CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Hiện nay trong BLHS Việt Nam không quy định khái niệm tội trộm cắp tài sản là gì. Nhưng để hiểu được khái niệm tội trộm cắp tài sản là gì thì chúng ta phải phân tích và hiểu được cụm từ “ trộm cắp tài sản là gì”.
Sau đó mới phân tích khái niệm “tội trộm cắp tài sản là gì”. Trộm cắp là một hành vi mà khi nói đến mọi người đều hiểu, còn được gọi là ăn cắp, hay ăn trộm. Là một hành vi của một người hay nhóm người lén lút, bí mật chiếm đoạt một vật gì đó của người khác. Đối tượng tác động có thể là đồ vật hay không phải là vật như thông tin, dịch vụ.
ví dụ là tiền, vàng, là các công cụ phương tiện thì có thể gọi là trộm cắp tài sản; nếu đối tượng không phải là tài sản như thông tin thì gọi là trộm thông tin (tin tặc),.Trộm cắp tài sản thì đối tượng của hành vi trộm cắp phải là “Tài sản”. Theo từ điển pháp luật hình sự: “Trộm cắp tài sản” là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác quản lý [23, tr. Chiếm đoạt, theo từ điển tiếng việt thì được hiểu là một động từ lấy của người khác làm của mình, thủ đoạn có thể bằng vũ lực, quyền thế, hoặc thủ đoạn khác. Có thể hiểu là sự tước đoạt quyền sở hữu của người khác làm của mình.
Lén lút không phải là hành vi mà là thể hiện ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, là cách thức, thủ đoạn thực hiện hành vi 6 chiếm đoạt. Có thể nói một cách khác: trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút. Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu về tài sản giữa người với người trong xã hội. Tác hại của nó ảnh hưởng không nhỏ đến tình tình trật tự trị an, kinh tế xã hội.
Tùy theo tính chất nguy hiểm của mỗi hành vi trộm cắp cụ thể và từng thời kỳ phát triển, mà các quốc gia trên thế giới quy định là tội phạm cần phải bị trừng trị và loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Như vậy “ tội trộm cắp tài sản” là gì. Từ những phân tích trên tác giả có Khái niệm tội trộm cắp tài sản như sau: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản đang do người khác quản lý được quy định trong Bộ luật hình sự và bị xử lý hình sự”. Bộ luật hình sự hiện hành quy định xử lý về tội trộm cắp tài sản tại điều 173.
Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản 1. Khách thể của tội trộm cắp tài sản - Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [37, tr. Tội phạm trộm cắp tài sản chủ yếu xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Điều luật quy định: “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác…” ở đây điều luật đã thể hiện quan hệ sở hữu về tài sản giữa người và người.
Quyền sở hữu về tài sản đã được Hiến pháp quy định tại điều 32 “quyền sở hữu tư nhân… được nhà nước bảo hộ” và được luật hình sự bảo vệ. Như vậy khách thể của tội trộm cắp tài sản là: Quyền sở hữu tài sản của người khác, đây là khách thể trực tiếp và trật tự an toàn xã hội là khách thể gián tiếp. Quyền sở hữu của người khác được hiểu là không phải của chính mình, bao gồm sở hữu của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nhưng nếu 7 giao cho người khác quản lý mà sau đó lén lút đến chiếm đoạt thì có thể là phạm tội trộm cắp tài sản.
Quyền sở hữu tài sản phải là tài sản hợp pháp. Đối với những tài sản không hợp pháp thì hành vi chiếm đoạt những tài sản đó không phải là tội trộm cắp tài sản. Trên thực tế những trường hợp trộm cắp tài sản đang do người khác quản lý một cách bất hợp pháp( ví dụ: tài sản phạm tội mà có) vẫn có quan điểm cho là phạm tội trộm cắp. Đây là vấn đề đang tranh cải cần có sự giải thích áp dụng thống nhất.
Quyền sở hữu tài sản bao gồm các quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. [2, điều 158] Nhưng nếu một hành vi chỉ xâm phạm đến một trong ba quyền trên của chủ sở hữu, thì không phải là hành vi trộm cắp tài sản. Bởi bản thân từ trộm cắp tài sản đã được khái niệm và hiểu là hành vi chiếm đoạt tài sản, tức là tước đoạt cả ba quyền trên của chủ sở hữu. Để xâm phạm quyền sở hữu tài sản trong tội trộm cắp thì kẻ phạm tội phải chiếm đoạt một tài sản nào đó.
Tài sản nói ở tội trộm cắp là một khái niệm chung, theo quy định của BLDS hiện hành tại điều 105 : “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản” [2, tr. Nhưng không phải tất cả các loại tài sản quy định tại điều 105 BLDS đều là đối tượng của tội trộm cắp. Tài sản của tội trộm cắp phải thể hiện dưới dạng tiền hay đồ vật cụ thể có trị giá và giá trị sử dụng. Quyền tài sản, bất động sản không thể là đối tượng của tội trộm cắp.
Quyền tài sản không phải là vật cụ thể nên người khác không thể cầm nắm được và bất động sản thì không di chuyển dễ dàng được nên không thể lén lút chiếm đoạt, muốn chiếm đoạt thì phải dùng thủ đoạn khác. Hay nói cách khác hành vi chiếm đoạt quyền sở hữu hay bất động sản không phải là tội trộm cắp, mà là một loại tội chiếm đoạt khác. Mặt khác cũng có một số loại tài sản có tính chất đặc biệt 8 nếu trộm cắp thì sẽ không xử lý về hành vi trộm cắp, ví dụ như vũ khí, ma túy, đất đai, … Đối với những tài sản là di vật, cổ vật, được quy định tại điểm đ khoản 1 điều 173 đây là qui định mới cần được hiểu một cách thống nhất, có thể hiểu đó là vật mà có trị giá không lớn nhưng xét về giá trị tinh thần, giá trị văn hóa thì vô giá đối với chủ sở hữu. Theo quy định tại điều 4 Luật di sản văn hóa thì: “ Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”; “ Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ trăm tuổi trở lên.
Nhưng hiện nay các căn cứ để xác định di vật, cổ vật chưa được hướng dẫn cụ thể. Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm: Hành vi khách quan, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả [37, tr. Đồng thời cả các biểu hiện bên ngoài khác của tội phạm như công cụ, phương tiện phạm tội, thời gian, địa điểm,… Hành vi khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người thực hiện tội phạm thực hiện. Hành vi khách quan bị điều kiển chí phối bởi ý chí, nhận thức của người thực hiện hành vi và thể hiện bằng hành động hoặc không hành động.
Bản chất của trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút, bí mật, cho nên hành vi khách quan là hành động chiếm đoạt tài sản. “ Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông coi cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan khác như chen lấn, xô đẩy nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết” [14, tr. 9 Việc lén lút bí mật là nhằm mục đích che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Đây là dấu hiệu cơ bản và duy nhất để phân biệt tội trộm cắp tài sản với những tội chiếm đoạt khác.
Sự lén lút, bí mật không phải là hành vi, mà là tính chất của hành vi chiếm đoạt trong tội trộm cắp tài sản, cũng là ý thức chủ quan của người phạm tội, người phạm tội muốn che giấu hành vi phạm tội của mình, không muốn chủ tài sản hay người quản lý tài sản biết hành vi chiếm đoạt của mình. Thực tế cho thấy, khi người phạm tội thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, có thể thực hiện bằng nhiều thủ đoạn khác nhau để che giấu hành vi như: Che giấu toàn bộ hành vi (lén lút khách quan); ví dụ: Lợi dụng đêm tối lúc mọi người ngủ say, lẻn vào chiếm đoạt tài sản; hoặc che giấu một phần hành vi, hoặc che giấu tính chất của hành vi nhưng lại công khai với những người khác (lén lút chủ quan); ví dụ: Lợi dụng chủ nhà đi vắng, kẻ phạm tội công khai đến cẩu những cây kiểng có giá trị mà những người hàng xóm đều thấy. Tài sản mà người thực hiện hành vi trộm cắp phải là tài sản đang nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý. Những tài sản đã thoát khỏi sự quản lý của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý thì người chiếm đoạt những tài sản đó không phải là tội trộm cắp.
Ví dụ: các trường hợp chiếm giữ tài sản bị thất lạc. Về hậu quả trong tội trộm cắp. Để chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản. Tức là đã lấy đi một loại tài sản nào đó, gây thiệt hại cho chủ sở hữu về giá trị vật chất hoặc tinh thần nhất định.
Đồng thời thiệt hại này phải là đáng kể, theo BLHS hiện hành quy định thì, trị giá tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2.