CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Graphen oxit Cấu trúc Graphite (Gi) được biết đến là một dạng thù hình của cacbon với các đơn lớp liên kết nhau [1, 2]. Các nhóm chức được hình thành và gia tăng khoảng cách khi Gi bị oxy hóa tạo sản phẩm graphite oxit (GiO). GiO được tách lớp tạo ra graphen oxit (GO) có cấu trúc như thể hiện ở Hình 1. Trên bề mặt và các cạnh, GO có chứa những nhóm chức chứa oxy như epoxide (–O–), hydroxyl (–OH), carboxylic (–COOH) và carbonyl (–C=O), điều này giúp GO có khả năng phân tán tốt trong nước.
Bên cạnh đó, nhờ vào diện tích bề mặt lớn và độc tính tế bào thấp nên GO có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau [4].1: Cấu trúc của GO Phương pháp tổng hợp Các phương pháp đã được sử dụng để tổng hợp GO như: Brodie, Staudenmaier và Hofmann, Hummers và Offeman, Hummers cải tiến. Trong đó, phương pháp Hummers cải tiến đang được sử dụng phổ biến để tổng hợp GO với nhiều ưu điểm như: Không tỏa nhiệt nhiều, không phát sinh khí độc hại, sản phẩm thu được có độ oxy hóa cao và ít khuyết tật hơn [5]. Quy trình tổng hợp GO theo phương pháp Hummers cải tiến như thể hiện ở Hình 1.2: Quy trình tổng hợp GO từ Gi theo phương pháp Hummers cải tiến Ứng dụng GO được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực bởi khả năng phân tán tốt trong nước do có các nhóm chức chứa oxy, độ hoạt động hóa học và tính tương thích sinh học cao. Cũng chính bởi các nhóm chức chứa oxy này mà GO có khả năng xử lý được kim loại nặng và các hợp chất hữu cơ.
GO còn được sử dụng để chế tạo màng nanocomposite để phân tách hỗn hợp etanol/nước, metanol/nước, v. Ngoài ra, với tính tương thích sinh học cao nên GO được ứng dụng làm vật liệu dẫn truyền thuốc và cảm biến sinh học. Cấu trúc GO là các tấm có cạnh sắc bén cùng với các nhóm chức chứa oxy có khả năng tương tác tốt với thành tế bào vi khuẩn. Khi kích thước GO càng lớn thì khả năng che phủ tế bào càng cao, hiệu quả kháng khuẩn càng tốt [7].
Chính vì thế, GO được ứng dụng trong chế tạo vật liệu kháng khuẩn, cảm biến giúp xác định vi khuẩn, ADN, glucozơ, axit amin, v. Tuy nhiên, liên kết π – π trong cấu trúc khiến các tấm GO dễ bị kết dính, xếp chồng lên nhau. Vì vậy, các hạt nano kim loại (Ag, Zn, Cu, v.) hay oxit kim loại (TiO2, ZnO, v.) được thêm vào cấu trúc GO để khắc phục những hạn chế trên. Trong nghiên cứu này, nano bạc được sử dụng để kết hợp với GO do nano bạc có khả năng kháng khuẩn cao, quy trình tổng hợp đơn giản, cũng như giá thành thấp hơn so với các nano kim loại khác.
Nano bạc Nano bạc (AgNPs – silver nanoparticles) bao gồm các nguyên tử Ag liên kết với nhau tạo nên cấu trúc tinh thể, với mỗi phương pháp tổng hợp khác nhau thì thu được AgNPs có cấu trúc, hình dáng và kích thước hạt khác nhau. Đường kính của AgNPs 3 thường trong khoảng 10 – 100 nm và quyết định khả năng kháng khuẩn cao hay thấp của chúng [9, 10]. Khi đường kính hạt lớn, tính kháng khuẩn giảm, với kích thước nhỏ sẽ gây độc tính tế bào, ảnh hưởng đến sức khỏe người sử dụng khi lượng Ag+ giải phóng quá nhiều, khó kiểm soát [11]. Chính vì thế, việc ổn định kích thước hạt cho phù hợp sẽ giúp vật liệu có khả năng kháng khuẩn cao mà không ảnh hưởng tiêu cực đến việc sử dụng.
Graphen oxit có cấu trúc nano hai chiều và diện tích bề mặt riêng lớn nên được sử dụng làm chất ổn định giúp cho các hạt AgNPs không bị kết tụ trong quá trình tổng hợp trong luận văn này. Vật liệu nanocomposite bạc/graphen oxit Vật liệu nanocomposite bạc/graphen oxit (Ag/GO) được tổng hợp từ hai loại vật liệu khác nhau có kích thước nano là AgNPs và GO từ tiền chất AgNO3 và huyền phù GO. Phương pháp tổng hợp Vật liệu Ag/GO được tổng hợp theo hai phương pháp chính: Đồng kết tủa (in situ) và phối trộn huyền phù (ex situ) Tổng hợp Ag/GO bằng phương pháp in situ In situ là phương cho phép chế tạo một bước để thu được vật liệu nanocomposite với các hạt nano được tạo ra từ tiền chất tương ứng bằng các tác nhân khử [12]. Các hạt nano có thể phân tán đồng đều lên chất nền và dễ dàng điều chỉnh kích thước của các hạt nano bằng cách thay đổi điều kiện phản ứng [13].
Tuy nhiên, những nguyên liệu chưa phản ứng có thể gây ảnh hưởng đến sản phẩm sau cùng. Quá trình hình thành Ag/GO gồm hai giai đoạn chính như thể hiện ở Hình 1. Đầu tiên, các ion Ag+ được khuếch tán lên bề mặt các tấm GO. Sau đó các ion Ag+ bị khử bởi tác nhân khử về Ag0 để hình thành huyền phù Ag/GO.
4 AgNO3/NH3 GO AgNPs Ag/GO Hình 1.3: Quá trình tổng hợp Ag/GO bằng phương pháp in situ Tổng hợp Ag/GO bằng phương pháp ex situ Ex situ là phương pháp phối trộn huyền phù trong đó các hạt nano được phân tán trực tiếp vào chất nền để tạo ra vật liệu cần tổng hợp [12]. Trong phương pháp này, các vật liệu nano được tổng hợp riêng biệt. Các hạt AgNPs được tổng hợp trước với các tác nhân khử có thể là tác nhân vật lý (tia bức xạ) hoặc tác nhân hóa học (L – axit ascorbic, đường saccharide, polyphenol, v.), trước đi được phối trộn vào chất nền GO. Chúng liên kết với nhau bằng các lực liên kết tĩnh điện, π – π, hydro hoặc Van der Waals.
Quy trình tổng hợp Ag/GO bằng phương pháp ex situ được trình bày như ở Hình 1. 5 AgNPs GO Ag/GO AgNPs Hình 1.4: Quy trình tổng hợp Ag/GO bằng phương pháp ex situ Phương pháp này có thể kiểm soát được tỷ lệ Ag và GO dễ dàng hơn, phù hợp với quy mô lớn ứng dụng công nghiệp. Tuy nhiên, việc phân tán đồng đều các hạt nano trong chất nền có độ ổn định lâu dài và chống lại sự kết tụ thì khó hơn so với phương pháp in situ. Do đó, trong luận văn này phương pháp in situ được lựa chọn để tổng hợp Ag/GO.
Ứng dụng Với cấu trúc đặc thù, cả AgNPs và GO đều có khả năng kháng khuẩn. Tuy nhiên, khi áp dụng riêng lẻ thì hiệu quả sẽ không cao do liên kết π – π khiến các tấm GO xếp chồng, kết dính lên nhau, còn AgNPs thì có xu hướng kết tụ lại. Khi kết hợp hai vật liệu này chúng sẽ khắc phục những nhược điểm của nhau dẫn đến tăng hiệu suất kháng khuẩn cũng như mở rộng phạm vi ứng dụng của sản phẩm [11]. Cụ thể, ứng dụng của Ag/GO trong lĩnh vực kháng khuẩn được thể hiện qua các nghiên cứu sau: Khả năng chống bám dính và kháng khuẩn của Ag/GO [14], khử trùng nước [15], phát hiện ung thư [16], chế tạo thảm kháng khuẩn [17], vật liệu kháng nấm [18], v.
Ngoài ra Ag/GO còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: Cảm biến, xúc tác, điện tử, v. Cơ chế kháng khuẩn của Ag/GO Quy trình kháng khuẩn của Ag/GO được thể hiện ở Hình 1. GO có diện tích bề mặt lớn và chứa các nhóm chức chứa oxy như (–O–), (–OH), (–COOH) và (–C=O), liên kết tương tác với màng tế bào chủ yếu bằng liên kết hydro, tương tác tĩnh điện và phản ứng oxy hóa khử để bắt lấy vi khuẩn [20]. Khi đó, AgNPs giải phóng các ion Ag+ mang điện tích dương liên kết với các lipid mang điện tích âm trên màng tế bào bằng lực hút tĩnh điện.
Đồng thời, các tấm GO sắc nhọn tiếp xúc và gây tổn thương màng 6 tế bào. Ag+ tương tác với lớp kép photpholipit dẫn đến thay đổi tính thấm của màng tế bào. Hệ thống màng tế bào bị phá hủy, các ion Ag+ có thể xâm nhập vào bên trong tế bào và nội bào bị rò rỉ ra bên ngoài. Khi Ag+ xâm nhập vào bên trong tế bào, các ion này tương tác, gây thay đổi cấu trúc và biến tính axit deoxyribonucleic (ADN).
Bên cạnh đó, Ag+ có xu hướng phản ứng với các nhóm thiol trong các axit amin làm cản trở quá trình tổng hợp protein [21]. Ngoài ra, các ion Ag+ sản sinh các loại gốc oxy phản ứng (Reactive oxygen species – ROS) phá hủy hệ hô hấp, ức chế và tổn thương tế bào vi khuẩn. Ag/GO ROS ROS AgNPs Phá hủy ADN + Phá hủy protein Ag ROS Phá hủy ty thể Phá vỡ màng tế bào Hình 1.5: Cơ chế kháng khuẩn của Ag/GO Vải kháng khuẩn Vải là loại vật liệu được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như đa dạng về giá thành và chất liệu, tính linh động cao, nhẹ và độ xốp cao. Trong lĩnh vực y tế, vải được sử dụng phổ biến dưới dạng các sản phẩm như: Băng gạc, băng dán, khẩu trang, đồ bảo hộ, v.
Các sản phẩm này như rào cản vật lý bảo vệ da và hệ hô hấp khỏi sự xâm nhiễm của vi khuẩn [22, 23]. Vải coton được ưu tiên sử dụng nhiêu hơn do giá thành thấp, sự thoải mái cũng như khả năng thấm hút tốt của chúng. Tuy nhiên, tính thấm hút tốt của vải coton dễ tạo điều kiện ẩm ướt cho vi khuẩn phát triển, ảnh hưởng đến quá trình điều trị, điều này càng nghiêm trọng đối với các bệnh nhân mắc các bệnh nền phức tạp như: Tiểu đường, béo phì, thận, v. Chính vì thế việc 7 kết hợp vải coton với các vật liệu có khả năng kháng khuẩn như vật liệu Ag/GO sẽ khắc phục được những nhược điểm trên.
Phương pháp chế tạo Phương pháp phủ nhúng (dip – coating) là phương pháp được sử dụng rộng rãi để kết hợp vật liệu kháng khuẩn trên bề mặt vải. Đây là phương pháp đơn giản, chi phí thấp, dễ lắng đọng chất nền trên bề mặt vải. Các tấm vải được nhúng nhanh vào dung dịch hay huyền phù như thể hiện ở Hình 1. Sau đó, mẫu được sấy khô rồi tiếp tục được nhúng và sấy.
Quy trình lặp lại nhiều lần tùy thuộc vào chất nền, chất phủ và mục đích sử dụng [24, 25].6: Quy trình phủ nhúng vải Hai cách được sử dụng để phủ nhúng chất nền Ag/GO lên bề mặt vải là: - Nhúng trực tiếp huyền phù Ag/GO lên nền vải; - Lần lượt nhúng vải vào GO sau đó đến AgNPs. Trong luận văn này, vải coton được phủ nhúng trực tiếp với huyền phù Ag/GO để tạo vải kháng khuẩn (Ag/GO/vải coton). Cơ chế kháng khuẩn của Ag/GO/vải coton Quá trình kháng khuẩn của vải phủ Ag/GO tuân theo cơ chế bắt giữ – diệt vi khuẩn được thể hiện ở Hình 1. Đầu tiên, vi khuẩn bị hấp phụ lên bề mặt vải nhờ vào diện tích lớn, giàu điện tử của GO.