CHƯƠNG 1.1 Tình hình dịch Covid-19 trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình Covid-19 trên thế giới Đại dịch Covid-19 là một đại dịch bệnh truyền nhiễm với tác nhân là virus SARS-CoV-2 và các biến thể của nó đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu [1]. Khởi nguồn vào cuối tháng 12 năm 2019, với tâm dịch đầu tiên tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc, bắt nguồn từ một nhóm người mắc viêm phổi không rõ nguyên nhân. Ca nghi nhiễm đầu tiên ở Vũ Hán được báo cáo vào ngày 31 tháng 12 năm 2019. Trường hợp tử vong đầu tiên do SARS-CoV-2 xảy ra ở Vũ Hán vào ngày 9 tháng 1 năm 2020.
Các ca nhiễm virus bên ngoài Trung Quốc đầu tiên được xác định ở Thái Lan và Nhật Bản [2]. Sự lây nhiễm virus từ người sang người đã được xác nhận cùng với tỷ lệ bùng phát dịch tăng vào giữa tháng 1 năm 2020. Ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ra tuyên bố gọi COVID-19 là “Đại dịch toàn cầu”, trước bối cảnh số ca nhiễm trên toàn cầu đã vượt mốc 126.000 và dịch đã lan ra 123 quốc gia và vùng lãnh thổ [3]. Sau 2 năm xuất hiện, đai dịch đã lan ra khắp 225 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo số liệu thống kê của WHO, cập nhật đến ngày 7 tháng 3 năm 2023, hơn 759 triệu trường hợp được xác nhận và hơn 6,8 triệu trường hợp tử vong đã được báo cáo trên toàn cầu. Hầu hết những người bị nhiễm vi rút sẽ bị bệnh đường hô hấp nhẹ đến trung bình và tự khỏi mà không cần điều trị đặc biệt. Tuy nhiên, một số sẽ bị bệnh nặng và cần được chăm sóc y tế. Những người lớn tuổi và những người có bệnh lý tiềm ẩn như bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh hô hấp mãn tính hoặc ung thư có nhiều khả năng phát triển bệnh nghiêm trọng hơn [4].
Bất kỳ ai cũng có thể bị bệnh với COVID-19 và trở thành bệnh nặng hoặc chết ở mọi lứa tuổi [5] [6]. Tính đến ngày 6 tháng 3 năm 2023, tổng số hơn 13 tỷ liều vaccine đã được tiêm (theo WHO) [3]. Hiện nay, hầu hết các quốc gia tiếp tục tiến trình mở của đất nước. Tuy nhiên, nhiều nước châu Âu chứng kiến xu thế ca mắc tăng trở lại, đi kèm đó là nỗi lo một đợt sóng dịch mới bùng phát.
Tình hình dịch bệnh ở Đông Nam Á tiếp tục thuyên giảm, song có sự khác biệt lớn giữa các nước.2 Tình hình Covid-19 tại Việt Nam Đại dịch Covid-19 do virus SARS-CoV-2 có trường hợp xác nhận đầu tiên ở Việt Nam vào ngày 23 tháng 1 năm 2020 tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2020, Việt Nam đã kiểm soát khá tốt dịch bệnh với tổng số ca tử vong cả năm được xác nhận là 35 người. Tuy nhiên vào cuối tháng 7 năm 2021, tình hình dịch bệnh trở nên tồi tệ hơn khi số ca mắc Covid-19 và số ca tử vong tăng đột biến. Đại dịch Covid-19 đã lan ra khắp 63 tỉnh thành tại Việt Nam.
Tác động của nó gây ra rất rộng, ảnh hưởng xấu đến xã hội nói chung, kinh tế, văn hoá, chính trị và nhiều lĩnh vực khác đều bị ảnh hưởng nặng nề.1: Biểu đồ tổng số ca xác nhận, đang điều trị, phục hồi và tử vong do Covid-19 tại Việt Nam từ đầu dịch [1] Tính đến ngày 7 tháng 3 năm 2023, Việt Nam có khoảng hơn 11 triệu ca nhiễm, đứng thứ 12/227 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ lệ số ca nhiễm trên 1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 12/227 quốc gia và vùng lãnh thổ (bình quân cứ 1 triệu người có 114.562 ca nhiễm), trong đó hơn 43 nghìn ca tử vong được công bố chính thức. Nơi có dịch nặng nhất là Hà Nội với tổng số 1,6 triệu ca nhiễm và hơn 1 nghìn. Nơi nhẹ nhất là Ninh Thuận với hơn 8 nghìn ca nhiễm và khoảng 60 ca tử vong [1] 2 Bảng 1.1: Các đợt bùng phát của đại dịch Covid-19 tại Việt Nam theo Bộ Y tế [1] Số ca Giai Thời gian Mô tả đoạn Ca nhiễm Tử vong Ca bệnh đầu tiên xuất hiện tại Thành 1 23/1–24/7/2020 415 0 phố Hồ Chí Minh là ca nhập cảnh từ Vũ Hán. Đợt dịch có sự xuất hiện cao điểm nhất trong 36 ngày tại Đà 2 25/7/2020–27/1/2021 1.136 554 Nẵng; ca bệnh chỉ điểm là 1 bệnh nhân của Bệnh viện C Đà Nẵng.
Bùng phát tại Hải Dương từ 1 người xuất khẩu lao động bị phát hiện dương tính khi nhập cảnh Nhật 3 28/1–26/4/2021 1. Đợt dịch chủ yếu tại ổ dịch Hải Dương (726 ca, chiếm gần 80% tổng số ca bệnh). Đợt dịch có sự xuất hiện của biến thể 4 27/4/2021–nay 11.000+ Delta và Omicron, bùng phát và lây lan mạnh khắp cả nước; 3 Số ca Giai Thời gian Mô tả đoạn Ca nhiễm Tử vong cao điểm nhất trong các ngày tại Thành phố Hồ Chí Minh; ca bệnh chỉ điểm là 1 bệnh nhân của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh.2 Virus SARS-CoV-2 1.1 Đặc điểm cấu trúc và di truyền của virus SARS-CoV-2 Virus corona gây hội chứng hô hấp cấp tính nặng 2, viết tắt là SARS-CoV- 2 (tiếng Anh: Severe acute respiratory syndrome corona virus 2), trước đây có tên là virus corona mới 2019 (2019-nCoV), là một chủng coronavirus gây ra bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus corona 2019 (COVID-19), xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 12 năm 2019, trong đợt bùng phát đại dịch COVID-19 ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc và bắt đầu lây lan nhanh chóng, sau đó trở thành một đại dịch toàn cầu. Vào ngày 12 tháng 01 năm 2020, nó được Tổ chức Y tế Thế giới gọi tên là 2019-nCoV, dựa trên một phương thức đặt tên cho virus corona mới.
Đến ngày 11 tháng 2 năm 2020, Ủy ban Quốc tế về Phân loại Virus (ICTV) quyết định đặt tên chính thức cho chủng virus corona mới này là SARS-CoV-2 khi họ phân tích rằng nó cùng loài với virus SARS từng gây ra đại dịch năm 2003 nhưng là một chủng khác của loài. Virus này là một loại virus corona RNA đơn dương [7, 8]. Trong khoảng thời gian đầu của đại dịch Covid-19, các nhân viên nghiên cứu đã phát hiện chủng virus này sau khi họ tiến hành đo lường kiểm tra axit nucleic và dò tra trinh tự bộ gen ở mẫu vật lấy từ người bệnh. Các thành viên thuộc họ virus corona có dạng hình cầu với đường kính xấp xỉ 125 nm, với cấu trúc theo thứ tự từ trong ra ngoài như sau: 4 • Lõi acid nucleic: Bộ gen của virus, cụ thể là sợi RNA đơn, dương sẽ giúp virus có thể tổng hợp các thành phần cấu tạo khi đã xâm nhập vào tế bào vật chủ, nhằm phục vụ cho việc nhân bản.
Kích thước bộ gen của họ virus corona được xem là lớn nhất trong số các loại virus RNA: 26-32 kilobase. • Vỏ protein (vỏ capsit): Lớp vỏ bọc bên ngoài bộ gen được cấu tạo từ các capsome đóng vai trò bảo vệ. • Lớp vỏ ngoài: Cấu tạo từ lớp kép lipit và protein, bên trên có lớp gai protein. Lớp gai này sẽ thực hiện các nhiệm vụ của kháng nguyên, điển hình như giúp virus thâm nhập vào bên trong tế bào vật chủ.
Các hạt virus Coronavirus chứa bốn protein cấu trúc chính. Đây là các protein spike (S), màng (M), vỏ E và nucleocapsid (N) protein, tất cả đều được mã hóa trong đầu 3′ của bộ gen virus [7, 9]. Protein S có khối lượng khoảng 150 kDa, đa số gồm hai tiểu phần S1 hình cầu ở đầu và tiểu phần S2 là phần cuống, tạo nên cấu trúc gai đặc biệt trên bề mặt của virus và có vai trò trung gian gắn vào thụ thể của tế bào vật chủ [9, 10, 11, 12]. Protein M là protein cấu trúc chính của màng virus khiến hạt virus có hình cầu.
Protein E (8 -12 kDa) nằm trên vỏ virus và có vai trò chính trong việc lắp ráp và giải phóng virus. Protein N tồn tại trong nucleocapsid và có vai trò liên kết bộ gen virus thành cấu trúc kiểu chuỗi hạt để đóng gói bộ gen thành các hạt virus [13]. Ngoài bốn protein chính trên, còn có protein phi cấu trúc hemagglutinin- esterase (HE), có vai trò tăng cường sự xâm nhập của virus qua trung gian protein S và giúp virus xâm nhập vào tế bào niêm mạc. Các protein phi cấu trúc khác có vai trò trong đảm bảo các hoạt động của virus.2 Đặc điểm của protein Nucleocapsid Protein Nucleocapsid (N) là một kháng nguyên quan trọng đối với virus SARS- CoV-2, chúng tham gia vào việc đóng gói và giải phóng hạt virus.
Protein N chứa 2 vùng liên kết RNA riêng biệt là vùng NTD và CTD, được liên kết với vùng liên kết có cấu trúc kém (LKR) chứa vùng giàu serine/arginine (SRD) [15]. Chẩn đoán huyết thanh học phát hiện ra rằng các kháng thể đặc hiệu chống lại protein N trong huyết thanh của bệnh nhân SARS có độ nhạy cao hơn và tồn tại lâu hơn so với các kháng thể kháng lại các protein cấu trúc khác của virus SARS-CoV-2 [16]. Hơn nữa, các kháng thể kháng protein N được cho là có độ đặc hiệu cao trong giai đoạn đầu của nhiễm bệnh.3 Cấu trúc của protein Nucleocapsid 6 1.3 Cơ chế xâm nhập và lây nhiễm virus SARS-CoV-2 Hình 1.4: Cơ chế xâm nhiễm và nhân lên của virus SARS-CoV-2 [17] Khi xâm nhập vào vật chủ, protein S gắn vào thụ thể ứng với nó trên bề mặt màng tế bào niêm mạc đường hô hấp của vật chủ. Đa số các coronavirus sử dụng peptidase làm thụ thể tế bào của chúng.
SARS-CoV và HcoV-NL63 sử dụng enzyme chuyển angiotensin 2 (ACE2) làm thụ thể của chúng, còn MERS-CoV dùng peptidase 4 (DPP4) để làm thụ thể xâm nhập vào tế bào người [9]. Sự thay đổi di truyền virus làm thay đổi khả năng gắn kết thụ cảm thể và thay đổi vật chủ của chúng. Bước tiếp theo sau khi xâm nhập tế bào vật chủ là dịch mã gen sao chép từ RNA gen của virion. Đầu tiên chúng tổng hợp ra sợi RNA thông tin để tổng hợp ra các protein cấu trúc và phi cấu trúc để đảm bảo các hoạt động tiếp của virus, tiếp đó chúng tạo ra một sợi RNA âm đóng vai trò khuôn mẫu để tổng hợp tiếp cái sợi RNA dương con.
Sau quá trình sao chép và tổng hợp RNA thế hệ con, các protein cấu trúc S, E và M được chuyển vào lưới nội bào (ER) và di chuyển vào khoang trung gian reticulum-Golgi (ERGIC). Ở đó, bộ gen của virus được bao bọc bởi protein N thành các Nucleocapsid. Protein M phối hợp với protein E tích hợp vào màng của ERGIC thành lớp vỏ virus gắn bọc lấy Nucleocapsid tạo ra các hạt giống virus (VLP). Sau đó protein S gắn vào lớp màng của VLP thành các hạt virion trưởng thành.