Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học (Mã số: 9229020) với đề tài "Nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng" do nghiên cứu sinh Ngô Thị Thu Hương thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Tất Thắng và PGS. Bùi Trọng Ngoãn (bảo vệ năm 2019).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Mỗi cộng đồng làm nghề thủ công tích lũy những tri thức, kinh nghiệm và lối tư duy riêng qua quá trình lao động, sau đó phản ánh trực tiếp vào ngôn ngữ dưới dạng truyền khẩu – được định danh là từ ngữ nghề nghiệp (TNNN). Vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng (QN-ĐN) gắn liền với lịch sử Nam tiến của người Việt, từng hình thành một hệ thống ngành nghề thủ công phong phú với hơn 100 nghề truyền thống để phục vụ nhu cầu dân sinh và tín ngưỡng.

Trước tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng "dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp", nhiều nghề truyền thống đang bị thu hẹp hoặc mất đi, kéo theo nguy cơ mai một lớp TNNN bản địa. Trong khi đó, định hướng phát triển du lịch gắn liền với các làng nghề thủ công mỹ nghệ (TCMN) đòi hỏi việc sưu tầm, bảo tồn và làm sáng rõ giá trị văn hóa – ngôn ngữ của địa phương. Khoảng trống nghiên cứu thực tế là chưa có công trình ngôn ngữ học nào khảo sát và miêu tả một cách hệ thống, toàn diện lớp TNNN thuộc các nghề thủ công mỹ nghệ của người Việt tại QN-ĐN dưới góc độ kết hợp giữa từ vựng học và ngôn ngữ học văn hóa.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Miêu tả TNNN của ba nghề TCMN ở QN-ĐN nhằm chỉ ra các đặc điểm ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa của lớp từ ngữ này, góp phần bảo vệ, lưu giữ vốn từ vựng dân gian và hỗ trợ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội địa phương.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (3 nhiệm vụ):
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu TNNN ở Việt Nam và trên thế giới; xác lập cơ sở lý thuyết cho luận án và giới thiệu bối cảnh nghiên cứu địa bàn QN-ĐN.
    2. Miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của TNNN ở QN-ĐN (qua 3 nghề khảo sát).
    3. Phân tích đặc trưng văn hóa thể hiện qua TNNN ở QN-ĐN.

Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Từ ngữ nghề nghiệp tiếng Việt tại địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát trường hợp TNNN của 3 nghề đại diện cho các nghề thủ công mỹ nghệ của người Việt tại QN-ĐN:
    1. Nghề làm gốm Nam Diêu (phường Thanh Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam).
    2. Nghề chạm khắc đá Non Nước (phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng).
    3. Nghề làm lồng đèn Hội An (thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam).
  • Tư liệu nghiên cứu: Tổng số 317 đơn vị TNNN được thu thập thực tế tại làng đá Non Nước, làng gốm Nam Diêu và cơ sở làm lồng đèn tư nhân Hà Linh (Hội An).
STT Nội dung biểu thị (Phạm trù ngữ nghĩa) Nghề làm gốm Nghề chạm khắc đá Nghề làm lồng đèn Tổng số đơn vị
1 Thao tác / công đoạn 20 54 18 92
2 Dụng cụ Có xuất hiện Có xuất hiện Có xuất hiện —
3 Nguyên liệu Có xuất hiện Có xuất hiện Có xuất hiện —
4 Tên sản phẩm Có xuất hiện Có xuất hiện Có xuất hiện —
5 Người lao động 6 11 5 22
6 Tên nghề Không có Có xuất hiện Không có —
7 Đặc điểm Không có Có xuất hiện Không có —
8 Tính chất Có xuất hiện Có xuất hiện Có xuất hiện —
9 Khác 2 3 0 5
Tổng Tổng số đơn vị TNNN thu thập 81 186 50 317

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu TNNN trên thế giới được tác giả luận án điểm lại qua hai bình diện:

  1. Về mặt lý luận:
    • Quan điểm thứ nhất: TNNN là một lớp từ vựng trong hệ thống ngôn ngữ, gắn với các nghề thủ công truyền thống, thuộc dạng phương ngữ xã hội (YU. Xtêpanov, Bonđaletov, IU. Rozdextvenxki, O. Trubachev, V.I. Lênin). Theo hướng này, TNNN phân biệt với thuật ngữ khoa học, biệt ngữ và tiếng lóng.
    • Quan điểm thứ hai: TNNN tương đương với biệt ngữ chuyên môn (professional jargon), bao gồm cả các thuật ngữ thuộc ngành nghề hiện đại như công nghệ thông tin, quân sự, y tế, tài chính (Kenneth Hudson, Peter Bakker).
  2. Về mặt thực tiễn ứng dụng:
    • Hướng từ điển học chuyên ngành (LSP): Nghiên cứu của Rosemarie Gläser (2000) đề xuất tích hợp TNNN vào từ điển chuyên ngành để phản ánh đúng thực tế giao tiếp khẩu ngữ; các từ điển giải thích từ ngữ máy tính, giáo dục, quân sự.
    • Hướng ngôn ngữ học xã hội: Phân tích tác động của các biến số xã hội (tuổi tác, giới tính, chuyên môn) đến việc sử dụng TNNN; khảo sát rào cản giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân (Berman và cộng sự, Thomas và cộng sự, Lindholm và cộng sự, Deuster và cộng sự); nghiên cứu từ ngữ chuyên môn trong ngành khách sạn – ẩm thực (Marousek Ivan) và ngành điều dưỡng (Wolf).

Các hướng nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu TNNN được triển khai qua các nhóm công trình chính:

  1. Lý thuyết từ vựng và phong cách học: Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Văn Khang xếp TNNN vào lớp từ vựng có phạm vi sử dụng hạn chế về mặt xã hội; Nguyễn Văn Tu, Thái Hòa nhấn mạnh tính chất khẩu ngữ, tính hình tượng của TNNN trong phân loại phong cách chức năng.
  2. Khảo sát từ vựng theo ngành nghề cụ thể:
    • Nguyễn Văn Khang và nhóm tác giả khảo sát Từ ngữ nghề gốm sứ Bát Tràng, phân loại theo 7 trường từ vựng – ngữ nghĩa và cấu tạo ngữ pháp.
    • Hoàng Trọng Canh nghiên cứu TNNN nghề làm muối tại xã An Hòa, Quỳnh Lưu, Nghệ An, xem xét cấu trúc ngữ nghĩa và môi trường hoạt động.
    • Lê Văn Trường nghiên cứu TNNN nghề gốm Quế, bước đầu phân tích 4 phương thức định danh (theo tính chất nguyên liệu, hình dáng cấu tạo, chức năng công cụ, màu sắc sau nung).
  3. Tiếp cận ngôn ngữ – văn hóa và ngôn ngữ – tư duy: Lương Vĩnh An, Trần Hoàng Anh, Trịnh Phương Anh, Nguyễn Chí Quang, Nguyễn Thị Tâm Hạnh (khảo sát TNNN gốm Phước Tích – Thừa Thiên Huế), Hoàng Thị Thắm, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Thị Bạch Nhạn (nghiên cứu nhận thức không gian, thời gian của cư dân nghề cá Thừa Thiên Huế), Nguyễn Thị Chi Lê (nghiên cứu quá trình thuật ngữ hóa từ ngữ Đông y).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu TNNN ở miền Bắc và Bắc Trung Bộ, khu vực Nam Trung Bộ – đặc biệt là vùng đất đa văn hóa, đa nghề Quảng Nam – Đà Nẵng – vẫn chưa có công trình nào miêu tả chuyên sâu hệ thống TNNN thuộc các nghề thủ công mỹ nghệ tiêu biểu. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát thực địa 3 nghề TCMN (gốm Nam Diêu, đá Non Nước, lồng đèn Hội An), phân tích đồng bộ trên 5 tiêu chí ngôn ngữ học và đối chiếu với các đặc trưng văn hóa bản địa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích khái niệm

  1. Quan niệm về TNNN: Luận án tiếp thu định nghĩa của Nguyễn Văn Khang và nhóm tác giả (1999): TNNN là những đơn vị ngôn ngữ biểu thị toàn bộ quy trình sản xuất, công cụ, nguyên liệu, đối tượng lao động, ưu khuyết tật sản phẩm và thành phẩm của một ngành nghề nhất định; mang tính khẩu ngữ và tính chuyên môn.
  2. Vị trí TNNN trong hệ thống từ vựng: Dưới góc độ logic học (nội hàm và ngoại diên), luận án xác lập:
    • Với từ vựng toàn dân: Quan hệ trùng nhau (TNNN là khái niệm chủng, từ toàn dân là khái niệm loại).
    • Với từ địa phương: Quan hệ trùng nhau (TNNN có tính khẩu ngữ và mang sắc thái vùng miền).
    • Với thuật ngữ: Quan hệ giao nhau (cùng biểu thị nội dung chuyên môn nhưng thuật ngữ mang tính chuẩn mực, quốc tế, trong khi TNNN mang tính khẩu ngữ, địa phương).
    • Với biệt ngữ và tiếng lóng: Quan hệ giao nhau về tính hạn chế xã hội, nhưng TNNN được sử dụng bởi cộng đồng lao động chân chính nhằm mục đích phục vụ sản xuất.
  3. Hình thức cấu tạo: Áp dụng quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, xác định "tiếng" là đơn vị cơ sở cấu tạo từ trong tiếng đơn lập (trùng với âm tiết và hình vị). Hệ thống TNNN được phân thành: từ đơn (đơn tiết), từ ghép (đẳng lập, chính phụ, ngẫu hợp), ngữ định danh và thành ngữ nghề nghiệp.
  4. Ngữ nghĩa học: Phân tích ngữ nghĩa theo nghĩa biểu vật (nghĩa sở chỉ) và nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu – cấu trúc biểu niệm tập hợp các nét nghĩa phạm trù), kết hợp xem xét nghĩa trực tiếp và nghĩa chuyển tiếp (ẩn dụ, hoán dụ).
  5. Nguồn gốc yếu tố cấu tạo: Phân loại thành 3 nhóm: từ ngữ gốc Việt, từ ngữ gốc vay mượn (Hán – Việt, Ấn – Âu, Chăm...) và từ ngữ kết hợp giữa gốc Việt với gốc vay mượn.
  6. Lý thuyết định danh và mối quan hệ ngôn ngữ – văn hóa: Vận dụng lý thuyết định danh của G. Cônsansky và Đỗ Việt Hùng (phân chia cấu trúc định danh đơn giản, phức hợp; phương thức định danh trực tiếp dựa trên đặc trưng bản thể/ngoài bản thể và định danh gián tiếp). Dựa trên giả thuyết Sapir – Whorf cùng các quan điểm của F. de Saussure, W. Humboldt và C. Kramsch để luận giải mối quan hệ giữa vỏ ngôn ngữ TNNN và hiện thực văn hóa làng nghề.

Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp điều tra điền dã: Tiến hành thu thập dữ liệu trực tiếp tại 3 làng nghề/cơ sở sản xuất; thực hiện phỏng vấn sâu các nghệ nhân cao tuổi và thợ thủ công lành nghề thông qua bảng hỏi về công cụ, nguyên liệu, thao tác và sản phẩm.
  • Phương pháp miêu tả: Phân tích, tổng hợp các đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa của 317 TNNN.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Phân tích nét nghĩa (nghĩa tố) và mô hình hóa cấu trúc biểu niệm của các nhóm từ ngữ biểu thị.
  • Thủ pháp thống kê mô tả: Mã hóa các đơn vị TNNN theo các biến định danh và xử lý định lượng toàn bộ bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS.
  • Thủ pháp mô hình hóa và sơ đồ hóa: Khái quát hóa các mô hình cấu trúc định danh và cấu trúc hình thức.
  • Thủ pháp so sánh – đối chiếu: So sánh TNNN 3 nghề tại QN-ĐN với TNNN nghề gốm Bát Tràng, gốm Phước Tích, nghề muối Quỳnh Lưu, nghề cá Thừa Thiên Huế, nghề điêu khắc của người Cơtu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và bối cảnh nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và xác lập bức tranh tổng thể về địa bàn nghiên cứu:

  • Tổng quan học thuật: Phân tích hai luồng quan điểm nghiên cứu TNNN trên thế giới (ngôn ngữ học thuần túy và ngôn ngữ học xã hội) và các công trình từ vựng học tại Việt Nam.
  • Khung lý thuyết: Xác lập các khái niệm công cụ về TNNN, đơn vị cấu tạo tiếng, các kiểu từ ghép, ngữ định danh, ý nghĩa biểu vật – biểu niệm, nguồn gốc từ ngữ và cơ chế định danh ngôn ngữ gắn với văn hóa.
  • Bối cảnh tự nhiên – xã hội QN-ĐN:
    • Điều kiện tự nhiên: Địa hình phân hóa từ Tây sang Đông với các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ, Cổ Cò, tạo điều kiện thuận lợi cho khai thác nguyên liệu sét (ấm An Bang, Thanh Chiêm) và đá vôi (Ngũ Hành Sơn) cũng như vận chuyển bằng ghe bầu.
    • Lịch sử di dân: Quá trình xác lập lãnh thổ của người Việt qua 3 đợt di dân lớn vào các năm 1402 (Hồ Hán Thương), 1471 (Lê Thánh Tông) và 1558 (Nguyễn Hoàng), đưa các lớp thợ thủ công từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vào cộng cư, tiếp biến văn hóa với cư dân Chăm bản địa.
    • Đặc điểm phương ngữ: Tiếng Quảng có hệ thống 5 thanh điệu (thanh Hỏi và Ngã nhập làm một) và hiện tượng biến đổi nguyên âm đặc thù trước các âm cuối.
  • Lịch sử ba làng nghề: Giới thiệu quá trình hình thành, phát triển từ sản xuất đồ gia dụng thiết yếu sang sản phẩm mỹ nghệ phục vụ du lịch của gốm Nam Diêu (Thanh Hà), đá Non Nước (quận Ngũ Hành Sơn, nguyên là hai giáp Quán Khái Đông và Quán Khái Tây ghi trong Phủ biên tạp lục) và lồng đèn Hội An.

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng

Chương 2 trình bày kết quả miêu tả định tính và xử lý định lượng bằng SPSS đối với 317 đơn vị TNNN của ba nghề TCMN theo 5 tiêu chí:

1. Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề làm gốm (81 đơn vị)

  • Hình thức cấu tạo: Chiếm ưu thế là các từ ghép chính phụ và từ đơn tiết (như chuốt, dí, chần). Ngữ định danh xuất hiện trong tên gọi công cụ và sản phẩm.
  • Nội dung ngữ nghĩa: Tập trung vào các thao tác tạo hình (chuốt, vỗ, dập) và tính chất sản phẩm qua quá trình nung đốt (chín, sống).
  • Nguồn gốc yếu tố: Phần lớn là các yếu tố gốc Việt thuần túy, phản ánh nghề thủ công truyền thống lâu đời ít chịu ảnh hưởng từ bên ngoài.
  • Từ loại: Tỷ lệ danh từ (chỉ công cụ, sản phẩm) và động từ (chỉ thao tác) chiếm tuyệt đối; tính từ chiếm tỷ lệ thấp.
  • Định danh: Cấu trúc định danh đơn giản chiếm tỷ lệ đáng kể ở lớp từ chỉ thao tác gốc; định danh phức hợp chủ yếu sử dụng phương thức định danh trực tiếp dựa vào hình dáng và chức năng sản phẩm.

2. Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề chạm khắc đá (186 đơn vị)

  • Hình thức cấu tạo: Số lượng từ ngữ phong phú nhất (186 từ), bao gồm từ đơn (só, bạt, sực), từ ghép chính phụ (thợ hầm, thợ nguội), từ ngẫu hợp (dớp lai, tém phát) và thành ngữ nghề nghiệp (cối méo khéo thợ).
  • Nội dung ngữ nghĩa: Phân hóa sâu sắc thành 9 nhóm nội dung biểu thị, trong đó nhóm thao tác/công đoạn chiếm số lượng lớn nhất (54 đơn vị), phản ánh sự phức tạp của quy trình đục, chấn, chạm, mài, đánh bóng.
  • Nguồn gốc yếu tố: Xuất hiện sự kết hợp đa dạng giữa yếu tố gốc Việt với các yếu tố vay mượn Hán – Việt (bạch thạch, hồng thạch, thợ điêu khắc) và gốc Ấn – Âu (mũi xút pắp, đá granit, cốt bê tông do việc đưa máy móc hiện đại vào một số công đoạn).
  • Từ loại: Danh từ chiếm ưu thế lớn, tiếp theo là động từ và tính từ chỉ đặc tính chất liệu đá.
  • Định danh: Đa dạng về mô hình định danh phức hợp nhiều thành tố; áp dụng cả phương thức định danh trực tiếp (dựa vào chất liệu, màu sắc, vị trí) và gián tiếp (chuyển nghĩa ẩn dụ dựa trên hình dáng tương đồng).

3. Đặc điểm ngôn ngữ của từ ngữ nghề làm lồng đèn (50 đơn vị)

  • Hình thức cấu tạo: Hệ thống gồm 50 đơn vị, chủ yếu là từ ghép chính phụ và ngữ định danh chỉ quy cách nan tre, khung đèn và loại hình lồng đèn.
  • Nội dung ngữ nghĩa: Tập trung vào các công đoạn gia công nan tre (xử lý nan, chuốt nan, vót nan), dán vải và hoàn thiện khung đèn.
  • Nguồn gốc yếu tố: Chủ yếu là gốc Việt kết hợp với một số từ ngữ gốc Hán – Việt chỉ mẫu dáng đèn truyền thống (đèn quả trám, đèn cù, đèn lục giác).
  • Từ loại: Danh từ chỉ quy cách cấu kiện và mẫu sản phẩm chiếm ưu thế; động từ thao tác chiếm 18 đơn vị.
  • Định danh: Phương thức định danh trực tiếp theo hình dáng hình học hoặc hình tượng động thực vật chiếm tỷ lệ cao.

Nhận xét chung và so sánh đối chiếu

TNNN của ba nghề TCMN tại QN-ĐN có cấu tạo chủ yếu là từ ghép chính phụ và ngữ định danh; danh từ và động từ chiếm tỷ lệ áp đảo. So sánh đối chiếu với gốm Bát Tràng và gốm Phước Tích cho thấy TNNN gốm Nam Diêu mang tính mộc mạc, đậm chất phương ngữ và lưu giữ nhiều từ đơn gốc Việt cổ; trong khi nghề đá Non Nước có mức độ tiếp nhận từ ngữ kỹ thuật hiện đại cao hơn do tác động của công nghệ chế tác mới.

Chương 3: Đặc trưng văn hóa của từ ngữ nghề nghiệp ở Quảng Nam – Đà Nẵng

Chương 3 luận giải các tầng bậc văn hóa ẩn sau vỏ ngữ âm và cấu trúc ngữ nghĩa của TNNN:

  • Văn hóa thể hiện trong hình thức cấu tạo: Thói quen tư duy cụ thể, trực quan của người thợ xứ Quảng dẫn đến xu hướng sử dụng các mô hình cấu tạo từ ghép chính phụ có thành tố phụ miêu tả chi tiết hình dáng, động tác thực tế thay vì các khái niệm trừu tượng hóa.
  • Văn hóa thể hiện trong nội dung ngữ nghĩa: Các trường nghĩa phản ánh sâu sắc kinh nghiệm dân gian tích lũy qua nhiều thế hệ. Ngữ nghĩa của TNNN gắn chặt với môi trường tự nhiên sông nước, núi non của xứ Quảng (cách phân loại đất sét theo tầng đất phù sa sông Thu Bồn, cách nhận biết vân đá Ngũ Hành Sơn).
  • Văn hóa thể hiện trong nguồn gốc yếu tố cấu tạo: Phản ánh rõ nét lịch sử tiếp xúc văn hóa và giao thương đa phương của vùng đất QN-ĐN. Lớp từ Hán – Việt thể hiện ảnh hưởng văn hóa Nho giáo và giao lưu thương mại tại đô thị cổ Hội An; lớp từ gốc Ấn – Âu phản ánh quá trình hiện đại hóa công cụ; trong khi lớp từ bản địa lưu giữ dấu vết ngôn ngữ của cư dân Việt cổ thời kỳ đầu Nam tiến.
  • Văn hóa thể hiện trong định danh: Phương thức định danh gián tiếp qua ẩn dụ phản ánh thế giới quan thẩm mỹ mộc mạc, lấy các hình ảnh quen thuộc trong đời sống sinh hoạt, nông nghiệp để đặt tên cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo.
  • Văn hóa thể hiện trong đời sống xã hội và phong tục làng nghề: TNNN không chỉ dùng trong sản xuất mà còn xuất hiện trong các nghi lễ cúng tổ nghề, kiêng kỵ ngôn từ trong quá trình nung gốm, khai thác đá và giao tiếp nội bộ nhằm cố kết tính cộng đồng làng nghề truyền thống xứ Quảng.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án củng cố và bổ sung khung lý thuyết nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp trong chuyên ngành Từ vựng học và Ngôn ngữ học văn hóa tiếng Việt, đặc biệt là việc ứng dụng lý thuyết định danh và quan điểm logic học (nội hàm – ngoại diên) để phân lập vị trí của TNNN với các lớp từ vựng lân cận.
  2. Xây dựng quy trình tích hợp 5 tiêu chí phân tích ngôn ngữ học (hình thức cấu tạo, nội dung ngữ nghĩa, nguồn gốc yếu tố, từ loại, đặc điểm định danh) gắn kết trực tiếp với việc giải mã 6 bình diện đặc trưng văn hóa của cộng đồng cư dân bản địa.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ tư liệu điền dã: Lần đầu tiên thu thập, xác lập và giải nghĩa có hệ thống 317 đơn vị TNNN của 3 nghề thủ công mỹ nghệ tiêu biểu tại Quảng Nam – Đà Nẵng (gốm Nam Diêu, đá Non Nước, lồng đèn Hội An).
  2. Đóng góp từ điển học: Cung cấp bảng từ chuẩn xác kèm định nghĩa ngữ nghĩa phục vụ công tác biên soạn từ điển phương ngữ tiếng Việt, từ điển chuyên ngành thủ công truyền thống và từ điển văn hóa xứ Quảng.
  3. Hỗ trợ giáo dục và du lịch: Cung cấp nguồn tư liệu xác thực cho công tác giảng dạy tiếng Việt, ngữ văn địa phương, văn hóa học; đồng thời phục vụ thuyết minh di sản, bảo tồn văn hóa phi vật thể và phát triển sản phẩm du lịch làng nghề tại Đà Nẵng và Quảng Nam.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Cần có chính sách số hóa, lưu trữ tư liệu TNNN làng nghề để tránh nguy cơ thất truyền khi các nghệ nhân lớn tuổi qua đời.
  • Tích hợp việc giới thiệu TNNN vào các chương trình trải nghiệm du lịch làng nghề để nâng cao giá trị gia tăng và chiều sâu văn hóa cho sản phẩm TCMN.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Do giới hạn về thời gian và khuôn khổ luận án tiến sĩ, công trình mới chỉ khảo sát chuyên sâu 3 nghề thủ công mỹ nghệ đại diện (gốm, đá, lồng đèn) của người Việt, chưa thể bao quát toàn bộ hơn 100 nghề truyền thống trên địa bàn Quảng Nam – Đà Nẵng.
  • Chưa mở rộng khảo sát so sánh sâu với TNNN của các cộng đồng dân tộc thiểu số cùng sinh sống trên địa bàn miền Tây xứ Quảng (như người Cơtu, Xơđăng, Cor).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các nghề truyền thống khác tại QN-ĐN như nghề đúc đồng Phước Kiều, nghề dệt chiếu Bàn Thạch, nghề làm yến sào Thanh Châu, nghề mộc Kim Bồng.
  • Nghiên cứu TNNN theo hướng từ nguyên học và phương ngữ học lịch sử để làm sáng tỏ sâu hơn quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Chăm trong lịch sử di dân.
  • Ứng dụng ngôn ngữ học xã hội để khảo sát sự biến đổi, suy giảm hoặc thích ứng của TNNN dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp và thương mại điện tử hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và mục đích sau:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Từ vựng học tiếng Việt, Ngôn ngữ học văn hóa, Phương ngữ học và Địa danh học – Văn hóa dân gian xứ Quảng. Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp xử lý định lượng TNNN bằng SPSS kết hợp với mô hình hóa cấu trúc định danh.
  2. Các nhà từ điển học: Cung cấp 317 mục từ TNNN kèm ngữ nghĩa thực tế được thu thập qua phỏng vấn sâu, là nguồn dữ liệu chuẩn xác để bổ sung cho các bộ từ điển tiếng Việt toàn dân và từ điển phương ngữ Trung Bộ.
  3. Cơ quan quản lý văn hóa và doanh nghiệp du lịch: Cung cấp cứ liệu văn hóa chuẩn xác cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương trong việc lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể, đào tạo hướng dẫn viên du lịch và xây dựng nội dung thuyết minh làng nghề tại Hội An và Ngũ Hành Sơn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu đơn vị từ ngữ nghề nghiệp và phân bố cụ thể ra sao?

Luận án thu thập và khảo sát tổng cộng 317 đơn vị TNNN thuộc 3 nghề thủ công mỹ nghệ tiêu biểu tại QN-ĐN. Phân bố cụ thể gồm:

  • Nghề chạm khắc đá Non Nước (Đà Nẵng): 186 đơn vị.
  • Nghề làm gốm Nam Diêu (Thanh Hà, Quảng Nam): 81 đơn vị.
  • Nghề làm lồng đèn Hội An (Quảng Nam): 50 đơn vị.

2. Dữ liệu ngôn ngữ trong luận án được phân tích theo các phạm trù ngữ nghĩa nào?

Tư liệu được phân tích theo 9 nhóm nội dung biểu thị (phạm trù ngữ nghĩa) gồm:

  1. Thao tác / công đoạn sản xuất (chiếm số lượng lớn nhất với 92 đơn vị).
  2. Dụng cụ sản xuất.
  3. Nguyên liệu sản xuất.
  4. Tên sản phẩm.
  5. Người lao động (22 đơn vị).
  6. Tên nghề.
  7. Đặc điểm.
  8. Tính chất sản phẩm / nguyên liệu.
  9. Nhóm khác (5 đơn vị).

3. Tác giả luận án sử dụng công cụ và phương pháp nào để xử lý số liệu định lượng?

Toàn bộ các đơn vị TNNN sau khi điều tra điền dã và mã hóa theo các biến định danh (hình thức cấu tạo, từ loại, nguồn gốc, định danh, phạm trù ngữ nghĩa) được nhập liệu và xử lý thống kê hoàn toàn bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS, giúp lượng hóa chính xác tỷ lệ và tần suất xuất hiện của các biến ngôn ngữ.

4. Nguồn gốc các yếu tố cấu tạo TNNN tại QN-ĐN phản ánh điều gì về lịch sử vùng đất?

Nguồn gốc yếu tố cấu tạo TNNN gồm 3 nhóm: gốc Việt, gốc vay mượn (Hán – Việt, Ấn – Âu, Chăm) và kết hợp. Tỷ lệ yếu tố gốc Việt phản ánh nền tảng nghề truyền thống do các đợt di dân từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ mang vào; yếu tố Hán – Việt phản ánh bề dày giao lưu thương mại và Nho học tại cảng thị cổ Hội An; trong khi các từ ngữ gốc Ấn – Âu phản ánh quá trình hiện đại hóa công cụ máy móc (như trong nghề đá Non Nước).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Ngô Thị Thu Hương là công trình chuyên khảo hệ thống đầu tiên về từ ngữ nghề nghiệp thủ công mỹ nghệ tại Quảng Nam – Đà Nẵng dưới góc độ kết hợp Từ vựng học và Ngôn ngữ học văn hóa. Qua việc phân tích định tính và định lượng 317 đơn vị TNNN của ba nghề gốm Nam Diêu, đá Non Nước và lồng đèn Hội An, luận án đã làm sáng rõ các đặc điểm về cấu tạo, từ loại, nguồn gốc, cơ chế định danh và các tầng bậc văn hóa bản địa ẩn chứa trong ngôn ngữ làng nghề. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho kho tàng tư liệu phương ngữ học tiếng Việt, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa và phát triển kinh tế du lịch địa phương.