CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TÔ CHỨC SAN XUẤT NỘI DUNG ĐA PHƯƠNG TIỆN CỦA BÁO ĐIỆN TỬ 1.1 Các khái niệm có liên quan và vai trò của tố chức sản xuất nội dung đa phương tiện về lĩnh vực công nghệ thông tin của báo điện tử 1.1 Khái niệm tô chức sản xuất Đề hiểu rõ hơn khái niệm tổ chức sản xuất, chúng ta cùng phân định cụ thê thế nao là “Tô chức” và thê nào là “Sản xuât”.1 Tổ chức Tổ chức theo từ gốc Hy Lạp “Organon" nghĩa là hài hòa. Theo Từ điên tiếng Việt, tổ chức là làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất; Làm cho thành trật tự, có nề nếp; Làm những gì cần thiết đề tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất [32, tr. Tô chức hiểu theo nghĩa thông thường là liên kết nhiều người lại để thực hiện một công việc nhất định. Tổ chức đặt ra dé thực hiện nhiệm vụ.
Mỗi tô chức đều có mục đích, nhiệm vụ riêng.2 Sản xuất Theo từ điển Tiếng Việt, sản xuất là tạo ra của cải vật chất, nói chung: hoạt động sản xuất, tạo ra vật chất cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động [32, tr. Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong kinh tế của con người dé tạo ra sản phẩm vật chất và tình thần phục vụ nhu cầu của xã hội. Quá trình sản xuất phải xem xét các yếu tố như sản phẩm, phương pháp sản xuất, khách hàng, giá cả và tối ưu hóa sử dụng nguồn lực. Nếu coi sản xuất là một quá trình thì tổ chức sản xuất là tổng hợp các phương pháp, sự phối hợp, kết hợp giữa sức lao động, tư liệu sản xuất, công cụ lao động và đối tượng lao động dé phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ sản xuất, quy mô và công nghệ sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ con người và xã hội.
16 Theo Harold Koontz, Cyril Odonnell va Heinz Weihrich trong cuốn Management (sự quán lý, điều hành) năm 1984 thi công tác tổ chức là "việc nhóm gdp các hoạt động can thiết dé dat được các mục tiêu, là việc giao phó mỗi nhóm cho một người quan lý với quyên han can thiết để giám sát nó, và là việc tạo diéu kiện cho sự liên két ngang và dọc trong cơ cau của doanh nghiệp". Trần Văn Hùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục Phát triển Doanh nghiệp cho rang: “Tổ chức sản xuất là sự phối hợp, kết hop chặt chẽ giữa sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động cho phù hợp với yêu câu, nhiệm vụ sản xuất, quy mô sản xuất và công nghệ sản xuất đã xác định nhằm sản xuất ra sản phẩm có chất lượng đáp ứng nhu câu của thị trường” [22]. Nói chung, tô chức sản xuât là việc phôi hợp nguôn nhân lực, tài nguyên và công cụ đê giảm chi phí nhăm tạo ra sản phâm với hiệu quả và chât lượng như mong muôn. Trong lĩnh vực báo chí, tổ chức sản xuất tin bài, video và hình ảnh đòi hỏi sự tham gia của nhiều thành phan trong tòa soạn và cần được phối hop nhuan nhuyễn và kiểm tra chặt chẽ để tạo ra sản phẩm chất lượng.
Đó không chỉ là nhiệm vụ của đội ngũ PV, BTV, kỹ thuật viên mà nó còn là công việc của người lãnh đạo, của các phòng, ban cơ quan báo chí đó. Tóm lại, trong luận văn này khái niệm tô chức sản xuất được hiểu là: T6 chức sản xuất là việc điều hành sản xuất hoàn chỉnh phan chính, phần cốt lõi dé tạo nên một sản phẩm. Van dé được dé cập ở đây, chính là phan nội dung của tờ báo, do đó, đòi hỏi việc tổ chức sản xuất cần phải kế hợp chặt chẽ, hài hòa các nguồn lực từ con người đến phương tiện, nhằm mục đích tạo ra một sản phẩm báo chí thực sự hiệu quả và có giá trị khi đến với công chúng.2 Khái niệm nội dung da phương tiện 1.1 Khai niệm nội dung Có rat nhiêu định nghĩa, cũng như khái niệm về nội dung, trong đó, nghiêng vê lĩnh vực triết học thì nội dung được hiểu cơ bản là: “Mộ phạm trù triết học tổng hợp 17 tat cả các mặt, các yêu tô, các quá trình tạo nên sự vật, điên ra trong sự vật. Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức trong quá trình vận động và phát triển của sự vật”.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Nói dung là mặt bên trong cua sự vật, cai được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện”. 738] Như vậy có thé nói nội dung là phần hồn không thé thiếu của của một sự vật. Trong báo chí cũng vậy, có rất nhiều khái niệm đề cập đến tầm quan trọng của nội dung trong báo chí, việc đầu tư cho nội dung, quản lý nội dung thế nhưng việc nói đến khái niệm về nội dung thì rất ít được đề cập đến. Nội dung là một phần không thẻ thiếu đối với một tờ báo, nhất là đối với công tác xuất bản.
Tại tọa đàm trực tuyến về “Nội dung là yêu tố quan trọng nhất của nền Báo chí — Xuất bản thời đại 4.0” trong khuôn khổ Hội sách trực tuyến năm 2020 diễn ra trong thời điểm trung tuần tháng 4/2020, TS. Đỗ Quý Doãn cho rằng: “Đứng là Báo chí — Xuất bản muốn có công chúng phải có nội dung hấp dan, không có công chúng, không hap dẫn thì coi như ngành này sup đổ" [20]. TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Nội dung của báo chí và xuất bản cũng phải phù hợp với từng đối tượng độc giả và nhu cau của thị trường, đây là yếu to dé phát triển”. Từ đó cho thay nội dung thực sự là phần lõi, phần hồn của một sự vật, của một sản phâm báo chí.
Nội dung là tổng hợp tat cả các yếu tố làm nên phan bên trong của tác phẩm báo chí, có tính động, có khuynh hướng biến đồi dé phù hợp với yêu cau của thời đại.2 Khải niệm da phương tiện Công nghệ internet bùng nổ đã tạo ra xu hướng phát triển của truyền thông mới, thuật ngữ “đa phương tiện” được nhắc đến, được đề cập trong nhiều cuốn sách, giáo trình giảng dạy, cũng như trong các công trình nghiên cứu. Tùy thuộc vào từng lĩnh vực mà thuật ngữ “đa phương tiện” được định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên, phổ biến nhất, thuật ngữ “đa phương tiện” xuất phát từ cụm từ “Mutlimedia” trong tiếng Anh. Trong từ điển của Dai hoc Cambridge — đa phương tiện có nghĩa là việc sử dụng kết hợp âm thanh, hình ảnh và video dé trình bày thông tin trên màn hình máy tính.
18 Tác giả Tony Feldman đã nhắc lại định nghĩa của Patrick Gabbins trong cuốn Multimedia (Đa phương tiện) như sau: “Truyền thông da phương tiện là sự tích hop liền cua dữ liệu văn bản chữ, các loại hình ảnh và âm thanh trong một môi trưởng thông tin số hóa riêng lể". TS Đỗ Trung Tuấn, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông định nghĩa: “Đa phương tiện là kỹ thuật mô phỏng và sử dụng dong thời nhiều dang phương tiện chuyển hóa thông tin và các tác phẩm từ các kỹ thuật đó” [40, tr. TS Nguyễn Van Dững định nghĩa: “Da phương tiện là khả năng kết hợp các tài liệu văn bản, hình anh, âm nhac, video, hình động và tài liệu in ấn có thể được sử dụng ở nhiều mức độ khác nhau nhằm “thay đổi” sự chú ý và truyén đạt một cách hiệu quả thông điệp của bạn. Da phương tiện cho phép kết hợp các loại hình truyễn thông trong việc truyền tải thông điệp nhằm gây chú ý, hap dẫn và thuyết phục công chúng”.
Từ nhận định trên cho thấy, “da phương tiện” là một khái niệm khá trừu tượng, nó đem đên cho người tiêp nhận khá nhiêu cách hiêu khác nhau. Nhóm tác giả Lê Đắc Nhường- Nguyễn Gia Như, trong cuốn Truyền thông đa phương tiện cho rằng, “Da phương tiện (Multimedia): Là dạng tích hop của van bản, âm thanh (voice), hình ảnh (picture), phim (video) trong một môi trường thông tin số. Đa phương tiện có nhiều loại với những phương tiện biểu diễn khác nhau như: radio, vô tuyến, quảng cáo. Trong bài viết về “tin ức da phương tiện — một dang tác phẩm báo chí mới" tác giả Ngô Bích Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền có đề cập đến định nghĩa củagiáo trình day báo chi Trường Dai hoc Berkely: “Mot câu chuyện đa phương tiện (hoàn chỉnh) là sự kết hop của văn bản, hình anh tĩnh, video clip, âm thanh, đồ họa và sự tương tác được trình bày trên một trang wed trong một định dạng phi tuyến tính trong đó các thông tin trong moi phương tiện là hoàn chỉnh, không dư thừa”.
“Phi tuyến tính” có nghĩa là thay vì đọc một mẫu chuyện duy nhất có cấu trúc cứng nhắc, người dùng có thể chọn cách đọc tự điều chỉnh hướng, click vào đọc bat cứ yêu tô nào, theo thứ tự tùy chọn của bài báo đó. “Không dư thừa” có nghĩa là thay vi 19 bài báo được tạo thành bởi văn bản cộng với một video clip/audio clip có nội dung tương tự phần văn ban, thì ở đây các phần khác nhau của một câu chuyện được kế bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông khác nhau. Điều quan trọng là sử dụng mỗi hình thức truyền thông — để trình bày một nội dung, hay lượng thông tin khác nhau của một câu chuyện theo cách hấp dẫn nhất và giàu thông tin. TS Nguyễn Thị Trường Giang cho răng: đa phương tiện là sự kết hợp của nhiều loại phương tiện (ngôn ngữ văn tự va phi văn tự): Văn bản (Text), hình ảnh tinh (still image), hình ảnh động (animation), đồ họa (graphic), âm thanh tổng hợp (audio), video và chương trình tương tác (interactive program) nhằm gây sự chú ý, tăng độ hấp dẫn, đảm bảo độ tin cậy, chân thực, khách quan và nâng cao tính thuyết phục trong truyền tải thông điệp [15, tr.
Như vậy, hiểu một cách chung nhất, nội dung đa phương tiện là phan hồn, phần lõi bên trong của các sản phẩm báo chí truyền thông được kết hợp sử dụng nhiều yếu tố đa phương tiện như: văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, video, đồ họa và các chương trình tương tác khác, đề truyền tải thông điệp, thông tin đến người tiếp nhận. Trong đó, nội dung đa phương tiện trên BĐT là sự kết hợp nhiều loại phương tiện (văn tự và phi văn tự) dé thực hiện và tạo nên thông điệp, thông tin thông qua một tác pham báo chí.3 Khải niệm công nghệ thông tin Công nghệ thông tin trong tiếng Anh là Information Technology, viết tắt là IT.