng cần nghiên cứu và ước đoán tỷ lệ pha trộn thực tế giữa nhựa đường cũ trong RAP với nhựa đường/ nhũ tương mới từ đó khuyến nghị chọn các tỷ lệ trộn áp dụng khi thiết kế sao cho đúng với làm việc thực tế của vật liệu. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Theo số liệu thống kê đến nay, tổng số chiều dài đường bộ của nước ta khoảng 210000 cây số, đường quốc lộ có chiều dài khoảng 15000 cây số.
Hầu hết toàn bộ các đường cấp I, II, III đã sử dụng phổ biến các loại mặt đường bê tông nhựa, khá nhiều mặt đường BTN có niên hạn sử dụng trên 10 năm, có khoảng 7600 cây số đường nên được nâng cấp, sửa chữa [1]. Về mạng lưới đường đô thị, tổng chiều dài mạng lưới đường BTN của các đô thị lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ. cũng đến hàng nghìn cây số.
Nhìn chung hệ thống đường này chủ yếu là đường cũ, kết cấu móng đường yếu. Về cường độ tổng thể nền mặt đường: Các đoạn đường xây dựng trước năm 2000 thường chỉ có mô đun đàn hồi (khi hoàn thành) từ 120 – 140 MPa. Các đoạn đường xây dựng sau năm 2000 thường có mô đun đàn hồi (khi hoàn thành) từ 140 – 180 MPa. Nhìn chung, việc tái sử dụng có hiệu quả vật liệu móng, mặt đường cũ ở nước ta còn chưa được quan tâm đúng mức, giải pháp thường áp dụng ở Việt Nam là bổ -3- sung lên mặt đường cũ lớp kết cấu mới.
Tại các khu vực bị khống chế cao độ (đường đô thị, đường đầu cầu, mặt cầu.) thường áp dụng giải pháp đào bỏ kết cấu cũ và thay bằng kết cấu mới. Các giải pháp này có nhiều điểm chưa phù hợp, làm cho cao độ mặt đường nâng lên quá cao và chưa tận dụng được lớp vật liệu cũ, trong khi nguồn tài nguyên đá của nước ta không còn phong phú như trước, giá nhựa đường ngày càng tăng cao. Đặc biệt là với hệ thống đường có móng đường yếu thì giải pháp phủ thêm 1 lớp sẽ ít hiệu quả hơn là giải pháp tái chế móng mặt đường. Do vậy, việc tái sử dụng lượng vật liệu hiện có không những tiết kiệm thời gian, chi phí mà còn giảm thiểu tác động môi trường.
Chính vì vậy, nhu cầu tái chế đường bộ Việt Nam hiện nay và trong tương lai sẽ rất lớn. Việc nghiên cứu công nghệ tái chế bê tông nhựa phù hợp cho Việt Nam là rất cần thiết. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI Đề tài tập trung nghiên cứu thiết kế tối ưu hàm lượng nhũ tương mới thêm vào hỗn hợp BTNTCN. Dựa trên kết quả thiết kế hàm lượng tối ưu đó, tiến hành đúc mẫu khảo sát các chỉ tiêu cơ lý của hỗn hợp BTNTCN so sánh với mẫu đối chứng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu:Nghiên cứu cấp phối BTNTCN với hàm lượng 30%, 60% và 100% bê tông nhựa thu hồi (BTNTH). Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tổng quan tái chế mặt đường bê tông nhựa. Thiết kế cấp phối BTNTCN. Lựa chọn hàm lượng nhũ tương tối ưu đưa vào hỗn hợp BTNTCN.
So sánh và đánh giá chất lượng các loại cấp phối BTNTCN. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Nắm được tính chất cũng như đặc điểm kỹ thuật và chất lượng của vật liệu tái chế BTN cũng như quy trình thí nghiệm, nghiệm thu của nó. Đưa ra cấp phối tối ưu áp dụng vào tái chế BTNTCN ở Việt Nam. Sự đóng góp của vật liệu mới cho đất nước: - Giảm bớt rác thải công nghiệp: với nhịp độ công nghiệp hoá đất nước diễn ra nhanh như hiện nay giải quyết rác thải công nghiệp và vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên ngày càng cấp thiết.
Công nghệ tái chế bê tông nhựa cho phép thu hồi và sử dụng lại lớp bê tông nhựa cũ, hư hỏng nhằm giải quyết được vấn đề cấp thiết hiện nay. - Giảm lãng phí tài nguyên: Với mức độ khai thác tài nguyên đá phục vụ cho công nghiệp như hiện nay có thể dẫn đến khan hiếm và cạn kiệt tài nguyên Việt Nam. Nhờ sử dụng lại lượng đá thu hồi từ bê tông nhựa cũ vào sản xuất, công nghệ mới cho phép tiết kiệm tài nguyên đá lên đến 50%. - Tạo ra công nghệ mới: công nghệ tái chế bê tông nhựa tại trạm mặc dù đã được ứng dụng phổ biến rộng rãi tại nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa được thực hiện nhiều ở Việt Nam.
Việc đưa công nghệ mới này vào Việt Nam sẽ đánh dấu một bước tiến trong khoa học, kỹ thuật và công nghệ của đất nước. - Thúc đẩy nền công nghiệp sản xuất bê tông nhựa trong nước: bước tiến vào công nghệ tái chế bê tông nhựa tại trạm sẽ thúc đẩy các nhà sản xuất và đầu tư tập trung hơn về công nghệ, khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm, tạo ra sự cạnh tranh có lợi cho nền công nghiệp Việt Nam. NỘI DUNG LUẬN VĂN Chương 1: Mở đầu. Chương 2: Tổng quan.
Chương 3: Thiết kế bê tông nhựa tái chế nguội. -5- Chương 4: Đánh giá tính chất cơ lý các hỗn hợp bê tông nhựa tái chế nguội. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. NỘI DUNG THỰC HIỆN LUẬN VĂN Mở đầu Tổng quan Thiết kế bê tông nhựa tái chế nguội Đánh giá tính chất cơ lý các hỗn hợp bê tông nhựa tái chế nguội Kết luận và kiến nghị Hình 1.1 Nội dung thực hiện luận văn.
-6- CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG NHỰA 2.1 Định nghĩa và phân loại Bê tông nhựa là hỗn hợp giữa nhựa đường, cốt liệu đá, khoáng vật tạo nên một hỗn hợp khi nén chặt lại có một cường độ nhất định chịu được bào mòn có thể trải để làm lớp áo đường. Được sử dụng trong các công trình như: đường ô tô, sân bay, bến bãi…. Dựa vào tỷ lệ của các thành phần cốt liệu hay sự phân bố cỡ hạt có thể phân loại bê tông nhựa thành 3 loại: cấp phối hở (Open-graded), cấp phối gián đoạn (Gap-Graded), cấp phối liên tục (Continuous-graded). Dựa vào nhiệt độ sản xuất có thể phân ra thành: bê tông nhựa rải nóng, bê tông nhựa rải ấm và bê tông nhựa rải nguội.2 Độ bền của vật liệu bê tông nhựa Mặt đường bê tông nhựa nói chung là để chịu tác động của tải trọng giao thông trong điều kiện khí hậu nhất định.
Trong vòng đời khai thác, mặt đường bê tông nhựa phải chịu được những tác động để nâng cao được hiệu quả sử dụng. Do đó, độ bền của mặt đường bê tông nhựa được khái niệm như sau (trích dẫn trong Scholz, 1995): "Độ bền của hỗn hợp bê tông nhựa được định nghĩa là khả năng chống lại các tác động của nước, lão hóa và sự thay đổi nhiệt độ của hỗn hợp vật liệu, trong quá trình khai thác mà không bị suy giảm đáng kể trong thời gian dài "[3].2 TỔNG QUAN VỀ TÁI CHẾ MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA Những nghiên cứu về các vấn đề kinh tế và môi trường đã thúc đẩy nền công nghiệp tái chế thép, nhôm, chất dẻo, … và các loại vật liệu khác. Trong số đó, bê tông nhựa là một trong những loại vật liệu có thể tái chế đã được các nhà nghiên -7- cứu và đầu tư trên thế giới đưa vào ứng dụng rộng rãi. Theo nhà nghiên cứu Taylor, bê tông nhựa tái chế (Reclaimed Asphalt Pavement - RAP) đã được đề cập đến từ năm 1915 nhưng nó không được phổ biến rộng rãi.
Đến năm 1970, nhu cầu sử dụng RAP trở nên thiết thực do sự gia tăng giá thành của nhựa đường và sự khan hiếm của vật liệu đá.