Chương 1 2 1. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Đề tài nghiên cứu các thông số hợp lý của kết cấu thép và bộ công tác từ đó thiết bị có thể làm việc phù hợp với điều kiện tự nhiên ở Việt Nam. Kết luận: Trên các cơ sở đó, đề tài có thể đem lại những ý nghĩa nào đó giúp ích cho việc nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn nhằm đạt hiệu quả kinh tế nhất định. HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS.
NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP GIA CỐ NỀN ĐẤT YẾU BẰNG CỌC XI MĂNG ĐẤT 2. Mục đích và ý nghĩa việc gia cố nền móng: Tải trọng từ các công trình được đặt lên nền móng rồi truyền xuống nền đất, nền móng càng tốt thì công trình càng ổn định. Các công trình hiện đại thì có quy mô và chất lượng cao nên tải trọng truyền xuống cũng cao. Các công trình ở Việt Nam, nhất là các công trình giao thông tập trung ở vùng đồng bằng nên nền đất tương đối yếu vì vậy muốn sử dụng lâu dài thì phải gia cố nền móng cho tốt.
Chi phí để làm nền móng chiếm từ 15 ÷ 50% chi phí công trình. Vì vậy phần lớn các công trình đều phải gia cố nền móng. Nền móng tốt sẽ quyết định đến tuổi thọ và độ bền của công trình. Đối với tải nhỏ, nền tốt thì không cần phải gia cố.
Các phương pháp gia cố nền móng chủ yếu: Ngày nay, các phương pháp gia cố nền móng khá phong phú và đa dạng. Ngoài các biện pháp kết cấu tầng dưới của công trình để chống lún, sụt đều và không đều như: móng bè, móng chân vịt… khe lún, giằng tường, giằng móng v.v… cũng như các biện pháp gián tiếp như đắp khối (tường) phản áp (đối trọng), tường chắn v.v… còn dùng những biện pháp đặt hữu như gia nhiệt nền, trộn vôi, xi măng, điện – hóa, silicat hóa v.v… trên mặt hoặc sâu trong nền để cải thiện cơ tính của nền. Trên thực tế các phương pháp gia cố nền sau đây được sử dụng rộng rãi hơn cả. Phương pháp cải tạo sự phân bố ứng suất trên nền: a) Đệm cát: Khi lớp nền yếu có chiều sâu ≤ 3m bão hòa nước, ta có thể gạt bỏ lớp đất yếu dưới chân móng và thay thế bằng lớp cát.
Phương pháp này đơn giản và không đòi hỏi thiết bị thi công phức tạp nếu khối lượng công việc không lớn. HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 4 b) Đệm đá sỏi: Cũng như với đệm cát, khi lớp đất yếu dưới móng có nước ngầm với áp lực không cao, không đặt được đệm cát và dưới nó cũng là lớp đất v.v… sức chịu lực của đệm đá sỏi lớn hơn nhiều so với cát nên ta có thể coi nó như một bộ phận của móng. c) Đệm đất: Với các công trình xây dựng trên nền đắp và mức nước ngầm ở dưới sâu thì dùng đệm đất (vật liệu rẻ hơn).
Đương nhiên các vật liệu dùng làm đệm (cát, đá sỏi, đất) đều phải chọn lựa phù hợp yêu cầu kỹ thuật và đặc biệt phải được lèn chặt. Phương pháp tăng độ chặt của nền bằng biện pháp tiêu nước thẳng đứng: Để tiêu nước theo phương thẳng đứng, thường dùng các phương pháp sau: a) Cọc cát, sỏi: Khi móng công trình lớn, lớp nền yếu có chiều dày ≥ 3m, ta có thể cải tạo bằng cọc cát, sỏi. Cọc cát, sỏi làm cho độ ẩm, độ rổng của nền giảm đi, cọc cát có tác dụng như một giếng tiêu nước thẳng đứng, làm cho mođun biến dạng, tính kháng nén, kháng cắt của nền tăng lên v.v… và cọc làm việc đồng thời với nền, do đó tính chất chịu lực của nền gai cố cọc cát, sỏi khác xa các loại cọc cứng như gỗ, bê tông, thép… (cọc cứng chịu lực độc lập với nền). Cọc cát, sỏi cho phép công trình đạt giới hạn ổn định (lún) gần như sau khi kết thúc công trình thi công.
Ưu điểm của cọc cát, sỏi còn thể hiện ở hiệu quả kinh tế cao: – Kinh phí xây dựng – có thể giảm 40% so với dùng cọc bê tông, giảm 20% so với dùng đệm cát. – Cọc cát, sỏi có tính bền vĩnh cửu, hoàn toàn không bị ăn mòn do xâm thực. – Thiết bị thi công đơn giản. b) Bấc thấm: Khác với cọc cát, sỏi bấc thấm không tham gia vào quá trình chịu lực truyền tải của công trình xuống nền, nó chỉ có chức năng tiêu nước thẳng đứng cho nền, làm cho cơ tính của đất nền được nâng cao do tăng cường tốc độ cố kết của nó, kết quả là sự chịu tải của đất nền được cải thiện.
HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 5 Bấc thấm có những ưu điểm nổi bật: – Diện nền cải tạo lớn. – Độ sâu tầng đất cải tạo lớn, có thể đạt 25 – 30m. – Bấc thấm chế tạo sẵn, gọn nhẹ.
– Công nghệ thi công đơn giản, năng suất cao. – Hiệu quả kinh tế cao. Chính vì những ưu điểm trên nên thời gian gần đây, biện pháp này được sử dụng rông rãi trong việc cải tạo và nâng cấp quốc lộ 1, quốc lộ 5 v. Phương pháp gia cố bằng cọc cứng: Móng cọc là một kết cấu quen thuộc trong xây dựng, làm nhiệm vụ truyền tải xuống công trình sâu trong nền đất có lớp (tầng) chịu lực tốt, khắc phục được biến dạng lún không đồng đều, chịu được tải trọng ngang, giảm khối lượng đào đắp, rút ngắn thời gian thi công do công nghiệp hóa chế tạo cọc và thiết bị thi công.
Cọc và thiết bị đóng (hạ, đúc tại chỗ) rất đa dạng: cọc tre, gỗ, bê tông đặc, ống rỗng, thép, ván thép,… cọc nhồi, cọc xi măng đất,… Tuy nhiên không phải lúc nào gia cố nền bằng cọc cứng cũng có hiệu quả tốt nếu nền phía trên tốt mà ở dưới mũi cọc lại không tốt; trường hợp đó phải dùng biện pháp khác. Các loại cọc đều chịu tải của công trình xuống dưới nền theo hai dạng: cọc chống – chịu tải cơ bản ở mũi cọc, cọc treo – chịu tải cơ bản theo ma sát hông ở thân cọc. Trường hợp cọc chịu tải hỗn hợp cả chống và treo đều phát huy tác dụng sẽ rất tốt cho công trình. Quy trình công nghệ thi công cọc xi măng đất trên nền yếu: 2.
Giới thiệu chung: Cọc xi măng đất (hay còn gọi là cột xi măng đất, trụ xi măng đất) – (Deep soil mixing columns, soil mixing pile) là một cọc hình trụ tròn tạo thành bởi hỗn hợp được trộn đều giữa đất nguyên trạng với xi măng được phun xuống nền đất bởi thiết bị khoan – phun. Quá trình thi công tạo thành cọc xi măng đất dùng phương pháp khoan trộn sâu. Sử dụng máy khoan và các thiết bị chuyên dùng (cần khoan, mũi khoan…), khoan vào đất với đường kính và chiều sâu lỗ khoan theo thiết kế. Đất trong quá HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS.
NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 6 trình khoan không được lấy lên khỏi lỗ khoan mà bị phá vỡ kết cấu, được các cánh mũi khoan nghiền tơi, trộn đều với chất kết dính (chất kết dính thông thường là xi măng hoặc vôi, thạch cao… đôi khi có thêm chất phụ gia và cát). Quá trình phun (hoặc bơm) chất kết dính để trộn với đất trong hố khoan, tuỳ theo yêu cầu có thể được thực hiện ở cả hai pha khoan xuống và rút lên của mũi khoan hoặc chỉ thực hiện ở pha rút mũi khoan lên. Để tránh lãng phí xi măng, hạn chế xi măng thoát ra khỏi mặt đất gây ô nhiễm môi trường thông thường khi rút mũi khoan lên cách độ cao mặt đất từ 0,5 ÷ 1,5m người ta dừng phun chất kết dính, nhưng đoạn cọc 0,5 ÷ 1,5m này vẫn được phun đầy đủ chất kết dính là nhờ chất kết dính có trong đường ống tiếp tục được phun (hoặc bơm) vào hố khoan. Khi mũi khoan được rút lên khỏi hố khoan, trong hố khoan còn lại đất đã được trộn đều với chất kết dính dần dần đông cứng tạo thành cọc xi măng đất.
HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 7 Nguyên tắc thực hiện dự án khi thi công trộn sâu: Hiện có công nghệ trộn khô (Dry Jet Mixing) và công nghệ trộn ướt (Wet Mixing hay còn gọi là Jet – grouting): – Trộn khô là quá trình phun trộn xi măng khô với đất có hoặc không có chất phụ gia. – Trộn ướt là quá trình bơm trộn vữa xi măng với đất có hoặc không có chất phụ gia. Mỗi phương pháp trộn (khô hoặc ướt) có thiết bị thi công kỹ thuật, thi công phun (bơm) trộn khác nhau.
HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 8 2. Công nghệ thi công: a) Công nghệ trộn khô: Hình 2. Dây chuyền thiết bị trộn khô.
HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 9 Hình 2. Các bước thi công trộn khô. Thi công cải tạo nền đất yếu bằng cọc xi măng đất theo phương pháp trộn khô theo các bước sau: – Định vị và đưa thiết bị thi công vào vị trí thiết kế; – Khoan hạ đầu phun trộn xuống đáy khối đất cần gia cố; – Bắt đầu quá trình khoan trộn và kéo dần đầu khoan lên đến miệng lỗ; – Đóng tắt thiết bị thi công và chuyển sang vị trí mới.
Sơ đồ thi công trộn khô. HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 10 a) Công nghệ trộn ướt: Hình 2. Dây chuyền thiết bị trộn ướt.
HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 11 Thi công cải tạo nền đất yếu bằng cọc xi măng đất theo phương pháp trộn ướt theo các bước sau: Hình 2. Các bước thi công trộn ướt. Sơ đồ thi công trộn ướt.
Thiết bị tạo cọc xi măng đất: bao gồm một máy khoan với hệ thống đầu khoan có đường kính thay đổi tuỳ thuộc theo đường kính cột được thiết kế và các xi lô chứa xi măng. HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 12 Hình 2. Tổng thế máy khoan xi măng đất DJM 2090.
Tổng thể máy khoan cọc xi măng đất của Trung Quốc. HVTH: TRẦN CÔNG TRÍ GVHD: PGS. NGUYỄN HỒNG NGÂN Chương 2 13 Hình 2. Cọc đã hoàn thiện.
Mũi khoan được khoan xuống làm tơi đất cho đến khi đạt độ sâu lớp đất cần gia cố thì quay ngược lại và dịch chuyển lên. Trong quá trình dịch chuyển lên, xi măng được phun vào nền đất (bằng áp lực khí nén đối với hỗn hợp khô hoặc bằng bơm vữa đối với hỗn hợp dạng vữa ướt).