Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy Khái niệm tội phạm là khái niệm trung tâm của pháp luật hình sự, được các học giả nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau. Đây là khái niệm cơ bản nhằm phân biệt hành vi nào là tội phạm, hành vi không phải tội phạm. Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ.
Trong đó, các tội phạm về ma túy có tính chất truyền thống, được quy định từ lâu trong pháp luật hình sự nước ta, đây là nhóm tội phạm có tính nguy hiểm cao, gây nguy hại rất lớn cho xã hội. Trong khoa học pháp lý cũng đã có nhiều công trình khoa học khác nhau nghiên cứu về khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng đều cơ bản thống nhất cho rằng: Tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ, dấu trái phép chất ma túy ở bất kỳ nơi nào như: trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong valy, cho vào thùng xăng xe, cất trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc mang theo người mà không nhằm mục đích mua bán hay sử dụng trái phép chất ma túy khác [10, tr. Trong PLHS Việt Nam hiện hành thì tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 249, Chương XX của BLHS năm 2015, thuộc nhóm các tội phạm về ma túy. Nghiên cứu về tội này rút ra một số đặc điểm như: - Thứ nhất, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội.
- Thứ hai, hành vi khách quan của tội này là cất giữ, giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích vận chuyển, mua bán 7 Luan van hay sản xuất trái phép chất ma túy khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để cấu thành tội phạm cần phải có số lượng chất ma túy tối thiểu, dưới mức quy định lượng ma túy tối thiểu thì chủ thể trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội sản xuất, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. - Thứ ba, chủ thể của tội này là người từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3 và 4) có năng lực trách nhiệm hình sự. - Thứ tư, người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, họ biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, nhưng vẫn mong muốn thực hiện.
Từ những phân tích trên, dựa trên khái niệm về tội phạm tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, tác giả đưa ra khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy như sau: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi hành vi cất giữ, giấu trái phép chất ma túy nhưng không nhằm mục đích vận chuyển, mua bán hay sản xuất chất ma túy khác, do người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực TNHS thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Các dâu hiệu pháp lý của tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Khách thể của tội phạm Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm: Khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp, theo đó khách thể chung của tội phạm được hiểu là tổng hợp các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm, khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất được nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của nhóm tội phạm. Trong đó, khách thể trực tiếp 8 Luan van của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm cụ thể xâm hại mà sự xâm hại này phản ánh được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó [29, tr.
Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy, thì khách thể trực tiếp của tội phạm là chế độ độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Để gây thiệt hại cho khách thể trên, thì chủ thể tội phạm phải tác động và đối tượng tác động của tội phạm đó là các chất ma túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma tuý [46; tr18]. Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm bao gồm hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả và hành vi; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội. Tuy nhiên không phải tất cả các biểu hiện của mặt khách quan đều được phản ánh trong cấu thành cơ bản của tội phạm, mà chỉ có dấu hiệu hành vi khách quan nào nguy hiểm cho xã hội thì mới là dấu hiệu bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm.
- Về hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ, giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích vận chuyển, mua bán hay sản xuất trái phép chất ma túy khác. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để cấu thành tội phạm cần phải có số lượng chất ma túy tối thiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015. Trong thực tế, có nhiều trường hợp cất giấu ma túy trên phương tiện giao thông: Xa máy, ô tô, tàu thủy. nhưng lại không có mục đích vận chuyển dù phương tiện này vẫn di chuyển từ nơi này đến nơi khác.
Trường hợp này dễ bị lầm tưởng vận chuyển trái phép chất ma túy. Tội phạm này phải được xác định là tội tàng trữ trái phép chất ma túy vì mục đích phạm tội là cất giấu. 9 Luan van - Hậu quả Hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc để định tội. Những thiệt hại do hành vi mua bán trái phép chất ma tuý gây ra cho xã hội chính là những thiệt hại phi vật chất (chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý).
Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ có thể là cá nhân. Đó là người có năng lực TNHS và đủ độ tuổi theo luật định. Đối chiếu với quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015, thì chỉ những người sau đây, có năng lực TNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm này: - Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Điều 249 BLHS. - Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, phải chịu TNHS theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 249 BLHS.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 vì đây là tội phạm nghiêm trọng. Mặt chủ quan của tội phạm Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích. Theo đó, lỗi của người phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý thực hiện hành vi phạm tội của mình do cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vẫn thực hiện. Để áp dụng tội này với người phạm tội, cơ quan điều tra cũng như người phạm tội cần chứng minh việc tàng trữ đó không nhằm mục đích vận chuyển, mua bán hay sản xuất trái phép số ma túy này.
Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của CTTP của tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ phục vụ việc định tội danh nếu xác định: Chất được giám định không phải là chất ma túy nhưng 10 Luan van người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy, thì người có hành vi tàng trữ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS. Các trường hợp phạm tội cụ thể - Khoản 1 của Điều 249 BLHS: Đây là CTTP cơ bản của tội danh, bao gồm các tình tiết quy định từ điểm a đến điểm i khoản 1. - Khoản 2 Điều 249 BLHS: Đây là CTTP tăng nặng thứ nhất của tội danh, cụ thể: + Có tổ chức: Là từ 02 người trở lên có sự phân công trách nhiệm cụ thể từng người, liên kết chặt chẽ với nhau thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.
+ Phạm tội 02 lần trở lên: người phạm tội đã có tất cả hai lần tàng trữ trái phép chất ma tuý trở lên mà mỗi lần phạm tội đều có đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm; đồng thời trong số các lần đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc hết thời hiệu truy cứu TNHS. + Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Là những người theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan trực tiếp đến việc quản lý, tàng trữ.đã tiến hành tàng trữ.chất ma tuý. + Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Là lợi dụng cơ quan nhà nước, chức nhất định có chức năng nghiên cứu, quản lý các chất ma tuý hoặc nghiên cứu khoa học để tàng trữ. + Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội.
Người dưới 14 tuổi tham gia tàng trữ trái phép chất ma túy thì không phạm tội, họ chỉ phạm tội khi từ đủ 14 tuổi trở lên. + Các điểm: e, g, h, i, k, 1, m, n, quy định khối lượng, thể tích các chất ma túy.