Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Truyện cổ Bru - Vân Kiều nhìn từ tâm lý học tộc người" do nghiên cứu sinh Đàm Nghĩa Hiếu thực hiện tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế (năm 2018), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Đức Khoa. Công trình là một khảo cứu định tính liên ngành giữa văn học dân gian, phân tâm học và dân tộc học, tập trung giải mã căn tính và cơ chế thích nghi tâm lý của cộng đồng Bru - Vân Kiều thông qua kho tàng truyện kể dân gian.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bối cảnh toàn cầu hóa và xu thế đồng nhất văn hóa vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI đang đặt các tộc người thiểu số trước cuộc khủng hoảng căn tính sâu sắc. Nhân loại đứng trước làn sóng tinh thần dữ dội giữa khác biệt và hòa nhập, dẫn tới nguy cơ xóa nhòa những gương mặt riêng mà mỗi tộc người đã tích lũy trong lịch sử. Người Bru - Vân Kiều là một tộc người có số phận lịch sử đặc biệt tại khu vực miền Trung Đông Dương: vốn là cư dân bản địa chịu nhiều biến động lịch sử, nhiều lần bị xâm lấn, xô đẩy bởi các thế lực lớn hơn nên phải liên tục di cư, thu mình lại trong cả không gian địa lý lẫn tâm thức để sinh tồn trong hòa bình.
Trong di sản văn hóa của người Bru - Vân Kiều, truyện cổ giữ vị thế ưu trội nhất (khác với người H'mông nổi bật về dân ca, người Thái về truyện thơ hay người Êđê về sử thi). Tuy nhiên, các công trình trước đây hoặc chỉ nghiên cứu khái lược truyện cổ trong các bức tranh dân tộc học tổng quát, hoặc tiếp cận đơn lập một vài tác phẩm, hoặc phân tích theo hướng xã hội học với điểm nhìn giai cấp thuần túy. Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà tác giả xác định là: truyện cổ Bru - Vân Kiều chưa từng được khảo cứu chuyên biệt trên một hệ thống cơ sở dữ liệu tổng hợp đầy đủ, và chưa được soi chiếu từ chiều sâu của lý thuyết tâm lý học tộc người nhằm giải mã những chấn thương lịch sử, vô thức tập thể cùng năng lực thích nghi tinh thần của tộc người.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nhận diện và giải mã những nét tâm lý đặc trưng của người Bru - Vân Kiều trong truyện cổ, qua đó nhận diện cá tính tộc người để góp phần hiểu rõ thân phận và tình cảnh hiện tại của họ trong cộng đồng quốc gia Việt Nam đa tộc người.
- Mục tiêu cụ thể:
- Thông qua khảo sát tư liệu, nhận diện quá trình tộc người Bru - Vân Kiều tại Việt Nam, bước đầu hiểu rõ lịch sử, văn hóa và tâm thức của họ;
- Phân tích, lý giải truyện cổ Bru - Vân Kiều dựa trên chuỗi phản ứng tinh thần: giả trang - nhiễu loạn - quy ước nhằm xác nhận tâm lý yêu hòa bình và khả năng thích nghi mạnh mẽ;
- Lý giải cội nguồn ý niệm vũ trụ, đặc biệt là tư duy không gian của tộc người với mô hình đồng dạng từ thân thể đến tự nhiên và tổ chức xã hội. Sự thừa nhận đồng thời quyền lực song song trong các không gian một lần nữa khẳng định tâm lý thích nghi của người Bru - Vân Kiều.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các hướng nghiên cứu truyện cổ Bru - Vân Kiều đã có, phân tích và lý giải nhằm thấy rõ chỗ bỏ ngỏ để xác định hướng đi riêng;
- Mô tả đối tượng nghiên cứu trong tương quan tổng thể văn hóa tộc người Bru - Vân Kiều và các khung lý thuyết vận dụng;
- Thống kê một số biểu tượng nổi trội, nhận diện những khoảng trắng bất thường trong truyện cổ nhằm chỉ ra các ám ảnh tâm thức và chuỗi phản ứng của tâm lý thích nghi;
- Phân tích cấu trúc thân thể, kỹ thuật vận hành thân thể, cấu trúc không gian và phương thức canh tác trong truyện cổ để tái dựng một giả định về mô hình vũ trụ của người Bru - Vân Kiều.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Truyện cổ Bru - Vân Kiều với tư cách là bộ phận cốt lõi, tiêu biểu nhất trong kho tàng ngữ văn dân gian của tộc người.
- Phạm vi tư liệu: Toàn bộ 98 văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều được tập hợp từ 18 ấn phẩm xuất bản từ năm 1974 đến 2016 (của các nhà sưu tầm như Mai Văn Tấn, Đinh Thanh Dự, Hồ Xuân Long, Bôn Simôn Ca Na An, Gabor Vargyas, Joaan L. Bchrock...) kết hợp với 14 truyện kể mới thu thập được qua điền dã thực địa.
- Phạm vi không gian và thời gian: Về không gian, nghiên cứu bao quát các vùng cư trú truyền thống và phân tán của người Bru - Vân Kiều tại Quảng Trị (huyện Hướng Hóa, Đakrông), Quảng Bình (huyện Minh Hóa, Bố Trạch, Tuyên Hóa, Lệ Thủy) và cộng đồng di cư tại Đắk Lắk (huyện Krông Pắc). Về mặt thời gian, luận án khảo cứu nguồn tư liệu lịch sử từ thế kỷ XVI (thời Lê - Mạc) đến thời điểm nghiên cứu thực địa (2015-2016).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành phân loại và đánh giá có hệ thống lịch sử nghiên cứu về người Bru - Vân Kiều và truyện cổ của họ theo các trục thời gian và khuynh hướng tiếp cận:
Các hướng nghiên cứu trước đây
-
Nghiên cứu của học giả nước ngoài về tộc người Bru - Vân Kiều:
- Giai đoạn thám sát thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX: Francois Jules Harmand là một trong những người đầu tiên tiếp xúc với người Bru ở tả ngạn sông Mê Kông từ Savannakhet đến Quảng Trị, ghi nhận tập quán canh tác, săn bắt và phân bố cư trú. Malglaive khảo sát địa hình và ghi nhận các làng Bru cổ. Charles Lemire mô tả cư dân Khe Sanh và sự xuất hiện của người Kinh. Valentin khảo sát nhân học hình thể và tôn giáo shaman giáo (gọi họ là người Khalu). Macey nghiên cứu tên gọi và tập tính địa phương. Malpuech tiếp cận nguồn gốc qua huyền thoại hồng thủy và vật tổ con chó. Hoffet (nhà địa chất học) nhấn mạnh tính cách yêu hòa bình và tục hiến tế trâu. Madeleine Colani miêu tả trang phục và đời sống tâm linh.
- Giai đoạn 1954 - 1975: John và Carolyne Miller nghiên cứu ngôn ngữ, quan hệ thân thuộc (1972) và khảo cứu câu chuyện "Con của mẹ Hổ và con của mẹ Bò" (2002). Joaan L. Bchroch và cộng sự trong tác phẩm "Người Bru" (1966) mô tả toàn diện về nhân học, phong tục và cảnh quan. Gerald Hickey khảo sát cấu trúc xã hội và các cuộc chuyển cư vào Đắk Lắk năm 1972.
- Từ thập niên 1980 đến nay: Gabor Vargyas qua "Người Bru qua một thế kỷ văn học" (1998) và hàng loạt khảo cứu thực địa (1985-2010) đã phân tích sâu về shaman giáo, các điều cấm kỵ từ rừng, mối liên hệ với tổ tiên và xu hướng chấp nhận quyền lực thống trị trong tâm thức tộc người.
-
Nghiên cứu của học giả Việt Nam về tộc người Bru - Vân Kiều:
- Thư tịch cổ: Dương Văn An trong "Ô châu cận lục" (1553) ghi nhận địa danh "nguồn Viên Kiều". Lê Quý Đôn trong "Phủ biên tạp lục" (1776) ghi chép chi tiết về nguồn Viên Kiều, châu Thuận Bình, các cống vật (ngà voi, màn hoa, vỏ gai, bông vải) và các đồn tuần kiểm soát hành chính của Đại Việt.
- Giai đoạn từ giữa thế kỷ XX: Vương Hoàng Tuyên (1963), Mạc Đường (1963), Phan Hữu Dật (1964, 1975), Khổng Diễn (1975), Ngô Đức Thịnh (1975, 1976), Viện Dân tộc học (1978), Nguyễn Quốc Lộc (1984) đã làm rõ nguồn gốc Môn - Khmer, lược sử di trú và sự thống nhất về mặt ngôn ngữ, văn hóa giữa 4 nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Mang Coong (Ma Coong).
- Các công trình chuyên khảo: Lê Quang Thiêm (1997) nghiên cứu phát triển bền vững; Nguyễn Xuân Hồng (1998) và Nguyễn Văn Mạnh (2001) khảo sát luật tục, hôn nhân và ma chay; Y Thi (2007) thống kê hơn 40 dòng họ (mô); Đinh Thanh Dự (2010) khảo cứu văn hóa và truyện kể nhóm Khùa; Lý Tùng Hiếu (2007) phân tích ngôn ngữ học đối chiếu; Nguyễn Văn Trung (2014) khảo cứu thiết chế chủ đất của nhóm Ma Coong.
-
Tình hình sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ Bru - Vân Kiều:
- Nghiên cứu sớm: Mục sư Bùi Tấn Lộc với bài báo "Creation and flood in Bru Legend" (1961) khảo sát huyền thoại sáng thế và nạn hồng thủy.
- Công tác sưu tầm: Mai Văn Tấn là người có công bố quy mô nhất với 8 ấn phẩm (1974-2007) giới thiệu 54 truyện cổ; Hồ Xuân Long (1995) công bố tác phẩm song ngữ "Chàng Cu cây"; Đinh Thanh Dự (2010) xuất bản 23 truyện của nhóm Khùa; Bôn Simôn Ca Na An (2016) công bố 12 truyện tại Đắk Lắk.
- Khuynh hướng nghiên cứu: Mai Văn Tấn phân loại theo chủ đề đạo đức và đấu tranh xã hội; Văn Món (2016) phân loại theo thể loại (loài vật, thần kỳ, thế tục); John & Carolyne Miller (2002) phân tích ngôn ngữ và cấu trúc diễn xướng; Gabor Vargyas (2010) giải mã biểu tượng ma thuật trên mũ shaman.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu dừng lại ở mức mô tả dân tộc học thuần túy, phân loại thể loại văn học truyền thống hoặc phân tích quan hệ xã hội giai cấp mang tính xã hội học. Chưa có công trình nào khảo cứu toàn diện hệ thống truyện cổ Bru - Vân Kiều dưới lăng kính tâm lý học chiều sâu và tâm bệnh học tộc người. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xem truyện cổ là "di chỉ sống" chứa đựng những chấn thương lịch sử, trầm tích vô thức tập thể và phản ánh các cơ chế thích nghi tâm lý đặc thù của tộc người.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp các lý thuyết tâm lý học chiều sâu:
- Lý thuyết phân tâm học các chiều sâu của Carl Gustav Jung:
- Vô thức tập thể (Collective Unconscious): Tầng sâu nhất của tâm thần, kết tinh các truyền thống tâm lý, tâm linh và kinh nghiệm văn hóa được di truyền qua nhiều thế hệ.
- Cổ mẫu (Archetype): Nguồn năng lượng tâm thần nguyên thủy thôi thúc và tạo dựng các khuôn mẫu biểu tượng, vận hành cấu trúc tâm thức tộc người.
- Biểu trưng và Biểu tượng (Symbol): Tiến trình chuyển hóa năng lượng cổ mẫu thành các hình ảnh nghệ thuật nhằm hàn gắn những đứt gãy lịch sử.
- Lý thuyết Mặt nạ (Persona): Phức cảm chức năng có vai trò tự vệ, vừa che giấu vừa bộc lộ cảm xúc trước các áp lực sinh tồn.
- Lý thuyết tâm bệnh học tộc người của Georges Devereux:
- Xem xét mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và tâm lý; xác định ranh giới giữa trạng thái bình thường và bất thường do những khúc quanh lịch sử gây ra.
- Hiện tượng nhiễu tâm, loạn tâm tộc người và cơ chế của "những giấc mơ sinh bệnh" như một phương thức giải tỏa sang chấn tinh thần.
- Mô hình chuỗi phản ứng tinh thần: Khung phân tích được tổ chức theo tiến trình: Giả trang (thích nghi tưởng tượng) $\rightarrow$ Nhiễu loạn (sự giằng co giữa thích nghi và đối kháng) $\rightarrow$ Quy ước (thích nghi tự nguyện).
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tâm lý học tộc người: Đóng vai trò công cụ nhận diện và giải mã các hiện tượng tâm lý, chấn thương tinh thần trong văn bản truyện kể.
- Phương pháp xếp chồng văn bản: Đặt các dị bản và hệ thống 98 truyện vào cùng một chỉnh thể để trừu xuất các motif, biểu tượng ám ảnh và các mô hình đồng dạng.
- Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp văn học dân gian (phân loại thể loại, motif), văn hóa học (hệ quy chiếu phong tục tập quán) và dân tộc học (điền dã, phỏng vấn nhân chứng tại Quảng Trị và Đắk Lắk).
- Các thao tác nghiên cứu: Thao tác thống kê ngữ liệu văn bản; phân tích ngữ nghĩa biểu trưng; tổng hợp kết chuỗi các hiện tượng tinh thần.
Nguồn tư liệu và phân bố dữ liệu
Luận án tiến hành khảo sát trên tổng thể 98 văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều, được thống kê cụ thể theo nguồn xuất hiện đầu tiên:
| STT |
Tên tác phẩm / Nguồn ngữ liệu |
Tác giả / Người sưu tầm |
Năm XB |
Số truyện mới / Tổng số |
| 1 |
Truyện cổ Vân Kiều |
Mai Văn Tấn |
1974 |
18/18 |
| 2 |
Truyện cổ Vân Kiều |
Mai Văn Tấn |
1978 |
23/23 |
| 3 |
Prnhia đi học khôn |
Mai Văn Tấn |
1985 |
3/4 |
| 4 |
Truyện cổ Vân Kiều |
Mai Văn Tấn |
1985 |
0/23 |
| 5 |
Con voi thần |
Mai Văn Tấn |
1986 |
10/12 |
| 6 |
Truyện cổ Vân Kiều |
Mai Văn Tấn |
2007 |
0/22 |
| 7 |
Truyện cổ Vân Kiều - Tiều Ca-lang |
Mai Văn Tấn |
2007 |
0/13 |
| 8 |
Truyện cổ Vân Kiều - Trạng Tầng |
Mai Văn Tấn |
2007 |
0/14 |
| 9 |
Truyện cổ các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên |
Nhiều tác giả |
1986 |
0/3 |
| 10 |
Văn học dân gian Quảng Trị (tập 1) |
Hứa Thụy |
1992 |
2/7 |
| 11 |
Chàng Cu cây |
Hồ Xuân Long |
1995 |
0/1 |
| 12 |
Truyện cổ các dân tộc Việt Nam (tập 2) |
Viện Văn học |
2000 |
1/1 |
| 13 |
Truyện cổ Vân Kiều |
Thu Hương |
2006 |
0/13 |
| 14 |
Văn hóa dân gian Bru - Vân Kiều, Chứt ở Quảng Bình |
Đinh Thanh Dự |
2010 |
23/23 |
| 15 |
Truyện cổ Bru - Vân Kiều |
Bôn Simôn Ca Na An |
2016 |
1/12 |
| 16 |
Người Bru |
Joaan L. Bchrock |
1973 |
1/1 |
| 17 |
Thẻ bài của người lính trên mũ shaman |
Gabor Vargyas |
2010 |
2/2 |
| 18 |
Tư liệu điền dã thực tế tại Đakrông (Quảng Trị) |
Tác giả luận án ghi nhận |
2016 |
14/18 |
| Tổng |
Tổng số văn bản truyện cổ tập hợp được |
|
|
98 truyện |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu truyện cổ Bru - Vân Kiều nhìn từ tâm lý học tộc người
Chương 1 khái quát ba mảng tư liệu lớn:
- Lịch sử nghiên cứu tộc người Bru - Vân Kiều: Điểm lại hành trình khảo cứu từ thư tịch cổ Việt Nam thế kỷ XVI - XVIII đến các nhà thám hiểm người Pháp (Harmand, Malglaive, Valentin), các học giả Mỹ thời kỳ chiến tranh (John & Carolyne Miller, Hickey) và các nhà dân tộc học Việt Nam (Vương Hoàng Tuyên, Phan Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh). Qua đó làm nổi bật vị thế địa bàn chiến lược miền Trung Đông Dương và đặc tính yêu chuộng hòa bình của cộng đồng Bru.
- Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ: Phân tích đóng góp của Mai Văn Tấn, Đinh Thanh Dự, Bôn Simôn Ca Na An và các bài viết của Bùi Tấn Lộc, Gabor Vargyas, Văn Món. Luận án chỉ ra sự thiếu vắng của các công trình khảo cứu chuyên sâu quy mô toàn diện.
- Cơ sở lý thuyết: Luận giải sự tương thích giữa lý thuyết vô thức tập thể, cổ mẫu, mặt nạ của C.G. Jung và tâm bệnh học tộc người của G. Devereux với đối tượng truyện dân gian, khẳng định truyện cổ là phương tiện lưu giữ bí mật tâm lý và căn tính tộc người.
Chương 2: Người Bru - Vân Kiều và truyện cổ
Chương này tập trung xác lập chân dung văn hóa và lịch sử di trú của cộng đồng Bru - Vân Kiều làm nền tảng soi chiếu cho văn bản văn học:
- Lược sử di trú và thành phần tộc người: Tộc người Bru - Vân Kiều thuộc ngữ hệ Nam Á (nhóm Môn - Khmer). Do các biến động lịch sử, họ di cư từ vùng Trung Lào sang sườn đông dãy Trường Sơn theo nhiều đợt. Người Khùa sang sớm nhất vào khoảng thế kỷ XV; các đợt di cư tiếp diễn vào cuối thế kỷ XIX và năm 1972 (khoảng 2.000 người chuyển vào cư trú tại Đắk Lắk). Theo Danh mục thành phần dân tộc Việt Nam (1979), tộc người Bru - Vân Kiều gồm 4 nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Mang Coong (Ma Coong).
- Đặc trưng văn hóa vật chất:
- Nông nghiệp nương rẫy: Canh tác trên đất dốc bằng phương thức chọc lỗ tra hạt. Quy trình bao gồm: chọn đất rẫy ngoài rừng cấm, bói thẻ tre a-xeo, quan sát giấc mơ báo mộng (mộng lành: phụ nữ bồng con, sinh nở; mộng dữ: máu, lửa, gà trống), phát cây, đốt rẫy, dùng gậy nhọn trỉa hạt và lấp lỗ, thực hành lễ cúng đốt rẫy, trỉa lúa và cúng Mẹ lúa (yiang Abôk).
- Săn bắt và hái lượm: Tổ chức săn cá nhân hoặc tập thể bằng lưới, ná, bẫy; thực hiện lễ mở cửa rừng, bói mộng và cúng thần yiang Ka-liẹ, thần đất yiang sơ-rưng. Ngược lại, người Bru khá hờ hững với nghi lễ đánh bắt thủy sản (chỉ cúng thần nước yiang Krong định kỳ), dù nước là một ám ảnh lớn trong truyện cổ.
- Ẩm thực: Thói quen ăn đồ nướng, cơm gạo tẻ, canh nấu trong ống tre/nứa; tích trữ thịt cá ướp muối ớt lên men vị chua trên giàn bếp; làm bánh nếp Adơr, bánh lá cúng mẹ Lúa; dùng nước chấm đặc chế cà-xúp (từ cải cay cô đặc) và uống rượu cần ủ men lá. Tập quán hút thuốc bằng tẩu gỗ, sừng trâu phổ biến ở cả hai giới nhằm mục đích giữ ấm.
- Cư trú và trang phục: Bản (vil hay vel) gồm 10-30 nóc nhà sàn (đung), đặc trưng với kiểu nhà mái tròn ôm liền hai đầu hồi. Ký ức xa xưa lưu giữ trang phục áo vỏ cây (amưng); sau đó sử dụng vải Lào để làm khố (xà lai), áo (chu he), khăn (đam) cho nam và váy (ta mục), áo (ao đo), khăn (cơn) cho nữ.
- Đặc trưng văn hóa tinh thần:
- Tập tục sim và cưa răng: Thanh niên 13-14 tuổi ra ngủ tại nhà xu ngoài biên rẫy để thổi kèn, đi sim tìm hiểu bạn đời; thực hiện nghi thức cưa răng/cà răng như một thử thách đau đớn đánh dấu sự trưởng thành.
- Âm nhạc dân gian: Hệ thống làn điệu phong phú như hát đối đáp đi sim (oát), hát tự sự đời thường (xà nớt), hát múa lễ hội (prơđoạc), hát ru (adângcon). Nhạc cụ gồm thanh la (dùng hòa giải mâu thuẫn làng bản), chiêng núm, trống tang ma, kèn đôi a-mang, kèn ta-riềng, sáo trúc (khèn khui, sáo pi cúng tế), đàn a-chung, đàn pơ-lửa.
- Hôn nhân hai lần cưới: Hôn nhân một vợ một chồng, cư trú nhà chồng. Trải qua lễ cưới lần một (tabeng) với sính lễ thanh kiếm đưa chuôi, bạc nén, nồi đồng. Nhà gái đòi nợ thách cưới khiến cô dâu chưa hoàn toàn thuộc về họ chồng cho đến khi nhà trai gom đủ lễ vật làm lễ cưới lần hai (lễ col hay lễ khơi) với sự chứng kiến của người cậu. Tồn tại tục nối dây (xượp).
- Tang ma và thế giới tâm linh: Người chết lành được quấn chiếu chôn tại rừng ma và bỏ hẳn sau 3-4 ngày tiễn đưa; người "chết xấu/chết dữ" (tai nạn, thú vồ, sét đánh, sinh nở) bị coi là ma quỷ phạt, phải chôn ngay trong rừng sâu biệt lập, không được đưa về bản. Thực hành tục thờ thần bản mệnh cho người đang sống bằng chén thiêng đặt trong giỏ tre a-ruông. Hệ thống thần linh gồm Yiang (thượng đế), Yiang Krong (thần nước), Yiang Abôk (thần lúa), Yiang Sarpau (thần tài lộc), Yiang Cóh (thần núi) và nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với ma-lai (loài ma rút ruột hút máu).
- Vị thế của truyện cổ: Truyện cổ đóng vai trò trung tâm trong ngữ văn dân gian tộc người (vắng bóng sử thi, trường ca), là cánh cửa giải mã những tín niệm, cách ứng xử và không gian thiêng liêng lưu giữ bản mệnh của cộng đồng Bru - Vân Kiều.
Chương 3: Biểu trưng tâm lý thích nghi của người Bru - Vân Kiều trong truyện cổ
Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống truyện kể theo chuỗi phản ứng tinh thần 3 giai đoạn:
- Giả trang - sự thích nghi tưởng tượng:
- Những cuộc ra đi bên ngoài: Motif nhân vật chủ động bỏ bản ra đi, trốn chạy vào rừng sâu hoặc các xứ sở xa lạ khi đối diện với các thế lực thống trị tàn bạo, thiên tai hoặc xung đột. Đây là sự phóng chiếu tâm lý xê dịch địa lý có thật trong lịch sử di trú nhằm bảo toàn sinh mạng và tránh đối đầu bạo lực trực diện.
- Những cuộc ra đi bên trong: Nhân vật thực hiện các cuộc biến dạng, khoác lên mình tấm "mặt nạ" (persona) thông qua motif người đội lốt (lốt cóc, lốt khỉ, hình hài xấu xí, người mồ côi thấp kém). Sự giả trang hình thể giúp nhân vật che giấu bản ngã, tránh sự tấn công của các quyền lực áp chế và đạt được sự an toàn tâm lý.
- Nhiễu loạn - sự giằng co giữa thích nghi và đối kháng:
- Phản ánh những sang chấn tinh thần khi tộc người bị dồn nén đến mức mất cân bằng tâm lý. Luận án phân tích các biểu hiện của ma thuật, bùa ngải, và đặc biệt là hình tượng ma-lai – biểu trưng cho sự tha hóa, phân liệt nhân cách và những xung đột âm ỉ giữa chấp nhận phục tùng và phản kháng hủy diệt trong vô thức cộng đồng.
- Quy ước - sự thích nghi tự nguyện:
- Quy ước từ giao kết: Các thỏa hiệp xã hội, cam kết giữa con người với thần linh, giữa các dòng họ hoặc giữa người mồ côi với thế lực cai trị. Xung đột được hóa giải không phải bằng tiêu diệt triệt để mà bằng sự phân định ranh giới và xác lập khế ước cùng tồn tại.
- Quy ước từ ước mơ: Giấc mơ xuất hiện như một cơ chế tự vệ tâm thần (theo lý thuyết Devereux), là cầu nối liên lạc giữa các chiều không - thời gian, giúp nhân vật nhận điềm báo, tìm kiếm sự trợ giúp thiêng liêng để tái lập trật tự cân bằng và hòa hợp nội tâm.
Chương 4: Một giả định về vũ trụ của người Bru - Vân Kiều trong truyện cổ
Chương 4 tái dựng mô hình vũ trụ quan của người Bru - Vân Kiều từ các biểu tượng không gian và thân thể:
- Thân thể như là vũ trụ tại thân:
- Khảo sát sự nhận diện thân thể và các kỹ thuật vận hành thân thể (cưa răng, ăn uống, di chuyển, mang vác) trong truyện cổ. Thân thể con người được nhìn nhận như một tiểu vũ trụ với các cơ chế vận hành tương ứng với giới tự nhiên.
- Không gian như là vũ trụ ngoài thân:
- Nếp không gian: Phân tầng không gian thành không gian bản làng (vil - trật tự, an toàn), không gian rừng rẫy/rừng ma (hoang dã, hiểm nguy nhưng thiêng liêng) và không gian cõi trời/cõi nước.
- Hình dung về vũ trụ lưỡng quyền: Vũ trụ trong tâm thức Bru - Vân Kiều được khởi tạo và duy trì bởi sự tồn tại song song của hai thế lực quyền lực tương đương (quyền lực trần gian và siêu nhiên, thiện và ác, nam và nữ). Mô hình lưỡng quyền song song này lặp lại chính xác trong cấu trúc tổ chức xã hội dòng họ và làng bản của tộc người.
- Nông nghiệp nương rẫy - sự thích nghi giữa tâm thức thân thể và tâm thức vũ trụ:
- Phương thức luân canh nương rẫy không chỉ là hành vi sinh kế mà là một nghi thức thiêng liêng. Từng thao tác từ bói đất, tra hạt, lấp lỗ đến thu hoạch đều là sự tương tác nhịp nhàng giữa kỹ thuật thân thể với chu kỳ tự nhiên. Nương rẫy trở thành không gian thực hành sự thích nghi hòa bình cao nhất của con người với vũ trụ bao la.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Về mặt tư liệu: Luận án đã hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu về người Bru - Vân Kiều từ thế kỷ XVI đến nay; xây dựng bảng thống kê 98 truyện cổ Bru - Vân Kiều từ 18 nguồn tư liệu xuất bản và điền dã thực tế, cung cấp một hệ thống dữ liệu văn bản hoàn chỉnh phục vụ nghiên cứu ngữ văn dân gian.
- Về mặt lý thuyết: Chứng minh tính tương thích và hiệu quả của việc ứng dụng lý thuyết tâm lý học tộc người, cụ thể là phân tâm học các chiều sâu của Carl Gustav Jung (vô thức tập thể, cổ mẫu, mặt nạ) và tâm bệnh học tộc người của Georges Devereux vào việc giải mã văn học dân gian các tộc người thiểu số tại Việt Nam.
- Về mặt học thuật: Xác lập một góc nhìn mới về truyện cổ dân gian: không xem văn bản là những cấu trúc tĩnh mà là những "trầm tích tinh thần", phản ánh sinh động các biến cố lịch sử, chấn thương tâm lý và kinh nghiệm sinh tồn được tích lũy của tộc người.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Nhận diện cá tính tộc người: Luận án làm sáng tỏ nét tâm lý cốt lõi của người Bru - Vân Kiều là tâm lý yêu chuộng hòa bình và khả năng thích nghi mạnh mẽ. Nét tâm lý này được minh chứng qua phản ứng chọn cách ra đi thay vì đối đầu bạo lực, dùng sự giả trang/mặt nạ để tự vệ, sử dụng giấc mơ và các khế ước để tái lập trật tự.
- Tái dựng mô hình vũ trụ quan: Phát hiện mô hình tư duy không gian và vũ trụ lưỡng quyền song song đồng dạng từ cấu trúc thân thể, cấu trúc làng bản đến cấu trúc canh tác nương rẫy.
Đề xuất và kiến nghị
- Cần tiếp cận các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Bru - Vân Kiều dựa trên sự thấu hiểu sâu sắc đặc trưng tâm lý tộc người, tránh áp đặt các mô hình cưỡng chế làm đứt gãy không gian văn hóa nương rẫy truyền thống.
- Cần có kế hoạch bảo tồn khẩn cấp di sản truyện kể và các hình thức diễn xướng dân gian của người Bru - Vân Kiều trước nguy cơ bị mai một trong quá trình hội nhập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Nguồn cứ liệu lịch sử thành văn về các giai đoạn di cư cổ sơ của người Bru từ Lào sang Việt Nam còn nhiều chỗ khuyết thiếu và chưa đồng nhất.
- Tư liệu truyện kể sưu tầm chủ yếu dựa trên các văn bản tiếng Việt đã qua biên dịch; một bộ phận truyện kể gốc bằng tiếng Bru trong dân gian chưa được ghi âm, gỡ băng và phiên dịch toàn bộ.
- Địa bàn điền dã thực tế mới chỉ tập trung chủ yếu tại Quảng Trị (huyện Đakrông) và Đắk Lắk, chưa khảo sát sâu toàn diện các nhóm Khùa và Ma Coong ở vùng sâu tỉnh Quảng Bình.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu truyện cổ Bru - Vân Kiều với truyện cổ các tộc người lân cận cùng nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer dọc dãy Trường Sơn (như Tà Ôi, Cơ Tu, Pa Cô, Ba Na, Xơ Đăng).
- Khảo sát sâu hơn các hình thức diễn xướng nguyên hợp của truyện kể trong môi trường sinh hoạt cộng đồng tại các bản làng hẻo lánh.
- Ứng dụng khung phân tích tâm lý học tộc người để giải mã các thể loại ngữ văn dân gian khác của người Bru - Vân Kiều như dân ca (oát, xà nớt), luật tục và câu đố.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn học dân gian, Dân tộc học, Nhân học văn hóa và Tâm lý học văn hóa. Cung cấp một mô hình mẫu về phương pháp nghiên cứu liên ngành vận dụng phân tâm học vào phân tích văn bản nghệ thuật dân gian.
- Đối với các nhà sưu tầm văn học dân gian: Cung cấp bảng thống kê thư mục văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều chi tiết, xác thực và có độ tin cậy cao.
- Đối với các cơ quan quản lý văn hóa và người làm chính sách: Cung cấp tri thức nền tảng về thế giới quan, nhân sinh quan và tâm lý đặc thù của người Bru - Vân Kiều, phục vụ công tác hoạch định chính sách dân tộc, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Đắk Lắk.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát bao nhiêu văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều và phân bố nguồn dữ liệu ra sao?
Luận án khảo sát tổng cộng 98 văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều (tính theo lần xuất hiện đầu tiên). Nguồn ngữ liệu được tập hợp từ 18 nguồn tư liệu khác nhau, bao gồm:
- 54 truyện trong 8 ấn phẩm xuất bản của tác giả Mai Văn Tấn (từ năm 1974 đến 2007);
- 23 truyện của nhóm Khùa do Đinh Thanh Dự sưu tầm tại Quảng Bình (2010);
- 12 truyện do Bôn Simôn Ca Na An sưu tầm tại Đắk Lắk (2016);
- 14 truyện do chính tác giả luận án điền dã, phỏng vấn và ghi nhận thực tế tại huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị (2016);
- Các truyện còn lại trích xuất từ công trình của Viện Văn học, Hứa Thụy, Joaan L. Bchrock và Gabor Vargyas.
2. Tác giả vận dụng các khái niệm lý thuyết cốt lõi nào của Carl Gustav Jung và Georges Devereux?
- Carl Gustav Jung: Vận dụng các khái niệm Vô thức tập thể (tầng sâu di truyền kinh nghiệm tinh thần), Cổ mẫu (Archetype - nguồn năng lượng tâm thần kiến tạo biểu tượng), Biểu trưng/Biểu tượng (cầu nối hàn gắn đứt gãy tâm thức), và Mặt nạ (Persona - cơ chế tâm lý tự vệ thông qua việc hóa thân, giả trang).
- Georges Devereux: Vận dụng lý thuyết Tâm bệnh học tộc người, cơ chế hình thành các triệu chứng nhiễu tâm/loạn tâm do biến cố lịch sử và khái niệm Những giấc mơ sinh bệnh (giải pháp tự vệ và giải tỏa sang chấn tinh thần trong các xã hội phi phương Tây).
3. Chuỗi phản ứng tinh thần của người Bru - Vân Kiều trong Chương 3 gồm những biểu trưng nào?
Chuỗi phản ứng tinh thần gồm 3 nấc thang biểu trưng:
- Giả trang (sự thích nghi tưởng tượng): Thể hiện qua motif nhân vật chủ động bỏ bản ra đi (xê dịch địa lý né tránh xung đột) và motif người đội lốt/khoác mặt nạ xấu xí, mồ côi (xê dịch tinh thần để tự vệ).
- Nhiễu loạn (sự giằng co giữa thích nghi và đối kháng): Thể hiện qua các hiện tượng ma thuật, bùa ngải và hình tượng ma-lai phản ánh sang chấn tâm lý và sự phân liệt nhân cách.
- Quy ước (sự thích nghi tự nguyện): Thể hiện qua các giao kết khế ước phân định ranh giới hòa giải xã hội và các giấc mơ tâm linh mang tính tự vệ cân bằng.
4. Giả định về mô hình vũ trụ của người Bru - Vân Kiều trong Chương 4 được xây dựng trên những yếu tố nào?
Mô hình vũ trụ quan được giả định dựa trên 3 trụ cột đồng dạng:
- Thân thể như vũ trụ tại thân: Các nhận diện giải phẫu và kỹ thuật thân thể (ăn, mặc, cưa răng, vận động) tương ứng với quy luật tự nhiên.
- Không gian như vũ trụ ngoài thân: Mô hình vũ trụ được kiến tạo và duy trì bởi hai quyền lực song song (lưỡng quyền cân bằng), lặp lại trong tổ chức xã hội và làng bản.
- Nông nghiệp nương rẫy: Hoạt động luân canh và nghi lễ nương rẫy đóng vai trò là nhịp cầu thích nghi, kết nối kỹ thuật thân thể với trật tự vũ trụ thiêng liêng.
5. Đặc trưng của tục thờ thần bản mệnh và hôn nhân hai lần cưới của người Bru - Vân Kiều là gì?
- Thờ thần bản mệnh: Người Bru - Vân Kiều thờ linh hồn người đang sống bằng một chiếc chén riêng đặt trong giỏ tre đan (a-ruông) cắm trên vách gian thờ gia đình. Khi ốm đau, chiếc chén được đưa cho thầy mo làm lễ gọi hồn; khi qua đời, chén mới bị đem bỏ ra rừng ma.
- Hôn nhân hai lần cưới: Bắt đầu bằng lễ cưới lần một (lễ tabeng - trao chuôi kiếm, bạc nén). Do nhà gái thách cưới rất nặng nên nhà trai mắc nợ truyền đời; người vợ chỉ chính thức thuộc về dòng họ chồng sau khi hoàn thành lễ cưới lần hai (lễ col hay lễ khơi) với sự chứng kiến của người cậu.
Kết luận
Luận án "Truyện cổ Bru - Vân Kiều nhìn từ tâm lý học tộc người" của tác giả Đàm Nghĩa Hiếu là một công trình nghiên cứu định tính liên ngành chuyên sâu, giải quyết trọn vẹn khoảng trống học thuật về truyện kể dân gian của cộng đồng Bru - Vân Kiều tại Việt Nam. Bằng việc tích hợp hệ thống 98 truyện cổ với lý thuyết phân tâm học chiều sâu của C.G. Jung và tâm bệnh học tộc người của G. Devereux, công trình đã giải mã thuyết phục chuỗi biểu trưng thích nghi tinh thần và mô hình vũ trụ quan lưỡng quyền đồng dạng của tộc người. Kết quả nghiên cứu khẳng định đặc tính tâm lý cốt lõi của người Bru - Vân Kiều là tinh thần yêu chuộng hòa bình và năng lực thích nghi sinh thái - văn hóa bền bỉ qua những biến động lịch sử. Công trình đóng góp nguồn tư liệu thư mục quý giá cùng những gợi dẫn phương pháp luận quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về ngữ văn dân gian và nhân học văn hóa tộc người.