CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu về biến động giữa lượng mưa và lớp phủ thực vật là một trong những nghiên cứu rất hấp dẫn và đa dạng về nội dung, quy mô và cách thức.
Nước chính là một trong những thành phần quan trọng nhất cho sự phát triển của thực vật. Trong nhiều hệ sinh thái như đất trồng trọt, đồng cỏ,… sự phát triển của cây trồng thể hiện rõ rệt trong mùa mưa. Hiển nhiên, khi hạn hán thiếu nước cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển khó khăn thậm chí là có thể bị tiêu diệt. Mưa đến mang theo sức sống và nguồn dinh dưỡng để cung cấp cho hệ sinh thái phát triển mạnh mẽ, đa dạng.
Tuy nhiên một số hệ sinh thái khác mà phụ thuộc chủ yếu vào mực nước ngầm như ở miền Bắc của Nga, châu Âu, Bắc Mỹ… lại có phản ứng ít hơn với thay đổi về lượng mưa [35]. Nghiên cứu của NASA trên phạm vi toàn cầu từ ảnh MODIS trên vệ tinh Tera và dữ liệu đo lượng mưa nhiệt đới (TRMM) cho thấy có quan hệ giữa lượng mưa và thảm thực vật tại khu vực phía nam châu Phi và phía nam châu Á. Những cơn mưa theo mùa tạo thành một vành đai gần xích đạo trên toàn cầu. Ở vùng Sahel châu Phi vào tháng 6,7,8 khi những cơn mưa di chuyển về phía bắc xích đạo, thảm thực vật phát triển mạnh mẽ.
Vào tháng 9, mưa di chuyển về phía Nam cùng với đó là sự di chuyển phát triển tương ứng của thực vật làm động, thực vật khu vực này phát triển mạnh mẽ. Trái lại, ở vùng Sahel thảm thực vật lại đang có chiều hướng suy giảm. Khu vực Ấn Độ và Đông Nam Á, gió mùa kiểm soát sự tăng trưởng thực vật. Những cơn mưa theo mùa bắt đầu ở Đông Nam Á vào tháng 4 và tháng 5 làm cho thực vật phát triển mạnh mẽ rồi di chuyển dần về phía tây Ấn Độ vào tháng 6 hoặc tháng 7.
Thảm thực vật sau đó lại giảm dần vào cuối mùa thu. Tuy nhiên tại một số vùng khác, một điều thú vị là vào những tháng khô nhất (tháng 6 – tháng 9) như khu vực rừng rậm Amazon, thực vật lại phát triển mạnh nhất. Giải thích cho nguyên nhân này là do rừng chủ yếu dựa vào nguồn nước ngầm dồi dào quanh năm, khi thời tiết khô thì nước ngầm càng dâng cao, cây trồng càng sinh trưởng phát triển mạnh mẽ. Trong diễn đàn cảnh quan toàn cầu (Global Landscapes Forum) được tổ chức tại Bon, Đức năm 2017, đã đưa vấn đề mối quan hệ giữa cây cối, nước và khí hậu trở thành tâm điểm của cuộc thảo luận [25].
Theo diễn giả Davi Ellison đã chỉ ra rằng nếu nạn phá rừng gia tăng ở khu vực sông Nile xanh có thể sẽ làm mất tới 25% lượng mưa ở vùng cao nguyên 5 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Diễn đàn đã phác thảo một chương trình nghị sự mới về nước, đất đai và khí hậu để từ đó thúc đẩy các nghiên cứu khoa học, chính sách phối hợp vào thực tế cho thấy sự quy mô và rộng mở khi nghiên cứu đến mối quan hệ giữa nước và thực vật. Có thể nói nghiên cứu về biến động lớp phủ thực vật đã được thực hiện và duy trì liên tục trên toàn thế giới. Tùy mục tiêu đặt ra, nghiên cứu biến động lớp phủ thực vật sẽ rất khác nhau.
Thông qua nghiên cứu biến động lớp phủ thực vật có thể xác định được hiện trạng sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất, lượng các bon dự trữ, tình trạng sức khỏe thực vật… Gần đây, thông qua nghiên cứu liên ngành đặc biệt là kết hợp ứng dụng GIS và viễn thám để theo dõi sự biến động lớp phủ thực vật trong thời gian dài đã được liên hệ chặt chẽ với mối quan hệ giữa thoái hóa đất đai. Vào những năm đầu của thập nhiên 90, nghiên cứu thoái hóa đất đai được các nhà khoa học tập trung chủ yếu vào đi tìm hiểu sự suy thoái về mặt tính chất hóa học, lý học của đất. Dự án có quy mô toàn cầu lớn nhất từ trước đến nay phải nhắc đến nghiên cứu của Oldeman (GLASOD) [37], với sự hợp tác từ rất nhiều nhà khoa học trên toàn thế giới để lần đầu tiên thành lập được bản đồ thoái hóa đất toàn cầu tỷ lệ 1: 10. Trong nghiên cứu đã phân cấp mức độ thoái hóa thành 3 cấp nhẹ, trung bình và mạnh hoặc rất trầm trọng.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy trên thế giới có tới 1.965 triệu ha diện tích đất đang bị thoái hóa dưới các mức độ và tình trạng khác nhau. Nghiên cứu cũng đưa ra 5 tác nhân chính do sự can thiệp của con người gây ra thoái hóa đất bao gồm phá rừng, khai thác và chăn thả quá mức, sản xuất nông nghiệp và các hoạt động công nghiệp. Chính những tác nhân này là hậu quả của hàng loạt các hiện tượng suy thoái đất do xói mòn nước, gió hay suy thoái lý hóa học của đất. Kết quả của nghiên cứu này đã tăng cường được nhận thức cho các nhà hoạch định chính sách và nâng cao sự cẩn trọng trong việc quy hoạch và sử dụng đất.
Lần đầu tiên thế giới có được một bản đồ số về thoái hóa đất đai toàn cầu để làm cơ sở cho những hành động và chiến lược phục hồi, sử dụng đất bền vững cho nhiều vùng, lãnh thổ trên thế giới. Tiếp nối nghiên cứu của Oldeman sau đó là những nghiên cứu chi tiết hơn cấp khu vực và lãnh thổ. Năm 1997 kế thừa và phát triển phương pháp nghiên cứu tương tự như trên van Lynden và Oldeman đã đánh giá thoái hóa đất do con người ở vùng Nam, Đông Nam Nam Á (ASSOD) [33]. Dự án đã có sự hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu của 17 quốc gia trong khu vực thay vì làm việc với các chuyên gia độc lập như trước đây để tăng cường độ tin cậy trong cơ sở dữ liệu, tính pháp lý… Dữ liệu 6 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam của dự án khác với dữ liệu toàn cầu ở chỗ không chỉ được thể hiện trong bản đồ số mà còn được lữu trữ trong một bộ cơ sở dữ liệu không gian nhằm hỗ trợ truy vấn, khai thác cho nhiều cơ quan, tổ chức, các nhà lãnh đạo, nghiên cứu.
Chính điều này đã cho phép có thể mô tả rất nhiều những bản đồ chuyên đề khác nhau từ cơ sở dữ liệu thông qua các phần mềm GIS chuyên dụng, đây có thể coi là sự cải tiến rất lớn so với phương pháp xây dựng bản đồ toàn cầu “thủ công” trước đây. Ngoài ra mức độ chi tiết của bản đồ cũng được nâng từ tỷ lệ 1: 5.000 trước đấy. Có nhiều điểm cần lưu ý khi so sánh kết quả của bản đồ thoái hóa đất toàn cầu với bản đồ thoái hóa đất vùng Nam và Đông Nam Á. Theo kết quả thống kê từ dữ liệu thoái hóa đất toàn cầu thì xói mòn do nước gây ra chiếm 72,7% diện tích đất bị thoái hóa, trong khi đó kết quả thống kê từ dự án chỉ là 46,7%.
Kết quả cũng chỉ ra với mỗi quốc gia, những tác nhân gây thoái hóa đất cũng có những ảnh hưởng rất khác nhau. Như tại Trung Quốc xói mòn do nước tuy chỉ chiếm 19% diện tích so với 48% so với Philíppin nhưng lại lại chiếm đến tận 180 triệu ha bị thoái hóa. Rõ ràng việc hạ quy mô độ phân giải, hay nâng cao mức độ chi tiết vùng nghiên cứu đã cho thấy những phát hiện mới quý giá cho công tác nghiên cứu về suy thoái đất đai tại khu vực. Những phát hiện đã chi tiết hóa hơn, có sự so sánh cả về mức độ và diện tích giữa các tác nhân của 17 nước trong vùng nghiên cứu.
Việc đánh giá thoái hóa được ước lượng định tính qua sự ảnh hưởng đến khả năng sản xuất theo 5 cấp: không đáng kể, yếu, trung bình, mạnh và cực đoan như (Hình 1.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đồ thị biểu diễn mức độ và diện tích ảnh hưởng của suy giảm tính chất hóa học đất ảnh hưởng đến sản xuất Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu từ dự án cũng chỉ ra một số hạn chế khi tổng diện tích các tác nhân gây thoái hóa lại nhiều hơn so với diện tích đất tự nhiên. Rõ ràng, giữa các tác nhân gây thoái hóa đã có sự chồng lấn, nhưng rất khó để tách biệt được mức độ ảnh hưởng của từng tác nhân với nhau. Một vấn đề nghiên cứu nữa còn tồn tại đó là sự phân biệt sự thoái hóa gây ra bởi con người hay tự nhiên vẫn còn hạn chế.
Nhiều khu vực rất khó có thể phân biệt được liệu xói mòn do nước là nguyên nhân bắt nguồn từ yếu tố tự nhiên hay do các hoạt động can thiệp của con người vào tự nhiên gây ra. Cũng trong thời kì đó ở cấp quốc gia Stolbovoi và Fisher cũng thực hiện nghiên cứu về thành lập “ Bộ cơ sở dữ liệu địa lý mới cho thoái hóa đất tại Nga” [49]. Trên cơ sở kết thừa các dữ liệu của Ủy ban tài nguyên và quy hoạch đất đai Nga cũng với dữ liệu thoái hóa đất toàn cầu. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy có đến 243 triệu ha tương 8 (LUAN.nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nam ứng với 14.5% diện tích của Nga đã bị ảnh hưởng bởi suy thoái đất do nhiều các yếu tố khác nhau như thay đổi kinh tế - xã hội, sự quản lý không phù hợp và kỹ thuật.
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ của thoái hóa và mất năng suất sản xuất của đất tại Nga đã tăng nhanh chóng. Các thông tin liên quan đến thoái hóa đất được thiết kế và xây dựng chuẩn hóa chi tiết theo kỹ thuật thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu và được khai thác bởi ứng dụng GIS nổi tiếng ARC/INFO. Kết quả là một bộ cơ sở dữ liệu nhất quán, có tính liên kết rõ ràng về đất, thực vật, lớp phủ, hiện trạng sử dụng đất,… đã được xây dựng phục vụ đa mục đích khai thác và sử dụng. Năm 1994, Công ước Liên hợp quốc tế về chống sa mạc hóa (UNCCD) ra đời.
Công ước pháp lý quốc tế duy nhất vẫn còn giá trị đến ngày nay gắn chặt với vấn đề con người, di cư, hòa bình, an ninh và an ninh lương thực. Sau công ước UNCCD năm 1997, bản đồ sa mạc hóa thế giới do Middleton và Thomas nghiên cứu đã được thành lập dưới sự hỗ trợ của UNEP [34].