Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đặc điểm thành ngữ Hán - Nhật trong tiếng Nhật (có liên hệ với tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tô Chung thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2010. Công trình được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Việt Thanh và TS Nguyễn Xuân Hòa, thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, mã số 62.01 (nay là 62.22.01.01).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng thành ngữ là một bộ phận cốt lõi của mỗi ngôn ngữ, phản ánh đậm nét văn hóa, phong tục tập quán và phương thức tư duy của người bản ngữ. Trong tiếng Nhật, thành ngữ được phân chia thành hai khối chính: thành ngữ thuần Nhật (慣用句 Kanyouku) và thành ngữ Hán Nhật (漢字熟語 Kanjijukugo). Trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình nghiên cứu tiếng Nhật tại Việt Nam chủ yếu mới dừng lại ở việc khảo sát lớp thành ngữ thuần Nhật có cấu trúc ngữ pháp tiếng Nhật, tiêu biểu là luận án tiến sĩ năm 2006 của tác giả Ngô Minh Thủy (chỉ giới hạn trong 1.019 đơn vị thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người). Mảng thành ngữ Hán Nhật—vốn chiếm một tỷ trọng rất lớn và giữ vai trò quan trọng trong hệ thống từ vựng tiếng Nhật—hầu như chưa từng được khảo sát một cách hệ thống trên các phương diện cấu trúc, đặc điểm ngữ nghĩa, sự hành chức cũng như các đặc trưng văn hóa, tư duy dân tộc được thể hiện qua loại hình này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật; làm rõ các giá trị biểu trưng phản ánh trầm tích văn hóa và tư duy dân tộc của người Nhật; đồng thời đối chiếu lớp thành ngữ Hán Nhật với lớp thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt nhằm xác định những nét tương đồng và dị biệt về ngôn ngữ - văn hóa giữa hai cộng đồng cùng thuộc khu vực đồng văn.

Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Khảo sát các thành ngữ Hán Nhật từ các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa để chỉ ra các mô hình cấu trúc và những đặc trưng cơ bản về ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật.
  2. Dựa trên kết quả khảo sát, luận án tiến hành đối chiếu thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật với thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt trên bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa và các biến thể của chúng.
  3. Phân tích đặc trưng tư duy dân tộc của người Nhật thông qua sự hành chức của thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt về văn hóa được thể hiện trong thành ngữ Hán Nhật trong tiếng Nhật có liên hệ với tiếng Việt, giúp người Việt học tập, sử dụng, dịch thuật và giảng dạy tiếng Nhật chính xác.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những thành ngữ có nguồn gốc Hán được du nhập vào tiếng Nhật, bao gồm cả một bộ phận do người Nhật tự tạo mới dựa trên các yếu tố Hán hoặc kết hợp yếu tố Nhật với yếu tố Hán. Đây là những cụm từ cố định tương đương với một từ hoặc cụm từ, có chức năng định danh và mang nghĩa biểu trưng. Về mặt ngữ âm, đối tượng nghiên cứu là những đơn vị có cách đọc theo âm On (Onyomi), một số ít đọc theo cả âm On và âm Kun (Kunyomi); phần lớn có khuôn hình bốn âm tiết. Phạm vi khảo sát của đề tài bao gồm 2.220 đơn vị thành ngữ Hán Nhật được lập danh mục trong phần phụ lục, được thu thập từ các từ điển chuyên ngành của Nhật Bản và đối chiếu với hệ thống thành ngữ Hán Việt tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần lịch sử nghiên cứu, tác giả đã điểm lại các công trình tiêu biểu của giới ngôn ngữ học tại Nhật Bản và Việt Nam:

Tại Nhật Bản, nghiên cứu thành ngữ bắt đầu từ công trình của Yokoyama Tatsuji (1935) với nhan đề "Nghiên cứu thành ngữ, đặc biệt là về việc ứng dụng thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người" in trong Tuyển tập Luận văn Ngôn ngữ học - Kỷ niệm thành tích tiến sĩ. Đến thập niên 1950, nghiên cứu thành ngữ phát triển mạnh mẽ với các công trình có ảnh hưởng lớn như "Thành ngữ tiếng Nhật" của Shiraishi Daiji (1950), "Thành ngữ quốc ngữ" của Yokoyama Tatsuji (1953), "Lỗi trong thành ngữ" của Asano Shin (1955), "Thành ngữ và những vấn đề trong giảng dạy thành ngữ" của Yamamoto Kanta (1964). Tiếp đó là các chuyên khảo của Miyaji Yutaka (1977, 1985) về "Giải thích thành ngữ (Ý nghĩa và cách dùng)" và "Thành ngữ luận", Kunihiro Tetsuya (1985) với "Thành ngữ luận". Hầu hết các công trình này chỉ tập trung vào thành ngữ gốc Nhật (Kanyouku). Mảng thành ngữ Hán Nhật bốn chữ (Yojijukugo) xuất hiện muộn hơn, chủ yếu ở hướng ứng dụng như công trình của Wada Takeshi và Okudaira Takashi (1987, 1991), công trình nghiên cứu hình thái cấu trúc của Tanzawa Kouichi (2004), cùng các bộ từ điển lớn như của Taiji Takashima (1993) và "Thành ngữ đại từ điển" (Seigo Daijien) của Nhà xuất bản Shufu To Seikatsu (1995).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng nước ngoài với tiếng Việt chủ yếu tập trung vào tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp. Đối với tiếng Nhật, số lượng công trình còn rất khiêm tốn:

  • Nguyễn Hồng Thu (2001) xuất bản từ điển "Tục ngữ Nhật - Việt".
  • Ngô Minh Thủy (2006) thực hiện luận án tiến sĩ "Đặc điểm của thành ngữ tiếng Nhật (Trong sự liên hệ với thành ngữ tiếng Việt)", khảo sát 1.019 đơn vị thành ngữ gốc Nhật có từ chỉ bộ phận cơ thể người.
  • Về mảng thành ngữ tiếng Việt và thành ngữ Hán Việt, luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Văn Tu (1976), Nguyễn Tài Cẩn (1979), Đinh Gia Khánh (1977), Nguyễn Văn Khang (1994), Nguyễn Công Đức (1995), Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1997), Nguyễn Thiện Giáp (1998), Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện (1998), Lê Đình Khẩn (2002), Hoàng Văn Hành (2004), Bùi Hạnh Cẩn (1993), Nguyễn Như Ý (1998).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đi trước tại Việt Nam chỉ giới hạn khảo sát lớp thành ngữ thuần Nhật (Kanyouku) có cấu trúc ngữ pháp Nhật. Bộ phận thành ngữ Hán Nhật (Kanjijukugo) hoàn toàn chưa được khảo sát hệ thống về cấu trúc, ngữ nghĩa và văn hóa. Luận án của Nguyễn Tô Chung là công trình đầu tiên tại Việt Nam đi sâu nghiên cứu toàn diện hệ thống thành ngữ Hán Nhật và đặt trong sự đối chiếu có hệ thống với thành ngữ Hán Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các trụ cột chính:

  1. Tiếp xúc ngôn ngữ và cơ cấu từ vựng tiếng Nhật: Vốn từ tiếng Nhật hình thành từ ba nguồn chính với tỷ lệ được thống kê trong luận án:
    • Từ thuần Nhật (和語 Wago): chiếm khoảng 27% vốn từ, bao gồm các từ chỉ sự vật cơ bản, hành động, tính chất và toàn bộ hư từ ngữ pháp.
    • Từ Hán Nhật (漢語 Kango): chiếm khoảng 60% vốn từ, du nhập qua các thời kỳ lịch sử hoặc do người Nhật tạo mới bằng yếu tố Hán, đóng vai trò biểu đạt các khái niệm trừu tượng, trang trọng.
    • Từ ngoại lai (外来語 Gairaigo): mượn từ các ngôn ngữ châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Hà Lan), tăng trưởng từ 1,4% vào cuối thế kỷ XIX lên khoảng 13% vào đầu thập niên 1990.
  2. Lịch sử tiếp xúc và các lớp âm Hán:
    • Làn sóng thứ nhất: Trước thời kỳ Nara (Phật giáo du nhập năm 538), mang lại âm Ngô (呉音 Goon) mô phỏng tiếng miền Nam Trung Quốc cổ đại, gắn với hệ thống kinh sách Phật giáo.
    • Làn sóng thứ hai: Thời kỳ Nara (710–794), qua các lưu học sinh và quan chức đến Lạc Dương và Trường An, mang lại âm Hán (漢音 Kanon) chuẩn thời Đường thế kỷ VIII, gắn với Nho giáo.
    • Làn sóng thứ ba: Thế kỷ XIV, gắn với phái Thiền Phật giáo từ Hàng Châu, mang lại âm Đường (唐音 Touon) và âm Tống (宋音 Souon).
  3. Đặc điểm cú pháp tiếng Nhật: Trật tự câu cơ bản là SOV (Chủ ngữ - Bổ ngữ - Vị ngữ), đối lập với trật tự SVO của tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Anh. Trong danh ngữ, động ngữ và tính ngữ, yếu tố trung tâm luôn đứng ở vị trí cuối cùng, các thành tố phụ đứng trước.
  4. Lý thuyết về thành ngữ:
    • Quan niệm quốc tế: Kế thừa quan điểm của Weinreich (1969), Makkai (1972), Fernando và Flavell (1981) về tính cố định cấu trúc và tính chỉnh thể ngữ nghĩa.
    • Quan niệm Nhật ngữ học: Phân biệt các khái niệm 成語 Seigo (rộng nhất, gồm cả Kanyouku và Kanjijukugo), 慣用句 Kanyouku (thành ngữ thuần Nhật), 漢字熟語 Kanjijukugo (thành ngữ Hán Nhật), イディオム Idiom, và ことわざ Kotowaza (tục ngữ - mang tính giáo huấn, câu trọn vẹn, nhiều biến thể).
    • Tiêu chí phân biệt với từ ghép (từ phức, từ phái sinh, từ láy theo mô hình của Sakamoto Eiko, 1993) và cụm từ tự do (tính cố định, tính phi cú pháp, cấu trúc đối xứng xen lồng AB/CD, AA/BB).
    • Quan niệm Việt ngữ học: Kế thừa cách phân loại thành ngữ hợp kết - hòa kết của Nguyễn Thiện Giáp (1998); thành ngữ so sánh - ẩn dụ hóa của Hoàng Văn Hành (2004); 5 kiểu tổ hợp nghĩa của Nguyễn Công Đức (1995); và 4 nhóm thành ngữ Hán Việt của Nguyễn Văn Khang (1994).
Thành phần vốn từ tiếng Nhật Ký tự biểu diễn chính Tỷ lệ trong vốn từ Đặc điểm chức năng chính
Từ thuần Nhật (和語 Wago) Hiragana / Kanji (Kunyomi) 27% Vốn từ cơ bản, thực từ cụ thể và toàn bộ hư từ ngữ pháp
Từ Hán Nhật (漢語 Kango) Chữ Hán (Onyomi) 60% Từ vựng biểu đạt khái niệm trừu tượng, văn viết, trang trọng
Từ ngoại lai (外来語 Gairaigo) Katakana 13% Thuật ngữ khoa học, kỹ thuật, đời sống hiện đại từ phương Tây

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp miêu tả: Phân lập, nhận diện các mô hình cấu trúc hình thái và ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: Khảo sát nghĩa tổng thể, cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ, nghĩa biểu trưng và sự phân hóa chủ đề.
  • Thủ pháp thống kê: Phân loại, kiểm kê số lượng và tỷ lệ các cấu trúc, nhóm nghĩa trên ngữ liệu.
  • Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ: Đối chiếu trực tiếp 2.220 thành ngữ Hán Nhật với lớp thành ngữ Hán Việt theo các trục cấu trúc, ngữ nghĩa và thành tố cấu tạo.

Nguồn tư liệu nghiên cứu:

  • Tư liệu tiếng Nhật: Nguồn chính là bộ "Thành ngữ đại từ điển" (成語大辞苑) của NXB Shufu To Seikatsu (1995, thu thập 30.000 đơn vị), kết hợp với các từ điển của Shiraishi Daiji (1950), Yokoyama Tatsuji (1953), Asano Shin (1955), Yamamoto Kanta (1964), Wada Takeshi & Okudaira Takashi (1987, 1991), Tanzawa Kouichi (2004), Hội Nghiên cứu biểu hiện tiếng Nhật (2005), Hội Nghiên cứu những vấn đề Quốc ngữ (1995), NXB Sanshusha (2001).
  • Tư liệu tiếng Việt: "Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt" của Nguyễn Tài Cẩn (1979), "Thành ngữ học tiếng Việt" của Hoàng Văn Hành (2004), "Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt" của Nguyễn Như Ý (1998), "Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam" của Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào (1997), "Thành ngữ - cách ngôn gốc Hán" của Nguyễn Văn Bảo (1999), "5000 thành ngữ Hán Việt thường dùng" của Bùi Hạnh Cẩn (1993).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án qua bốn nội dung lớn:

  1. Tiếp xúc ngôn ngữ: Khái quát bức tranh lịch sử tiếp xúc giữa tiếng Nhật và tiếng Hán, quá trình du nhập hệ thống chữ Hán trong thời kỳ Nara và Heian để hình thành hai bảng chữ cái biểu âm Hiragana và Katakana. Phân tích ba làn sóng tiếp nhận các lớp âm Ngô âm (Goon), Hán âm (Kanon), Đường âm - Tống âm (Touon - Souon), cùng cơ cấu ba lớp từ vựng Wago (27%), Kango (60%) và Gairaigo (13%).
  2. Trật tự từ trong tiếng Nhật: Mô tả cấu trúc cú pháp cơ bản S - O - V và đặc trưng vị ngữ luôn đặt ở cuối câu. Phân tích trật tự từ cố định trong danh ngữ, động ngữ và tính ngữ với nguyên tắc thành tố trung tâm luôn đứng sau cùng, làm cơ sở để so sánh với cú pháp tiếng Hán và tiếng Việt.
  3. Quan niệm về thành ngữ: Điểm lại các quan niệm chung về thành ngữ trong ngôn ngữ học thế giới; khảo sát quan niệm của giới Nhật ngữ học về các thuật ngữ Seigo, Kanyouku, Kanjijukugo, Idiom. Phân tích tiêu chí phân biệt thành ngữ với từ đơn và từ ghép (từ phức, từ phái sinh, từ láy); phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do (thông qua tính cố định, tính nguyên thể của động từ, tính biểu trưng, tính phi cú pháp đối xứng AB/CD, AA/BB); phân biệt thành ngữ với cụm từ cố định (Rengo) và tục ngữ (Kotowaza).
  4. Quan niệm của giới Việt ngữ học về thành ngữ và thành ngữ Hán Việt: Trình bày các mô hình phân loại của Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Công Đức và Nguyễn Văn Khang. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa tác nghiệp: Thành ngữ Hán Nhật là những cụm từ cố định có nguồn gốc Hán hoặc do người Nhật tạo mới từ chất liệu Hán, đọc theo âm On (hoặc kết hợp On - Kun), phần lớn có kết cấu bốn âm tiết, thực hiện chức năng định danh và có nghĩa biểu trưng.

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC THÀNH NGỮ HÁN NHẬT

Chương 2 tập trung khảo sát cấu trúc nội tại của 2.220 đơn vị thành ngữ Hán Nhật, chỉ ra tính ổn định cao và tính đối xứng nghiêm ngặt trong tổ chức hình thức của chúng. Nội dung chương chia thành các mảng trọng tâm:

  1. Các dạng cấu trúc cơ bản và nội bộ cấu trúc của thành ngữ Hán Nhật: Khảo sát các mô hình kết hợp hình vị, phân tích mối quan hệ cú pháp nội tại giữa các thành tố (đẳng lập, chính phụ, chủ vị, động bổ).
  2. Các dạng thức Nhật hóa về mặt cấu trúc: Phân tích quá trình đồng hóa ngữ pháp của tiếng Nhật đối với các thành ngữ gốc Hán thông qua 4 mô hình:
    • Thành ngữ giữ nguyên cấu trúc gốc Hán: Bảo lưu trọn vẹn mô hình kết hợp nguyên thủy của tiếng Hán văn ngôn.
    • Thành ngữ thay đổi cấu trúc: Sự xáo trộn trật tự các thành tố dưới ảnh hưởng của thói quen sử dụng ngôn ngữ tại Nhật Bản.
    • Thành ngữ thay đổi theo cấu trúc tiếng Nhật: Biến đổi vị trí các yếu tố cấu thành để phù hợp với trật tự ngữ pháp tiếng Nhật (như trật tự bổ ngữ đứng trước động từ thay vì động từ đứng trước bổ ngữ như tiếng Hán nguyên bản).
    • Thành ngữ do người Nhật tạo mới: Các đơn vị thành ngữ hoàn toàn do người bản ngữ Nhật Bản sáng tạo ra bằng cách ghép các hình vị chữ Hán nhằm định danh các hiện tượng đời sống văn hóa xã hội đặc thù của Nhật Bản.

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA THÀNH NGỮ HÁN NHẬT

Chương 3 đi sâu nghiên cứu bản chất ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật, phương thức tạo nghĩa và phân loại theo chủ đề:

  1. Đặc điểm ngữ nghĩa chung và sự phân loại theo nhóm chủ đề: Phân tích cơ chế biểu trưng hóa, tính toàn thể của ngữ nghĩa thành ngữ Hán Nhật. Khảo sát bức tranh ngữ nghĩa thông qua Bảng 3.1 về phân loại thành ngữ Hán Nhật theo các nhóm chủ đề phản ánh hiện thực khách quan (tự nhiên, xã hội, tính cách con người, kinh nghiệm ứng xử...).
  2. Các kiểu biến đổi ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật so với nguồn gốc Hán:
    • Thành ngữ giữ nguyên nghĩa gốc Hán: Nghĩa biểu trưng trong tiếng Nhật hoàn toàn trùng khớp với ngữ nghĩa nguyên bản trong các thư tịch cổ điển Trung Hoa.
    • Thành ngữ thay đổi nghĩa: Quá trình chuyển dịch nghĩa do biến đổi văn cảnh lịch sử hoặc do cách hiểu riêng biệt của người Nhật.
    • Thành ngữ phát triển nghĩa: Từ nét nghĩa gốc ban đầu, thành ngữ phái sinh thêm các trường nghĩa mới, nghĩa bóng mới phục vụ đời sống xã hội Nhật Bản hiện đại.
  3. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ Hán Nhật do người Nhật tự tạo mới:
    • Phân tích ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ do người Nhật sáng tạo thuần túy bằng các yếu tố chữ Hán.
    • Phân tích ngữ nghĩa của nhóm thành ngữ kết hợp đan xen giữa yếu tố Hán và yếu tố thuần Nhật, làm nổi bật đặc trưng tư duy dung hợp văn hóa của người Nhật.

CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THÀNH NGỮ HÁN NHẬT - HÁN VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ ĐỐI CHIẾU NGÔN NGỮ

Chương 4 là chương trọng tâm đối chiếu liên ngôn ngữ giữa 2.220 thành ngữ Hán Nhật với hệ thống thành ngữ Hán Việt. Tác giả xây dựng hệ thống 11 bảng phân loại đối chiếu chi tiết và một Bảng Tổng hợp dựa trên ba biến số: cấu trúc, ngữ nghĩa và thành tố cấu tạo.

Nhóm đối chiếu Đặc điểm cấu trúc Đặc điểm ngữ nghĩa Đặc điểm thành tố Bảng tương ứng
Nhóm 1 Cấu trúc giống nhau Nghĩa giống nhau Thành tố hoàn toàn trùng khớp Bảng 4.1
Nhóm 2 Cấu trúc giống nhau Nghĩa khác nhau Thành tố giữ nguyên nhưng nghĩa biến đổi Bảng 4.2
Nhóm 3 Cấu trúc giống nhau Bảo lưu nghĩa gốc, phát triển nghĩa mới Thành tố giống nhau Bảng 4.3
Nhóm 4 Cấu trúc giống nhau Nghĩa giống nhau Khác nhau 1 yếu tố Bảng 4.4
Nhóm 5 Cấu trúc giống nhau Nghĩa giống nhau Khác nhau 2 hoặc 3 yếu tố Bảng 4.5
Nhóm 6 Cấu trúc giống nhau Nghĩa khác nhau Thành tố khác nhau Bảng 4.6
Nhóm 7 Cấu trúc giống nhau Nghĩa gốc giống nhau, phát triển nghĩa Thành tố khác nhau Bảng 4.7
Nhóm 8 Cấu trúc khác nhau Nghĩa giống nhau Thành tố giống nhau nhưng đổi trật tự Bảng 4.8
Nhóm 9 Cấu trúc khác nhau Nghĩa giống nhau Khác nhau 1 yếu tố Bảng 4.9
Nhóm 10 Cấu trúc khác nhau Nghĩa giống nhau Khác nhau 2 yếu tố Bảng 4.10
Nhóm 11 Cấu trúc khác nhau Nghĩa giống nhau Khác nhau 3 yếu tố Bảng 4.11
Nhóm 12 Cấu trúc khác nhau Nghĩa khác nhau Khác biệt cả cấu trúc, nghĩa và thành tố Mục 4.1.9

Chương 4 kết thúc bằng Bảng Tổng hợp đối chiếu thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt, rút ra những tương đồng sâu sắc bắt nguồn từ mối quan hệ văn hóa đồng văn chữ Hán, đồng thời lý giải những điểm dị biệt do tác động của cấu trúc loại hình ngôn ngữ (tiếng Nhật chắp dính, SOV đối lập với tiếng Việt đơn lập, SVO) và tư duy văn hóa bản địa chi phối.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đạt được các kết quả mới sau:

  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên khảo sát toàn diện và có hệ thống lớp thành ngữ Hán Nhật (漢字熟語 Kanjijukugo) trong tiếng Nhật trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa.
  • Lần đầu tiên đặt lớp thành ngữ Hán Nhật trong thế đối chiếu trực tiếp với lớp thành ngữ Hán Việt trong tiếng Việt, thiết lập hệ thống tiêu chí phân loại gồm 11 tiểu loại chi tiết và bảng tổng hợp đối chiếu.
  • Làm sáng tỏ các quy luật tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Nhật và tiếng Hán, chỉ ra các phương thức mà tiếng Nhật đồng hóa các đơn vị từ vựng ngoại lai dưới áp lực của đặc thù loại hình và ngữ pháp tiếng Nhật.
  • Đóng góp vào lý luận ngôn ngữ học đối chiếu, đặc biệt là phương pháp đối chiếu các đơn vị thành ngữ giữa hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình nhưng có chung nguồn gốc văn hóa tiếp nhận từ chữ Hán.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp:

  • Cung cấp một nguồn ngữ liệu đối chiếu có hệ thống (2.220 thành ngữ Hán Nhật) giúp người Việt Nam học tập tiếng Nhật nhận biết các điểm tương đồng và dị biệt để sử dụng chính xác thành ngữ trong giao tiếp.
  • Đóng góp trực tiếp vào công tác biên dịch và phiên dịch Nhật - Việt, hạn chế các lỗi dùng sai từ bắt nguồn từ sự "đồng hình dị nghĩa" hoặc chuyển dịch nghĩa giữa Hán Nhật và Hán Việt.
  • Giúp người học và người nghiên cứu tại Việt Nam hiểu sâu sắc hơn về phương thức tư duy dân tộc, bản sắc văn hóa và các trầm tích lịch sử của Nhật Bản thể hiện qua ngôn từ.
  • Làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ học, ngôn ngữ học văn hóa và nghiên cứu so sánh văn hóa Việt Nam - Nhật Bản.

Về kiến nghị và giải pháp:

  • Đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc biên soạn giáo trình giảng dạy thành ngữ tiếng Nhật cho sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật tại các trường đại học ở Việt Nam.
  • Đề xuất biên soạn các từ điển đối chiếu thành ngữ Hán Nhật - Hán Việt chuyên sâu nhằm phục vụ hoạt động dịch thuật văn bản và nghiên cứu khoa học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án xác định rõ phạm vi ngữ liệu nghiên cứu tập trung vào 2.220 đơn vị thành ngữ Hán Nhật được ghi nhận trong các từ điển chuẩn thức, chủ yếu là các đơn vị bốn chữ Hán có cách đọc âm On (hoặc kết hợp On - Kun) mang nghĩa biểu trưng. Do đó, luận án không bao quát các đơn vị thục ngữ hai chữ Hán thông thường hoặc các cụm từ hành chính, chuyên ngành không mang tính thành ngữ. Đồng thời, phạm vi đối chiếu chủ yếu tập trung vào cặp đối ứng giữa Hán Nhật và Hán Việt, chưa mở rộng so sánh với các ngôn ngữ khác trong khu vực văn hóa chữ Hán như tiếng Hàn hay tiếng Hán hiện đại.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Khảo sát sâu hơn sự hành chức của thành ngữ Hán Nhật trong các phong cách văn bản đương đại như báo chí, tác phẩm văn học, truyền thông đại chúng và khẩu ngữ đời thường.
  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế tiếp nhận và chuyển hóa ngữ nghĩa của thành ngữ Hán Nhật từ góc độ ngữ dụng học và ngôn ngữ học tri nhận.
  • Thực hiện các khảo cứu thực nghiệm về mức độ hiểu và sử dụng thành ngữ Hán Nhật của người học tiếng Nhật tại Việt Nam để hoàn thiện phương pháp giảng dạy.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, và Nhật Bản học: Phần cơ sở lý luận ở Chương 1 cung cấp cái nhìn chi tiết về hệ thống thuật ngữ thành ngữ tiếng Nhật (Kanyouku, Kanjijukugo, Seigo, Kotowaza), các tiêu chí phân biệt thành ngữ với từ phức và cụm từ tự do, cùng lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Nhật.
  2. Biên dịch viên và phiên dịch viên tiếng Nhật - tiếng Việt: Toàn bộ hệ thống bảng đối chiếu tại Chương 4 (từ Bảng 4.1 đến Bảng 4.11 và Bảng Tổng hợp) là tài liệu tra cứu trực tiếp các trường hợp tương đồng và dị biệt về cấu trúc, ngữ nghĩa giữa Hán Nhật và Hán Việt, đặc biệt là nhóm thành ngữ "cấu trúc giống nhau nhưng nghĩa khác nhau" (Bảng 4.2) hoặc "cấu trúc khác nhau nhưng nghĩa giống nhau" (Bảng 4.8).
  3. Người biên soạn giáo trình và giảng dạy thực hành tiếng Nhật: Các mô hình cấu trúc ở Chương 2 và hệ thống phân loại ngữ nghĩa theo chủ đề ở Chương 3 giúp thiết kế các bài học chuyên đề về Hán tự và thành ngữ nâng cao.
  4. Danh mục 2.220 thành ngữ Hán Nhật tại phần Phụ lục là nguồn dữ liệu chuẩn mực phục vụ tra cứu và nghiên cứu ngữ liệu học.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thành ngữ Hán Nhật (漢字熟語 Kanjijukugo) khác biệt như thế nào so với thành ngữ thuần Nhật (慣用句 Kanyouku)? Theo khảo sát của luận án, thành ngữ thuần Nhật (Kanyouku) là các tổ hợp từ có nguồn gốc bản địa, được cấu tạo theo quy tắc ngữ pháp tiếng Nhật (thường có trợ từ cách kết hợp với động từ hoặc tính từ, ví dụ 腹を立てる, 鼻が高い), phát âm theo âm thuần Nhật (Kunyomi). Ngược lại, thành ngữ Hán Nhật (Kanjijukugo) là các cụm từ cố định có nguồn gốc Hán (hoặc người Nhật tạo mới từ chất liệu Hán), hầu hết có kết cấu bốn chữ Hán, phát âm theo âm Hán - Nhật (Onyomi, một số ít đọc cả On và Kun), có tính phi cú pháp đối xứng cao và mang nghĩa biểu trưng.

  2. Tiếng Nhật đã tiếp nhận từ Hán qua những làn sóng lịch sử nào và để lại các lớp âm đọc nào? Luận án chỉ ra ba làn sóng vay mượn chính:

  • Làn sóng thứ nhất diễn ra trước thời kỳ Nara, gắn với sự du nhập của Phật giáo năm 538, định hình cách phát âm theo âm Ngô (呉音 Goon) từ phương ngữ miền Nam Trung Quốc cổ đại.
  • Làn sóng thứ hai diễn ra trong suốt thời kỳ Nara (thế kỷ VIII), thông qua các đoàn sứ thần và lưu học sinh tại Lạc Dương và Trường An, mang lại cách phát âm chuẩn theo âm Hán (漢音 Kanon) thời Đường.
  • Làn sóng thứ ba diễn ra vào thế kỷ XIV, do các nhà sư phái Thiền tông mang từ Hàng Châu sang, để lại lớp âm Đường (唐音 Touon) và âm Tống (宋音 Souon).
  1. Luận án căn cứ vào những tiêu chí nào để phân biệt thành ngữ Hán Nhật với cụm từ tự do trong tiếng Nhật? Tác giả dựa trên 4 tiêu chí cốt lõi:
  • Tính cố định và bền vững: Thành ngữ là đơn vị có sẵn, không thể tự do thay thế hoặc thêm bớt các yếu tố cấu thành như trong cụm từ tự do.
  • Tính ngữ nghĩa biểu trưng: Nghĩa của thành ngữ là nghĩa hình ảnh, ẩn dụ, không thể suy ra đơn giản bằng phép cộng nghĩa cơ học của các thành tố.
  • Chức năng định danh biểu cảm: Định danh của thành ngữ luôn đi kèm sắc thái hình ảnh và cảm xúc, trong khi cụm từ tự do chỉ định danh sự vật, hiện tượng thuần túy.
  • Tính phi cú pháp trong cấu trúc: Thành ngữ Hán Nhật thường mang kết cấu đối xứng nghiêm ngặt xen lồng giữa các thành tố (mô hình AB/CD, AB/AC hoặc AA/BB như 百発百中, 正正堂堂), khác với trật tự ngữ pháp thông thường của cụm từ tự do.
  1. Quy mô ngữ liệu khảo sát của luận án là bao nhiêu và được trích xuất từ các nguồn chính nào? Quy mô khảo sát thực tế của luận án là 2.220 đơn vị thành ngữ Hán Nhật được thống kê chi tiết trong phần Phụ lục. Nguồn tư liệu tiếng Nhật chính được trích xuất từ bộ "Thành ngữ đại từ điển" (成語大辞苑) của NXB Shufu To Seikatsu và các công trình chuyên khảo của Wada Takeshi, Okudaira Takashi, Tanzawa Kouichi, Yokoyama Tatsuji, Shiraishi Daiji. Nguồn tư liệu đối chiếu tiếng Việt dựa trên các từ điển và công trình của Nguyễn Như Ý, Hoàng Văn Hành, Vũ Dung, Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Văn Bảo.

  2. Các trường hợp đối chiếu giữa thành ngữ Hán Nhật và Hán Việt trong Chương 4 được chia thành những nhóm chính nào? Được chia thành 11 nhóm cụ thể tương ứng từ Bảng 4.1 đến Bảng 4.11 và một mục riêng (4.1.9): nhóm cấu trúc giống nhau - nghĩa giống nhau (thành tố giống hoặc khác nhau); nhóm cấu trúc giống nhau - nghĩa khác nhau; nhóm cấu trúc giống nhau - bảo lưu nghĩa gốc và phát triển nghĩa; nhóm cấu trúc khác nhau - nghĩa giống nhau (giữ nguyên yếu tố hoặc khác nhau 1, 2, 3 yếu tố); và nhóm cấu trúc khác nhau - nghĩa khác nhau.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Đặc điểm thành ngữ Hán - Nhật trong tiếng Nhật (có liên hệ với tiếng Việt)" của Nguyễn Tô Chung là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về 2.220 đơn vị thành ngữ Hán Nhật trên cả hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa. Thông qua việc phân loại các dạng thức giữ nguyên, biến đổi theo ngữ pháp tiếng Nhật và tạo mới, luận án đã làm sáng tỏ cơ chế tiếp xúc ngôn ngữ và đặc trưng tư duy văn hóa của người Nhật Bản. Kết quả đối chiếu với hệ thống thành ngữ Hán Việt xác lập cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy, đóng góp thiết thực cho lý luận ngôn ngữ học đối chiếu cũng như thực tiễn dịch thuật và giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam.