Chương 1. Những van đề lý luận về tư pháp phục hồi Chương 2. Kinh nghiệm áp dung tư pháp phục hôi đối với người chưa thành nién vi pham pháp luật của mét s6 quốc gia trên thé giới Chương 3. Dé xuat cho Việt Nam trong việc xây dựng và phát triên tư pháp phục hổi đối với người chưa thành miên vi phạm pháp luật từ kinh nghiệm quốc tế sf NOI DUNG DE TAI CHU ONG 1: NHUNG VAN DE LY LUẬN VE TU PHÁP PHUC HOI 1.
Khái niệm tư pháp phục hồi 1. Dinh ughia te pháp phục hồi Thuật ngữ “Tư phép phục hồi” (Restorative Justice) xuất hiện trên thê giới cách đây khá lâu. Một số thông tin cho rằng thuật ngữ tư pháp phục hỏi lần đầu tiên được sử dung là của Albert Eglash trong một số bài báo năm 1958, trong đó ông đề xuất rang có ba loại tư pháp hình sự, bao gồm tư pháp trừng phạt, dựa trên sư trùng phat; tư pháp phân. phôi, dựa trên việc đối xử trị liêu đối với những người pham tội và tư pháp phục hôi, dựa trên sự béi thường! Thuật ngữ “Tư pháp phục hôi” còn được biết dén với các tên gọi khác mang ý nghĩa mô tả tương tự, đó là “công lý phục hôi”, “tư pháp quan hệ”, “tư pháp so sánh”, “tư pháp công đông”, “tư pháp tích.
Thực tê cho thay thuật ngữ “Tư pháp phục hôi” chưa có một định nghĩa thong nhat và chính thức, được các tác giả, nhà nglién cứu, tổ chức. đến từ nhiêu quốc gia, ku vực định nghĩa cũng như được áp dụng thực hiện theo các cách thức khác nhau. O Việt Nam, tư pháp phục héi được xem là một thuật ngữ tương đổi mới. Dưới góc đô nước ngoài, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung làm 16 mét số định ngiữa của các tác giả dưới đây: Theo Jon Collins — một Giám đốc điều hành Hội đông Tư pháp phục hội, “hr pháp phục hồi là một quả trình hiệu quả đối với tội phạm, thé hiện qua việc trao quyền cho nan nhân bằng cách cho họ cơ hội gặp gỡ hoặc giao tiếp với người phạm tội đề giải thích tác đồng thực sự của tội ác gay ra đồng thời bude những người phạm tôi phải chịu trách nhiễm về những gì họ đã làm và giúp ho chịu trách nhiệm và sữa chữa °° Tony Marshall — một Nhà tội phạm học đưa ra một định nghia khác, ngắn gọn hơn.
rằng, “Từ pháp phục hồi là một quá trình thông qua đó những bên liên quan tới một hành vi phạm tội cụ thé cùng nhan quyết định về cách thức giải quyết hân quả của hành vi vi Š Daniel W. Van Ness, Karen Heetderks Strong (2015), Restoring Justice : An Introduction to Restorative Jiufice, Fifth Edition, Anderson Publishing, Walham,pg 23. * Handbook on restorative justice programmes (2006), Criminal justice handbook series, United nations office on drugs and crime Viera, United nations NewYork 2006,pg 6. “ Restorative justice Council (2015), Restorative justice coud the judiciaay Byormation pack,pg3- § phạm này và các hận quả trong tương lai.
* Trong khi đó, tác giả Howard Zehr lại nhân manh: “Tư pháp phục hồi là một quả trình nhằm muục dich tấp hop, càng nhiều càng tốt, tat cả các bên liên quan đến một hành vi phạm tôi cu thé và tìm cách cùng xác định và giải quyết sự dan đớn phải gánh chịu, nh cẩu và ngiña vi để chữa lành và khắc phục nhiều nhất có thé!” Như vậy, giữa các tác giả này đều có sự tương đông nhất định về nội ham của tư pháp phục hôi. Theo đó, các tác giả đều nhận định rang tư pháp phuc hôi là mat quá trình mà ở đó gdm có những bên liên quan đến hành vi vi vi phạm pháp luật sẽ cùng đền với nhau và đều hướng dén mục đích cuối cùng là tim ra cách giải quyết hau quả của hành vi phạm tôi mét cách tốt nhật. Tuy những đính nghia ma các tác giả đưa ra có sự thông nhật về một số nôi dung nhưng vấn có một số điểm khác biệt trong việc thé hiện, nhân mạnh. những khía cạnh khác nhau.
Thứ nhất, về cách thức thực hiên tư pháp phục hồi. Trong đính ngliia của Jon Collins, ông đã mô tả tư pháp phục hồi là “thể hiện qua việc trao quyền cho nạn nhân bằng cách cho họ cơ hỗi gặp gỡ hoặc giao tiếp với người phạm tôi.” Tác giả Howard Zehr lại nhân mạnh tư pháp phục hồi là “một quá trình nhằm mue dich tập hợp, càng nhiều càng tốt, tất cả các bên liên quan đến một hành vi phạm tôi cu thể.” Không mô tả cụ thể như hai tác giả trên, Tony Marshall chi ra ngắn gon rằng tư pháp phục hôi là “những bén liên quan đến hành vi phạm tôi cùng nhau quyết đình cách thức giải quyết.” Như vậy, giữa các đính nghiia đang có sự khác biệt về thê hiện cách thức thực hiện tư pháp phục hồi khi dang có sự cụ thé hóa vân đề không giéng nhau hay như tác giả Tony Marshall lai có sự mô tả theo hướng khác. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, ở môi quốc gia, mỗi khu vực, việc áp dung tư pháp phục hôi là khác nhau và dé đảm bảo một định ngiĩa mang tính khái quát, có thé dé dang sử dụng réng rãi thì nhom nghiên cứu xét thay không cân đề cập cu thé hóa cách thức thực hiện như thé nao trong định nghia về tư pháp phục hôi. Do đó, đính nghĩa mà tác giả Tony Marshall đưa ra phù hợp hon, tuy 7 Allison Morris and Gabrielle Macxorell (2001) , Restorative Justice for Juveniles Conferencing Mediation and , pg 5.
Carcles , Hart Publishing 3 Filippi Jessica, Lepage 7anigue,, Audebrand Fabrice (2020), Tài hiệu đào tạo: Bao vệ NCTIN: Tang cường ning lực về ne pháp phục hốt cho NCTN tai Việt Nem ,tr. 9 nhiên cân nhân mạnh thêm việc “những bên liễn quan đến hành vi phạm tội cùng nhan quyết đình cách thức giải qu ết” phải đưới sự sắp xếp của cơ quan chủ thê có thâm quyền dé đảm bảo tdi đa quyền và nghiia vụ giữa các bên khi tham gia tư pháp phục hôi. Thự hai, về đối tượng. Tác giả Jon Collins nhân manh nạn nhân và người phạm tôi là trực tiếp tham gia vào quá trình tư pháp phục hồi.
Trong khi đó, các tác giả Tony Marshall va Howard Zehr lại đều đề cập đến rang tư pháp phục hôi có sự tham gia của tat cả các bên liên quan dén một hành vi pham tội cụ thể. Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, định ngiữa ma hai tác giả này đưa ra có sự khái quát, tông quan và dam bảo tinh chính xác hơn. Bỡi 1é, ngoài nan nhân và người phạm tôi thì công đông cũng có thé tham. gia vào tư pháp phục hồi với vai trò hỗ tro, phòng ngừa, lập kê hoạch giúp dé NCTN Thứ ba, về mục dich, giá trị của áp dung tư pháp phục hôi.
Mục đích của tư pháp phục héi mà các tác giả nêu trên đưa ra đều hướng đến việc giải quyết hau quả của hành vi phạm tôi một cách một cách tốt nhật. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có một cách thể hiện riêng Jon Collins khẳng định là “dé giải thích tác động thực sự của tội ác gây ra đồng thời buộc những người phạm tội phải chiu trách nhiệm về những gì ho đã làm và giúp ho chịu trách nhiệm và sữa chữa “ Tác giả Tony Marshal thi cho rằng là dé “quyết định về cách thức giải quyết hậu: quả của hành vi vi phạm này và các hận quả trong tương lai.” Trong khi đó, tác giả Howard Zehr nhân mạnh là dé “cing xác định và giải quyết sự đau đớn phải ganh chịu, nha cẩu và ngiãa vu dé chữa lành và khắc phục nhiều nhất có thé.” Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu, mỗi mục đích, giá trị ma các tác gid đề cap đều có điểm hop lý nhưng không thé tông quát hết được vì mục đích, giá tri của việc thực hiện tư pháp phục hôi là tương đối nhiêu. Vì vậy, qua việc xem xét và tong hợp các quan điểm về đính nghĩa trên, nhóm nghién cứu nhận. thây có thể xác định ngắn gọn là để tìm ra phương hướng giải quyết vụ vi phạm.
Tử những phân tích trên, nhóm nghiên cứu xin đưa ra định nghĩa tư pháp phục hồi như sau: Từ pháp phục hồi là một quá trình mà thông qua đó tat cả bên có liễn quan đến hành vi vi phạm pháp luật cụ thé sẽ cùng đến với nhan dé tim ra phương hướng giải quyết vu vì phạm đưới sự sắp xếp của chủ thể, cơ quan có thâm quyền 10 Việc áp dụng tư pháp phục hôi chi phù hợp trong xử lý nhũng trường hợp pham tôi nhất định, đặc biệt hướng đến nhiều hơn về các vụ án liên quan đền NCTN phạm tội — là những đôi tượng trên thực tê hau hết chưa đủ tuổi chiu trách nhiệm hình sự hay khung hình phạt áp dung cho đối tương này có thể còn chưa phù hợp trên thực tế. Vi vậy, trong bai nghiên cứu khoa học nảy nhóm nghiên cửu cũng sẽ tập trung phân tích về tư pháp phục hồi áp đụng ở NCTN pham tôi 1. Đặc điêm của t pháp phục hồi 1. Tư pháp phục hồi có thé áp dụng một cách linh hoạt dé thay thé, được thực hiện bên ngoài hoặc bỗ sung cho hệ thông tư pháp hình sự truyễn thông Tư pháp truyền thông mang tính cưỡng chế nhà nước, nhân mạnh vào tội lỗi và sự trùng phat đối với hành vi xâm hại các quan hệ xã hội ma pháp luật bảo vệ do người pham tôi thực hiện Tư pháp truyền thong chú trọng dén nhân thân của người phạm tội.
Mục dich của tư pháp truyền thông là phải xác đính rõ và xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật. Vi vậy, người phạm tội sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hành vi đó trước nhà nước và bị áp dung chế tai nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Điều nay có thể khiên cho NCTN phạm tội nói riêng và tat cả người phạm tội nói chung gap khó khăn, cảm thay bản thân đang bi bat buôc trong việc bay tỏ su ăn nan hồi hận, chua thật sự hồi lỗi, mong muốn được khắc phục thiệt hai với nạn nhân, với công dong và không có trách nhiệm với chính hành vị phạm tôi của mình. Trong khi đó, tư pháp phục hội diễn ra không chỉ đơn thuân nhằm mục đích trùng phat ma con thông qua các phương thức, biện pháp đa dang dé hòa giải, phục héi và sửa chữa các môi quan hệ trên tinh than tự nguyên thỏa thuận giải quyết các nhu cầu của nạn nhân, cộng đồng và buộc người pham tdi thật sự có trách nhiệm đôi với hành vi thiệt hai ma ho gây ra.