MỞ ĐẦU 0. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Không gian được mã hóa qua các biểu thức ngôn ngữ. Tuy nhiên, cơ chế tri nhận không gian, việc cấu trúc hóa kinh nghiệm không gian và biểu đạt chúng bằng ngôn từ lại có sự khác biệt rất lớn giữa các cộng đồng ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Chẳng hạn, để mô tả cùng một sự tình ‘con chó đang hiện diện ở trong phòng khách’, người Việt có thể sử dụng các đơn vị từ vựng có ngữ nghĩa tương phản nhau, như trong tình huống sau: (1) a.
Con chó đang ở trong phòng khách. Con chó đang ở ngoài phòng khách. Con chó đang ở trên phòng khách. Con chó đang ở dưới phòng khách.
Con chó đang ở bên phòng khách.a-e) trên đây, người Việt sử dụng các từ định vị trong, ngoài, trên, dưới và bên để mô tả cùng một thực tại nhưng từ những điểm nhìn khác nhau: người nói đứng ngoài sân (1.d), hoặc trong căn phòng bên cạnh (1. Khác với cách thức tri nhận và biểu đạt của người Việt, trong tình huống vừa nêu, người bản ngữ Anh chỉ dùng duy nhất một từ in mà thôi: The dog is in the living-room. (in = trong, ngoài, trên, dưới, bên) Xét ở cấp độ từ, không ít trường hợp tiếng Việt và tiếng Anh biểu đạt cùng một thực tại không gian bằng những đơn vị từ vựng hoàn toàn tương phản nhau (ngoài = in, dưới = on) như trong các tình huống sau: (2) Bình nằm lăn dưới đất, tay giữ Binh was lying on the floor, trying chặt chân mẹ. to hold onto her ankles.
(Nguyễn Thị Ngọc Tú, Mưa tối) (Wayne Karlin [Ed.], 2003:339) 2 (3) Bông trang rụng ngoài sân. Trang flowers dropped from the (Nguyễn Ngọc Tư, Cuối mùa trees in the yard. nhan sắc) (Wayne Karlin [Ed.], 2003:579) Trong khi đó, lại có những tình huống định vị không gian được biểu đạt bằng hai hay nhiều đơn vị từ vựng tương phản nhau trong tiếng Việt (trên, dưới), nhưng lại được biểu đạt bằng duy nhất một đơn vị từ vựng trong tiếng Anh (in), như trong các tình huống dưới đây. (4) Anh vào nhà xơi nước cho đàng Why don’t you come inside, hoàng, ngồi trên cây như vậy properly, and have something to sâu bọ nó đốt cho.
drink? You’ll get bitten by insects (Hồ Anh Thái, Trong sương if you keep sitting in that tree. hồng hiện ra) (Wayne Karlin [Ed. Như nghe được tiếngSilence. It was as though one could lục bình từ thưở hồng hoang hear the sound of the water đang chảy rì rầm dưới dòng hyacinth from some primordial sông Cái Lớn trước cửa.
chaos drifting by in the Great (Dạ Ngân, Nhà không có đàn Mother River before the door. ông) (Wayne Karlin [Ed.], 2003:30) Những khác biệt trong ý niệm hóa và mã hóa quan hệ không gian giữa hai ngôn ngữ như vừa đề cập đã khiến cho không ít người học gặp khó khăn và sử dụng sai những từ chỉ không gian trong tiếng Anh. Do vậy, việc nghiên cứu đối chiếu cách thức ý niệm hóa và mã hóa không gian trong tiếng Việt so sánh đối chiếu với tiếng Anh trở nên cần thiết và rất hữu ích cho việc dạy và học tiếng nói chung, biên - phiên dịch nói riêng, đặc biệt là dịch Việt-Anh. Các công trình nghiên cứu về cơ chế tri nhận và các mô hình không gian theo lối tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận đã cho thấy ngữ nghĩa hình thành thông qua quá trình ý niệm hóa (Langacker, 1990, 1999).
Trong đó, quá trình ý niệm hóa không gian mang đậm dấu ấn văn hóa của mỗi dân tộc (Svorou, 1994; Talmy, 2000; Tyler & Evans, 2003; Levinson, 2004). Cách thức định vị và định hướng không gian trong các ngôn ngữ trên thế giới rất đa dạng, vừa có nét phổ quát vừa có nét 3 đặc thù (Hickmann & Robert, 2006). Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực này trong tiếng Việt, đặc biệt là những công trình mang tính so sánh, đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng Anh còn rất ít. Các công trình của Dư Ngọc Ngân (1995, 1998), Nguyễn Đức Dân (2005), Trần Văn Cơ (2007), Lý Toàn Thắng (2005, 2008, 2009, 2012), Trịnh Sâm (2016a, 2016b) đã gợi mở những hướng đi mới trong nghiên cứu cách thức tri nhận và biểu đạt không gian của người Việt.
Các luận án tiến sĩ của Trần Quang Hải (2001), Lê Văn Thanh (2003), Nguyễn Thị Dự (2004) đã khảo cứu những vấn đề liên quan đến không gian trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, các luận án này đều tập trung khảo sát ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ không gian tiếng Anh (đặc biệt là giới từ) so sánh đối chiếu với tiếng Việt. Điều này cũng có nghĩa là rất nhiều yếu tố đặc thù trong tri nhận không gian của người Việt mà người bản ngữ Anh không có vẫn chưa được khảo cứu. Từ thực tiễn đó, chúng tôi nhận thấy cần phải có một nghiên cứu sâu về cách thức ý niệm hóa các quan hệ không gian và hướng vận động trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh, qua đó giúp nhận diện rõ hơn những tương đồng và khác biệt trong tri nhận và biểu đạt không gian giữa hai ngôn ngữ.
MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 0. Mục đích nghiên cứu Đề tài “Tri nhận không gian và hướng vận động trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh” nhằm: (1) Phân tích, mô tả việc ý niệm hóa và mã hóa không gian của người Việt qua nhóm từ định vị TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI, và nhóm từ chỉ hướng vận động tương ứng LÊN – XUỐNG, RA – VÀO; (2) So sánh, đối chiếu ngữ nghĩa của các nhóm từ này với những hình thức biểu đạt tương đương trong tiếng Anh; nhận diện những nét tương đồng và khác biệt trong ý niệm hóa và mã hóa không gian của hai cộng đồng đồng ngôn ngữ. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện các mục đích nghiên cứu, luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau đây: (1) Xây dựng khung lý thuyết về quá trình ý niệm hóa và mã hóa không gian trong ngôn ngữ, về vai trò của phạm trù tỏa tia và các khung quy chiếu trong định vị và định hướng không gian; (2) Xây dựng ngữ liệu song ngữ bao gồm ngữ cảnh của nhóm từ định vị TRÊN – DƯỚI, TRONG – NGOÀI và nhóm từ chỉ hướng vận động LÊN – XUỐNG, RA – VÀO trong tiếng Việt và những hình thức biểu đạt tương đương trong tiếng Anh; (3) Phân tích ngữ liệu đã tổng hợp được để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong cách thức ý niệm hóa và mã hóa quan hệ định vị và hướng vận động trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Anh. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 0.
Những nghiên cứu về nhóm từ chỉ không gian trong tiếng Anh Những thập niên gần đây, vấn đề tri nhận không gian (spatial cognition) đã được quan tâm nghiên cứu trong các ngành khoa học như tâm lý học, thần kinh học và các ngành khoa học khác trong đó có ngôn ngữ học. Riêng trong lĩnh vực ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu tuy theo những cách tiếp cận khác nhau nhưng phần lớn đều dựa trên cơ sở của ngôn ngữ học tri nhận. Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận, các công trình nghiên cứu về tri nhận không gian và không gian trong ngôn ngữ, ngày càng đưa ra các kiến giải thú vị và mở ra những hướng nghiên cứu mới đối với vấn đề tưởng chừng không có gì mới mẻ này. Có thể nói, hầu hết các nhà ngôn ngữ học tri nhận đều ít nhiều đề cập đến vấn đề này, nhưng tiêu biểu là Fillmore (1982, 2006), Jackendoff (1983, 1990), Langacker (1987, 1990, 1991, 1999, 2008, 2009), Svorou (1994), Talmy (2000, 5 2006), Tyler & Evans (2003), Freksa (2004), Levinson (1996, 2004), Hickmann & Robert (2006), và Evans & Chilton (2010).
Jackendoff cho rằng cần phân biệt vị trí quy chiếu (place referred to) với đối tượng quy chiếu (reference object), vì với cùng một đối tượng quy chiếu (chẳng hạn cái bàn) người ta có thể quy chiếu tới những vị trí khác nhau như ‘under the table’ (bên dưới cái bàn), ‘near the table’ (gần cái bàn), ‘on the table’ (trên cái bàn). Công trình của Jackendoff đã bước đầu ứng dụng lối tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận vào khảo sát ngữ nghĩa của các biểu thức chỉ không gian trong tiếng Anh. Langacker (1987) [80] đặc biệt chú trọng đến vai trò của khung (frame), xét như là một tri thức nền để giải thích ngữ nghĩa của mỗi biểu thức ngôn ngữ. Khung có tính đa chiều kích: cùng một sự tình đôi khi được biểu đạt bằng những từ ngữ khác nhau và được đặt trong các khung khác nhau; mặt khác, cùng một từ đôi khi lại thuộc về những khung khác nhau và biểu đạt những ý niệm khác nhau.
Langacker (2008) [84] cũng cho rằng các ý niệm không gian hình thành một ma trận phức tạp (complex matrix), đan xen với nhau; hơn nữa, bản thân mỗi ý niệm cũng có thể được diễn giải theo những cách khác nhau và được mã hóa bằng những biểu thức ngôn ngữ khác nhau. Talmy (2000) [101] đã đưa ra lý thuyết về sơ đồ hóa (schematization), nghĩa là quá trình chọn lựa một cách hệ thống một số yếu tố quy chiếu để biểu đạt cái toàn thể và bỏ qua những yếu tố còn lại. Quá trình sơ đồ hóa bao gồm những thuộc tính cơ bản như lý tưởng hóa (idealization), trừu tượng hóa (abstraction) và topo tạo hình (topological type of plasticity). Talmy cũng trình bày những quá trình tri nhận tham gia vào sơ đồ hóa, cũng như việc ngôn ngữ biểu đạt không gian tri nhận thế nào (How language structures space).
Theo Svorou (1994:70-88) [99], sự ý niệm hóa về không gian chủ yếu được dựa trên các danh từ chỉ (1) bộ phận cơ thể người, (2) các vật mốc, (3) các bộ phận 6 của vật, và (4) các ý niệm trừu tượng. Đặc biệt, Svorou ứng dụng các quan điểm lý thuyết đó vào khảo sát trục định vị trước-sau (front-back) trong tiếng Anh. Tyler và Evans (2003) [105] khảo sát bản chất của kinh nghiệm không gian vật lý của con người, sự ý niệm hóa và cách thức mã hóa các quan hệ không gian trong tiếng Anh. Theo Tyler và Evans, các quan hệ không gian được ý niệm hóa gắn liền với sự tương tác và kinh nghiệm của con người với không gian vật lý.
Hơn nữa, các giới từ chỉ quan hệ không gian trong tiếng Anh ngoài việc vẫn lưu giữ nghĩa nguyên thủy còn luôn được mở rộng thêm một tập hợp nghĩa phi không gian. Levinson (2004:24-61) [88] cho rằng để hiểu rõ quá trình tri nhận và biểu đạt không gian qua ngôn ngữ cần khảo sát các khung quy chiếu (frames of reference) mà mỗi cộng đồng ngôn ngữ thường dùng.