Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về mặt lý thuyết Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng TNNN là một dạng phương ngữ xã hội, được dùng hạn chế trong phạm vi những người làm một nghề nghiệp nào đó.
Tuy nhiên, đứng từ những góc độ khác nhau, có các quan điểm khác nhau về TNNN: Quan điểm thứ nhất, TNNN là một lớp từ ngữ trong hệ thống của một ngôn ngữ và xuất hiện trong những nghề truyền thống. TNNN được đề cập nhiều trong các công trình ngôn ngữ học đại cương, chẳng hạn như: YU. Xtêpanov trong cuốn Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương đã xếp TNNN vào nhóm các ngôn ngữ thời đại hình thành dân tộc. Đó là một dạng phương ngữ xã hội, là “những ngôn ngữ quy ước” và “là phương tiện giao tế của hàng vạn người bán hàng rong, những ofenja và của những người thợ thủ công – những thợ bật len, thợ đóng yên cương, những thợ thuộc da cừu, thợ may và những thợ thủ công khác vốn là những người nông dân đi làm từng vụ” [62, tr.
Bonđaletov phân biệt tiếng nghề nghiệp với biệt ngữ của một nhóm người (học sinh, sinh viên…), tiếng ước lệ (của những kẻ đồi trụy, thoát ly sản xuất) khi cho rằng: “Những tiếng nghề nghiệp thật sự (đúng hơn là những hệ thống từ vựng), ví như “tiếng” của người đánh cá, những người đi săn, thợ đồ gốm, công nhân làm gỗ, người làm len, thợ đóng giày và cả những người làm các ngành nghề khác” [dẫn theo 37, tr. Rozdextvenxki đã đề cập tới TNNN khi cho rằng, từ điển bách khoa là một trong những cơ sở của giáo dục ngôn ngữ nghề nghiệp, vì nó “lựa chọn và 7 giải thích vốn từ vựng nghề nghiệp” – lớp từ được “cá nhân học theo loại hình công việc” [dẫn theo 20, tr.Trubachev khi nghiên cứu thuật ngữ các ngành thủ công trong các tiếng Xlavơ cho rằng, “các thuật ngữ của nghề đan lát, một ngành thủ công nguyên thủy, về sau đã trở thành các thuật ngữ của ngành dệt, khi mà ngành này thay thế cho những ngành thủ công thô sơ nhất” [dẫn theo 62, tr. Lênin nhận xét về phương ngữ xã hội này như sau: Biệt ngữ riêng của dân cư ở Krasnoe không phải không đáng chú ý, đó là đặc điểm của tính biệt lập về lãnh thổ cố hữu của công trường thủ công” [dẫn theo 62, tr. Như vậy, theo quan điểm này, TNNN là một lớp từ ngữ trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, có sự phân biệt với các lớp từ vựng khác như thuật ngữ, biệt ngữ, từ lóng.
chỉ tồn tại ở những ngành nghề sản xuất truyền thống (thủ công) là chính, không tồn tại ở những ngành nghề hiện đại, những ngành nghề có sự áp dụng khoa học công nghệ cao. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về TNNN theo quan điểm này chủ yếu được thực hiện ở Nga với các công trình nghiên cứu của YU. Xtêpanov, Bonđaletov, IU. Quan điểm thứ hai, TNNN trong tiếng Việt tương đương với thuật ngữ professional jargon (biệt ngữ chuyên môn) trong tiếng Anh.
Đây là một dạng biệt ngữ được sử dụng bởi những người cùng làm trong những nghề riêng biệt hoặc buôn bán [89]. “Từ ngữ nghề nghiệp khác với tiếng lóng; tiếng lóng luôn luôn phi logic, trong khi TNNN có logic đối với một đối tượng cụ thể. Loại từ ngữ này thường được sử dụng trong các ngành quân sự, tài chính, y tế, công nghệ thông tin và giáo dục. Tuy nhiên, đôi khi nó được xuất hiện một số lĩnh vực khác nữa” [87].
Chẳng hạn, những người không thông thạo lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ không có tri thức về CPU (central processing unit - đơn vị xử lý trung tâm); những người ngoài ngành quân đội sẽ không thể hiểu được TD - Temporary duty (nhiệm vụ tạm thời)… Có thể thấy rằng, TNNN theo quan điểm thứ hai bao gồm cả thuật ngữ và biệt ngữ, chẳng hạn như những từ RAM, bit, 8 byte, CPU và hệ thập lục phân (vốn được coi là thuật ngữ tin học ở Việt Nam nhưng ở một số nghiên cứu của nước ngoài lại được coi là những biệt ngữ về tin học). Vì thế, TNNN cũng được đề cập nhiều trong nghiên cứu của Kenneth Hudson và Peter Bakker như là một bộ phận của phương ngữ xã hội, phân biệt với phương ngữ địa lý, pidgins và creoles, tiếng lóng, từ vay mượn, … [72, 77]. Tóm lại, nghiên cứu TNNN trên thế giới đề cập trong các công trình nghiên cứu về lý thuyết trên cơ sở hai quan điểm: 1) TNNN là một lớp từ vựng của hệ thống ngôn ngữ (TNNN phân biệt với thuật ngữ), xuất hiện trong những nghề truyền thống; 2) TNNN xuất hiện trong những ngành nghề hiện đại, có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (TNNN bao gồm cả thuật ngữ). Nghiên cứu về mặt thực tiễn Về mặt thực tiễn, dựa vào quan điểm khác nhau mà những nghiên cứu về TNNN trên thế giới được thực hiện trên hai hướng: nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực từ điển học (trên quan điểm thứ nhất, TNNN là một lớp từ vựng của hệ thống ngôn ngữ) và nghiên cứu theo hướng ngôn ngữ học xã hội (trên quan điểm thứ hai, TNNN thuộc về những ngành nghề hiện đại).
Với quan điểm TNNN là một lớp từ ngữ thuộc hệ thống ngôn ngữ, Rosemarie Gläser (2000) đã thực hiện một nghiên cứu để trả lời câu hỏi nên có hay không có một cuốn từ điển LSP (language for specific purposes dictionary – từ điển chuyên ngành) được sắp xếp tầng bậc và mang tính xã hội học toàn bộ ngôn ngữ của một cộng đồng (speech community). Nghiên cứu này đã liệt kê cả các đơn vị từ vựng ở cấp độ thấp hơn như TNNN bên cạnh thuật ngữ kỹ thuật và danh pháp khoa học. Tác giả cho rằng, việc bổ sung thêm nhóm từ vựng này sẽ khiến cho từ điển LSP trở nên đầy đủ và gần với thực tế giao tiếp hơn. Mặc dù, chúng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, bị thay đổi bởi các từ ngữ thân mật hoặc thú vị từ các cuộc giao tiếp khẩu ngữ, có thể sẽ bị thu hẹp nghĩa và trở thành đơn vị trung tính, thậm chí là trở thành thuật ngữ [79].
Vì thế, TNNN thường xuất hiện dưới dạng bảng từ chuyên môn, từ điển của các ngành/ nghề cụ thể như: Từ điển giải thích từ ngữ máy tính, Từ điển từ ngữ giáo dục, Từ điển từ 9 ngữ quân sự, Từ điển từ ngữ công nghệ thông tin, từ điển từ ngữ hình thể … [89, 90,91, 92, 93]. Những nghiên cứu TNNN theo hướng ngôn ngữ học xã hội thường sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (sử dụng phần mềm SPSS) nghiên cứu tác động của các biến độc lập (giới tính, tuổi, nghề nghiệp…) đối với việc sử dụng TNNN của một số ngành nghề nhất định (chủ yếu là ngành y) giữa những người trong và cùng chuyên môn ở các nghiên cứu sau: Nghiên cứu về TNNN theo hướng ngôn ngữ học xã hội cho thấy tính chất chuyên nghiệp của việc sử dụng nhóm từ ngữ này đối với ngành nghề chuyên môn. Chẳng hạn, Berman và cộng sự đã thiết kế một nghiên cứu nhằm xác định tính chuyên nghiệp trong sự tương tác giữa bệnh nhân và bác sĩ. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân (những người có nhiều vấn đề phức tạp về sức khỏe và tâm lý) và những người được đào tạo về các kỹ năng và sự chuyên nghiệp trong giao tiếp.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng từ ngữ ngành y là một trong những nhân tố quan trọng thể hiện mức độ chuyên nghiệp trong chuyên môn [64]. Marousek Ivan phân tích việc sử dụng TNNN ở dạng viết lẫn dạng nói trong môi trường khách sạn, lĩnh vực du lịch và ẩm thực. Mục đích của nghiên cứu này chứng minh các chuyên gia khách sạn luôn ý thức được ý nghĩa của những từ ngữ chuyên môn (thường khó hiểu) mà họ sử dụng khi giao tiếp với nhau và khi họ giao dịch với khách hàng tiềm năng. Ngoài việc tổng quan lịch sử, mô tả sự phát triển của ngành công nghiệp khách sạn và gợi ý cấu trúc điển hình của một khách sạn, nghiên cứu của Marousek Ivan cũng miêu tả đặc điểm của TNNN và tiếng lóng; so sánh và giải thích vai trò của TNNN trong ngành khách sạn.
Tuy nhiên, nghiên cứu này xác định TNNN trên quan điểm của ngôn ngữ học xã hội nên đã giải thích vai trò của TNNN trong mỗi nhóm xã hội: những người làm việc trong khách sạn sử dụng TNNN để khuyến khích sự đoàn kết trong nhóm và họ cho rằng sử dụng TNNN là một trong những cách giao tiếp hiệu quả nhất trong môi trường làm việc của mình [71]. 10 Tuy nhiên, nghiên cứu về việc sử dụng TNNN trong giao tiếp còn cho thấy rào cản của những từ ngữ chuyên môn đối với những đối tượng xã hội khác nhau, nhất là trong giao tiếp giữa bác sỹ và bệnh nhân. Thomas và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về rào cản của từ ngữ ngành y trong giao tiếp giữa 119 bệnh nhân và bác sĩ để đánh giá sự hiểu biết của bệnh nhân về các từ ngữ ngành y được các bác sĩ tim mạch sử dụng trong suốt quá trình tư vấn và mức độ hiểu biết kiến thức về 11 từ ngữ ngành y của ba nhóm bệnh nhân (được xếp theo độ tuổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ tuổi tác động một cách có ý nghĩa đến mức độ hiểu các từ ngữ ngành y và một số TNNN cụ thể (Angia, Heart failure, Palpitation và Treadmill Test): những bệnh nhân thuộc nhóm tuổi trẻ nhất (từ 18 đến 45 tuổi) có mức độ hiểu các từ ngữ ngành y thấp hơn các bệnh nhân thuộc các nhóm cao tuổi hơn (từ 46 đến 60 tuổi và từ 61 đến 80 tuổi) [82].
Tại Mỹ, rào cản ngôn ngữ tác động tiêu cực đến việc miêu tả các triệu chứng của bệnh nhân cho bác sĩ. Điều này dẫn đến tỷ lệ tái nhập viện của bệnh nhân cao hơn. Để giảm thiểu tình trạng này, nhiều thông dịch viên đã được đưa vào làm việc tại các bệnh viện nhằm giúp bệnh nhân phá bỏ được rào cản ngôn ngữ trong giao tiếp. Tuy nhiên, việc sử dụng thông dịch viên cho bệnh nhân lại tỏ ra không thật sự hiệu quả.
Vì vậy, Lindholm và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác biệt về thời gian điều trị nội trú, tỷ lệ tái nhập viện trong vòng 30 ngày của các bệnh nhân có trình độ tiếng Anh hạn chế nhưng đã nhận được sự hỗ trợ thông dịch về các từ ngữ ngành y.