MỞ ĐẦU Trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, thế giới đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ chƣa từng có của khoa học kỹ thuật đặc biệt là trong lĩnh vực máy tính và truyền thông với việc phổ biến của máy tính cá nhân và sự xuất hiện của mạng máy tính toàn cầu Internet, đã và đang mang lại cho con ngƣời những điều kiện tham gia vào một xã hội mới đa dạng về thông tin và không gian địa lý. Những thành tựu này cũng mang lại cho con ngƣời một môi trƣờng học tập thuận lợi hơn bao giờ hết. Với ngƣời học, việc học tập không còn bị ràng buộc bởi vấn đề thời gian, không gian và khoảng cách địa lý [4]. Ngƣời học đƣợc chủ động trong việc xác định nội dung học, tiến trình học tập trên cơ sở nhu cầu và trình độ của bản thân.
Những phƣơng tiện truyền thông hiện đại cũng mang lại cho ngƣời học khả năng trao đổi học hỏi lẫn nhau một cách đơn giản dễ dàng, mỗi vấn đề một ngƣời học gặp phải có thể đƣợc nhanh chóng giải quyết với sự trợ giúp của giáo viên cũng nhƣ của rất nhiều ngƣời học khác tại nhiều nơi trên thế giới bất chấp sự khác biệt về thời gian, không gian địa lý. Còn đối với ngƣời dạy, họ có thêm những phƣơng tiện hỗ trợ trong việc biên tập, quản lý nội dung bài học cũng nhƣ trong việc theo dõi và trợ giúp ngƣời học. Các hoạt động học tập dựa trên việc sử dụng các phƣơng tiện truyền thông này đƣợc gọi dƣới tên chung là “Đào tạo điện tử” (E-learning) [4]. Với những ƣu điểm nhƣ vậy, trong những năm gần đây nhiều hệ thống đào tạo điện tử đã đƣợc nghiên cứu và triển khai.
Kiểm tra là một phần không thể thiếu trong một hệ thống e-learning, nhờ đó mà ngƣời dạy có thể đánh giá khách quan và chính xác trình độ của thí sinh qua nội dung kiểm tra. Phần này sẽ tạo nên thông tin phản hồi tới ngƣời dạy và giúp cho việc hiệu chỉnh nội dung bài học cho phù hợp với đối tƣợng học Trong những năm gần đây trắc nghiệm trực tuyến [2] (Online Testing hay Internet Based Testing - iBT) [25] đƣợc đặc biệt quan tâm bởi các ƣu điểm nổi bật của nó nhƣ: dễ dàng sinh bài thi theo yêu cầu; có thể triển khai kỳ thi trên diện rộng; tích hợp với các hệ thống đào tạo từ xa e-Learning; không phụ thuộc thời gian, địa điểm tổ chức kỳ thi. Hầu hết các tổ chức sát hạch nổi tiếng trên thế giới đều chuyển sang phƣơng thức trắc nghiệm trực tuyến, hai ví dụ điển hình là: tổ chức Educational Testing Service (ETS) - http://www.org/ - một đơn vị chuyên tổ chức các kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ TOEFL, TOEIC, GRE,…- đã chuyển kỳ thi TOEFL từ trắc nghiệm trên giấy sang iBT; hoặc tổ chức International Computer Driving Licence Asia Pacific (ICDLAP) - http://www.com/ - đơn vị tổ chức các kỳ thi sát hạch kỹ năng Công nghệ Thông tin cũng chuyển sang hình thức sát hạch iBT. Cùng với sự phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 triển của phƣơng thức đào tạo qua Web (Web Based Training), trắc nghiệm trực tuyến sẽ ngày càng đƣợc quan tâm và phát triển.
Trắc nghiệm trên máy tính nói chung và trắc nghiệm trực tuyến nói riêng thƣờng gồm hai bộ phận quan trọng là: ngân hàng câu hỏi và phần mềm trắc nghiệm. Ngân hàng câu hỏi đƣợc xem là phần nội dung (content) của phần mềm trắc nghiệm. Trong trắc nghiệm trực tuyến, tất cả các câu hỏi trắc nghiệm thuộc một môn học hoặc một chủ đề nào đó đƣợc tập trung lại thành một ngân hàng câu hỏi đặt ở phía máy chủ; phần mềm trắc nghiệm làm nhiệm vụ tổ chức câu hỏi đƣợc lấy ra từ ngân hàng thành bài thi và phân phối đến thí sinh thông qua trình duyệt Web, đồng thời thực hiện phân tích các phƣơng án trả lời của thí sinh và cuối cùng đƣa ra kết quả đánh giá năng lực thí sinh. Việc đánh giá năng lực thí sinh (qua việc làm bài thi trắc nghiệm) phụ thuộc vào một số yếu tố, trong đó đặc biệt chú ý đến: (1) ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có chất lƣợng và phù hợp mục tiêu trắc nghiệm; (2) phƣơng thức đánh giá năng lực thí sinh khách quan và có độ chính xác cao.
Mặc dù vậy trắc nghiệm trực tuyến có những thuận lợi, là cho kết quả đánh giá ngay tức thì, kiểm tra đƣợc nhiều thí sinh đồng thời nhƣng nó vẫn có những nhƣợc điểm của nó là gây nhàm chán cho các thí sinh khi phải làm câu hỏi quá dễ hoặc gây căng thẳng cho thí sinh khi phải làm các câu hỏi quá khó. Nhƣng phƣơng pháp này không thể thay thế đƣợc các phƣơng pháp thi truyền thống nhƣ hỏi thi vấn đáp, ngƣời hỏi thi có thể đƣa ra câu hỏi thì phù hợp với năng lực của thí sinh, phƣơng pháp này chỉ áp dụng đƣợc khi thí sinh là ít, còn khi thí sinh quá lớn thì không thể kiểm tra bằng phƣơng pháp này đƣợc. Chính vì các nguyên nhân trên mà trắc nghiệm thích nghi ra đời nó khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của hai phƣơng pháp trên [5], [12]. Nó có thể kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc dựa trên máy tính đƣợc kết nối mạng, cho thông tin về năng lực của thí sinh ngay tức thời, đƣa ra các câu hỏi thi tức thời phù hợp với năng lực của thí sinh.
Việc đánh giá năng lực thí sinh cũng giống nhƣ trắc nghiệm trực tuyến chỉ khác là tại mỗi câu hỏi đƣợc đƣa ra là phù hợp với năng lực thí sinh, năng lực này đƣợc cập nhật thƣờng xuyên trong quá trình thí sinh làm bài cho đến khi đo đƣợc năng lực thực sự của thí sinh (phụ thuộc vào bài thi của thí sinh kết thúc nhƣ thế nào; thông thƣờng bài thi của thí sinh kết thúc khi thí sinh trả lời một loạt các câu hỏi sai, hoặc hết thời gian hoặc thí sinh đã đạt đƣợc ƣớc lƣợng năng lực tối đa về yêu cầu của bài test khi đó năng lực của thi sinh sẽ bằng độ khó tối đa của bài test mà môn học quy định). Với các ƣu điểm của trắc nghiệm thích nghi là kiểm tra đồng thời nhiều thí sinh đồng thời, cho kết quả tức thời, thí sinh không phải đứng trƣớc các câu hỏi quá khó đối với năng lực của chính mình,… Mặt khác ở Việt Nam cũng chƣa có tác giả nào tìm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 hiểu về trắc nghiệm thích nghi nên với đánh giá trên tôi đã chọn đề tài luận văn là nghiên cứu về trắc nghiệm thích nghi. Luận văn này tập trung tìm hiểu nó là hệ thống nhƣ thế nào hoạt động ra sao, các ƣu nhƣợc điểm của nó…và thực nghiệm về trắc nghiệm thích nghi với giả sử ngân hàng câu hỏi đã đƣợc định cỡ và sử dụng phƣơng pháp tính điểm thô. Các phần tiếp theo của luận văn có cấu trúc nhƣ sau: Chƣơng 1 trình bày các khái niệm cơ bản về e-learning: khái niệm, lịch sử phát triển, kiến trúc hệ thống và một số chuẩn của e-learning.
Chƣơng 2 trình bày về trắc nghiệm trực tuyến trong đó với các khái niệm trắc nghiệm trực tuyến tình hình phát triển và ứng dụng, giới thiệu về đặc tả QTI (cấu trúc, mô tả…) cho phép tạo các câu hỏi và đóng gói nội dung để có thể tƣơng thích với các hệ thống e-learning. Chƣơng 3 trình bày về trắc nghiệm thích nghi, bao gồm các vấn đề: khái niệm, hoạt động của hệ thống, các ƣu nhƣợc điểm, quá trình phát triển và một số dạng phát triển, phƣơng pháp trắc nghiệm thích nghi có ràng buộc, phƣơng pháp trắc nghiệm thích nghi với việc sinh các câu hỏi dựa vào quy tắc, sử dụng thời gian trong trắc nghiệm thích nghi. Chƣơng 4 trình bày thực nghiệm mô phỏng bài trắc nghiệm thích nghi đối với môn học Tin học cơ sở trong Trƣờng Đại học Công nghệ, sử dụng đặc tả QTI để mô tả dữ liệu câu hỏi. Phần kết luận của luận văn tổng kết các kết quả đã đạt đƣợc, kết luận và đƣa ra một số hƣớng nghiên cứu tiếp theo.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ E–LEARNING 1. Định nghĩa Khái niệm E-learning hay đào tạo điện tử đã đƣợc rất nhiều học giả và các nhà nghiên cứu về giáo dục đƣa ra, mỗi khái niệm lại thể hiện những đặc trƣng riêng của E-learning. Dƣới đây là một số định nghĩa đƣợc nhiều nhà nghiên cứu công nhận và sử dụng [4]: - E-Learning là quá trình học tập có sự trợ giúp của công nghệ Web và Internet. - E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông.
- E-Learning là quá trình học tập hay đào tạo đƣợc chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và đƣợc thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục 1. Lịch sử phát triển Xuất phát từ định nghĩa về đào tạo điện tử đã nêu ở phần trƣớc, trong phần này, luận văn sẽ trình bày tóm tắt lịch sử phát triển của đào tạo điện tử theo một số làn sóng khác nhau gắn liền với các làn sóng phát triển của kỹ thuật điện tử với mục tiêu làm rõ xu hƣớng phát triển và mục tiêu mà các hệ thống đào tạo điện tử ngày nay đang hƣớng tới [1]. Đào tạo từ xa Là hình thức đào tạo đƣợc sử dụng khi ngƣời học và ngƣời dạy cách xa nhau về vị trí địa lý hoặc không thể có điều kiện để gặp mặt tại cùng một thời điểm trong cùng một không gian địa lý xác định. Hình thức ban đầu của phƣơng pháp này là việc đào tạo thông qua hệ thống thƣ tín, bài giảng.
Với hình thức này, các trao đổi giữa giáo viên và ngƣời học đƣợc thực hiện qua thƣ và xuất hiện từ những năm 1800 tại một số nƣớc Châu Âu và Mỹ. Tuy nhiên cột mốc đầu tiên của đào tạo điện tử chỉ thực sự xuất hiện với sự xuất hiện của hệ thống phát thanh truyền hình vào đầu thế kỷ 20. Khóa học qua hệ thống Radio đầu tiên đƣợc tổ chức tại trƣờng đại học Iowa (Mỹ) vào năm 1925. Đến những năm 80 là sự xuất hiện của việc đào tạo thông qua truyền hình vệ tinh cho phép thí sinh tại bất kỳ vị trí nào trên thế giới đều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 có thể tiếp nhận các bài giảng.
Ngày nay, những phƣơng tiện điện tử nêu trên vẫn là những công cụ truyền tải thông tin thông dụng.