Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 1. Văn hóa và văn học Văn hoá là khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong đời sống xã hội. Trong đó, cách hiểu về văn hoá sau đây được phổ biến rộng rãi hơn cả: những gì do con người sáng tạo ra, để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động và hoạt động thực tiễn thì được gọi là văn hoá.
Các chuẩn mực này đều có vai trò chi phối, điều chỉnh đời sống tâm lí, hành vi đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con người. Văn hoá kết tinh từ quá trình lao động và hoạt động xã hội của con người, vì vậy các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã khẳng định: “Văn hóa sản sinh ra trong quá trình con người tác động vào tự nhiên và tiến hành đấu tranh xã hội” [12, tr. Đào Duy Anh đã khẳng định trong cuốn Việt Nam văn hoá sử cương như sau: “Người ta thường cho rằng văn hóa là chỉ những học thuật tư tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc biệt. Thực ra không phải như vậy.
Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi của văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về kinh tế, về chính trị, về xã hội cũng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa tức là sinh hoạt” [2, tr. Đã có hơn 300 định nghĩa về văn hoá được tác giả Phan Ngọc tìm thấy. Nhưng ông lại có định nghĩa dễ hiểu như sau: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay một tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới 15 hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [24, tr.
Định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [2, tr. Cách định nghĩa này đã tập trung vào hoạt động sáng tạo của con người gắn bó mật thiết với quá trình phát triển của lịch sử cộng đồng người. Trải qua một thời gian dài phát triển, lịch sử mỗi tộc người sẽ tạo ra một số giá trị có ý nghĩa phổ quát về tính nhân văn, đồng thời cũng thể hiện đặc thù riêng, bản sắc riêng của mỗi dân tộc.
Trần Ngọc Thêm khẳng định về khái niệm văn hoá như sau: "Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [36, tr. Như vậy, có thể hiểu văn hoá là một hệ thống các giá trị xã hội bao gồm giá trị vật chất và tinh thần cùng với phương thức tạo ra chúng, kĩ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiến bộ của con người và sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ địa phương này sang địa phương khác. Những gì có đặc điểm chung trừu tượng, mọi thời kì, mọi dân tộc và mọi cộng đồng giống nhau đều không phải là văn hoá. Bởi văn hoá mang tính riêng biệt, đặc thù gắn với mỗi cộng đồng dân tộc có đời sống xã hội riêng, một lịch sử hình thành và một hiện thực con người không đồng nhất với các cộng đồng khác [50, tr.
Từ cách hiều về văn hoá như trên, chúng ta thấy xuất hiện khái niệm Văn hoá tộc người. Trước hết, một cộng đồng người được hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có mối quan hệ về nguồn gốc, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ, có đặc điểm sinh hoạt văn hoá riêng biệt, có chung ý thức tự giác tộc người và tên tự gọi được gọi là tộc người. Theo nghĩa rộng, tộc người được hiểu là một cộng đồng người có sự liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ và chính 16 trị. Một một hệ thống riêng, một cấu trúc mang tính văn hoá chủ yếu - một nền văn hoá riêng biệt được tạo thành nhờ sự kết hợp các tính chất đó.
Hiểu một cách ngắn gọn, một tập thể hay đúng hơn, là một cộng đồng người tồn tại trên lãnh thổ của mình, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hoá riêng biệt, độc đáo chính là tộc người. Còn theo nghĩa hẹp, tộc người có thể được hiểu là một cộng đồng người có chung tiếng mẹ đẻ. Theo đó, những cái "phi vật chất" bao gồm những di sản tinh thần của cộng đồng tộc người dưới tất cả các hình thức của nó, dựa trên cái giá đỡ đặc biệt là ngôn ngữ được hiểu là văn hoá của tộc người. Bất cứ một thành viên nào của tộc người đều có thể hoàn thiện thế giới quan của mình thông qua sự thanh lọc văn hoá tộc người.
Đặc trưng văn hoá riêng của từng tộc người đã tạo ra bởi quá trình sinh tồn, ứng xử của con người với tự nhiên xã hội và trở thành bản sắc tộc người. Văn hoá tộc người thể hiện toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mang cốt cách, bản sắc riêng, phân biệt với văn hoá các tộc người khác bởi các tiêu chí cụ thể. Đặc trưng văn hoá truyền từ đời này sang đời khác tạo sự cố kết tộc người, là yếu tố phân biệt tộc người sâu sắc nhất nên văn hoá là tiêu chí quan trọng nhất để xác định tộc người [50, tr. Văn học theo nghĩa rộng là thuật ngữ “gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩm ngôn ngữ.
Nó bao gồm các tác phẩm mà ngày nay có thể xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo” [48, tr. Hiểu theo nghĩa hẹp, văn học là tác phẩm văn chương, bao gồm các sáng tác bằng ngôn từ, là sản phẩm hư cấu, tưởng tượng (trừ các tác phẩm chính trị, triết học, tôn giáo) thường quan tâm đến một con người kết tinh trong sự vật được nói đến chứ không phản ánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan, phổ quát của sự vật. Văn học bắt nguồn và phản ánh đời sống, qua đó tác giả bày tỏ quan điểm, lập trường hay tư tưởng đối với đời sống. “Văn học là loại hình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ” [20, tr.
Phản ánh đời sống xã hội, thể hiện sự nhận thức và sáng tạo của con người chính là bản chất của văn học. Mặt khác, với tư cách là hình thái ý thức xã hội đặc thù được xác định bằng các khái niệm như: hiện thực, tính nhân loại, tính giai cấp, 17 tính tư tưởng, tính khuynh hướng, tính đảng, tính nhân dân; văn học lại mang bản chất xã hội lịch sử. Văn học có những đặc trưng độc đáo của bộ môn nghệ thuật thể hiện ở đối tượng nhận thức, ở nội dung và phương thức biểu đạt hình tượng, ở chất liệu sáng tạo của nó, khác hẳn với các hình thái xã hội. Con người chính là đối tượng nhận thức trung tâm của văn học.
Con người và toàn bộ tính tổng hợp, toàn vẹn, sống động trong các mối quan hệ đời sống phong phú, phức tạp được văn học nhận thức trên phương diện thẩm mĩ. Trong tác phẩm văn học, nhà văn vừa nhận thức chân lí khách quan vừa bộc lộ tư tưởng, tình cảm, ước mơ và khát vọng của mình đối với con người và cuộc sống. Trong quá trình phát triển, bối cảnh văn hóa đã ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngành khoa học, trong đó cả văn học. Giữa văn học và văn hóa có sự gắn kết không thể tách rời.
Chính vì vậy, trong quá trình phát triển lịch sử; nghiên cứu các ngành khoa học khác nhau, nghiên cứu văn học là góp phần to lớn trong việc nhận thức về vai trò của văn hoá trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, cũng như trong đời sống xã hội. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Trong tổng thể văn hóa, văn học là một bộ phận không thể thiếu. Khi nghiên cứu văn học, phải luôn đặt nó trong mối quan hệ với văn hoá (cái chung) với tư cách là toàn bộ sáng tạo vật chất và tinh thần của nhân loại. Ngược lại, kết quả nghiên cứu văn học cũng góp phần biểu trưng ở các mức độ khác nhau cho diện mạo của một nền văn hoá.
Sự “tự ý thức văn hóa” chính là đặc trưng của văn học. Một tác phẩm văn học luôn bộc lộ rõ nét bản chất văn hoá dân tộc - nơi mà tác phầm khởi nguồn. Có nghĩa là dù người viết có hay không ý thức trong văn học cần phải truyền tải văn hóa vào sáng tác của mình nhưng luôn ẩn chứa trong nó những biểu hiện văn hóa đặc trưng của một vùng quê, một đất nước hay chỉ là một dân tộc. Bởi văn học là sự hiển đạt văn hóa một cách hiển nhiên.
Trần Lê Bảo đã khẳng định: “Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa. Văn học chịu ảnh hưởng trực 18 tiếp từ môi trường văn hóa thời đại và truyền thống văn hóa độc đáo của một dân tộc, đồng thời thể hiện cả nội hàm tâm lý văn hóa độc đáo của một thời đại và một cộng đồng dân tộc. Cùng với hệ thống giá trị văn hóa là những mô thức văn hóa riêng của một cộng đồng dân tộc, văn học đã tự giác tiếp nhận và thể hiện những giá trị và mô thức mà cả cộng đồng tôn trọng và tuân thủ” [49, tr.