ĐẶT VẤN ĐỀ Ghép thận là một biện pháp điều trị thay thế thận mang lại đời sống tốt đẹp cho nhiều bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối. Ghép thận được triển khai trên nhiều quốc gia và là lĩnh vực có số bệnh nhân được thực hiện nhiều nhất trong lĩnh vực ghép tạng. Các thuốc ức chế miễn dịch nhằm tránh tình trạng thải ghép cũng đưa bệnh nhân vào tình huống dễ mắc các bệnh cơ hội khác như nhiễm Cytomegalo virus (CMV), Epstein-Barr virus (EBV), hoặc bùng phát các bệnh lý tiềm tàng như lao, herpes zoster virus, viêm gan siêu vi B, C. dẫn tới hạn chế hiệu quả ghép thận.
Trên lĩnh vực viêm gan B, mặc dù tỉ lệ hiện mắc của người mang virus viêm gan B trên bệnh nhân ghép thận đang thấp dần, nhưng vẫn là đáng kể, đặc biệt là ở vùng lưu hành cao của HBV như tại Việt Nam. Theo báo cáo nghiên cứu của Mathurine và cộng sự (Cs), tỉ lệ lưu hành của HBsAg giảm đáng kể từ 24,2% (trước 1982) còn 9,1% (sau 1982) tại Pháp [87]. Tương tự, theo thống kê của Santos và Cộng sự (Cs) tại Bồ Đào Nha tần suất lưu hành HBsAg trên bệnh nhân ghép thận giảm rõ rệt sau 15 năm từ 6,2% (1994) xuống còn 2,3% (2006)[113]. Tại Châu Á, kết quả khảo sát cũng tương tự, theo Tsai và Cs tần suất lưu hành tại Đài Loan giảm dần từ 20,9% (1994) xuống còn 9,2% (2009)[123].
Theo Ming Chao Tsai, các nghiên cứu đã cho thấy HBV liên quan tới nguy cơ cao của tàn tật và tử vong trên bệnh nhân ghép thận khi theo dõi trong thời gian dài [123]. Cũng theo tác giả này và nhiều nghiên cứu khác cho thấy, thận ghép có HBsAg(+) có thể sử dụng an toàn cho người nhận có kháng thể HBsAb(+) [34],[71],[119],[123]. Trước thời đại của các thuốc điều trị hiệu quả và an toàn, nhiễm HBV đã có tác động bất lợi nghiêm trọng đến sống còn của bệnh nhân ghép thận đến nỗi các trung tâm ghép thận đã từng đề cập HBsAg(+) xem như là chống chỉ định của ghép thận. Tuy nhiên, kết quả điều trị và việc kiểm soát bệnh do HBV trên người ghép thận đã có thay đổi đáng kể trong một thập niên gần đây.
Trong kỷ nguyên của các phác đồ thuốc kháng virus hiệu quả chất đồng dạng nucleotide/nucleoside, tỉ lệ sống còn từ 8-10 năm của người nhận thận ghép có HBsAg(+) đang tiến tới gần bằng với người ghép không bị nhiễm HBV. Tuy nhiên, việc kiểm soát tình trạng kháng thuốc của HBV trên bệnh. nhân ghép thận, cũng như tác động độc tính trên thận của một vài loại thuốc kháng virus viêm gan B vẫn còn là những thách thức hiện nay. Trên lĩnh vực viêm gan C cũng có những phát triển vượt bực về các loại thuốc kháng virus, đã góp phần làm mở rộng chỉ định ghép thận ở đối tượng này.
Trước năm 2013, việc điều trị viêm gan C trên bệnh nhân ghép thận gặp nhiều bế tắc, do tác động có hại của thuốc kháng virus interferon trên tình trang thải ghép thận quá cao. Từ sau 2013 tới nay với sự ra đời của các thuốc kháng virus tác động trực tiếp (Direct Acting Antiviral = DAA) thế hệ mới đã làm thay đổi đáng kể hiệu quả điều tri viêm gan C trên cả đối tượng ghép thận cũng như đối tượng không ghép thận [23], [53], [128]. Tới năm 2016 chưa có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của DAA trên các đối tượng ghép thận bị viêm gan C được báo cáo tại Việt Nam. Do vậy việc nghiên cứu viêm gan siêu vi B và C trên đối tương ghép thận tại Việt Nam là cần thiết.
Tỉ lệ viêm gan siêu vi B và C trên nhóm bệnh nhân ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy cũng như đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết cục của những bệnh nhân ra sao? Tình trạng tái hoạt động của HBV và HCV sau ghép ra sao khi bệnh nhân ghép thận được sử dụng các phác đồ thuốc ức chế miễn dịch? Hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều trị đặc hiệu HBV và HCV trên bệnh nhân ghép thận như thế nào? Độc tính trên thận của các phác đồ có chứa tenofovir trên bệnh nhân ghép thận? Đó chính là các câu hỏi nghiên cứu mà tôi mong tìm được câu trả lời khi thực hiện nghiên cứu này. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỉ lệ nhiễm HBV và HCV trước và sau ghép dựa vào các dấu ấn huyết thanh, tỉ lệ viêm gan tái hoạt động trên nhóm bệnh nhân ghép thận được theo dõi tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trên từng nhóm bệnh nhân viêm gan siêu vi B và C trên bệnh nhân ghép thận.
Mô tả kết quả điều trị của các thuốc kháng virus trực tiếp trên các bệnh nhân viêm gan siêu vi B (lamivudine, entecavir, tenofovir) và bệnh nhân viêm gan siêu vi C (sofosbuvir/ledipasvirvà sofosbuvir/ribavirin) được dùng điều trị trên bệnh nhân theo dõi sau ghép thận tại Bệnh viện Chợ Rẫy. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH GHÉP THẬN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Lịch sử ghép thận thế giới và những phát triển hiện nay Thận là cơ quan của cơ thể có vai trò quan trong trong lọc máu, đào thải chất độc qua đường tiết niệu, cân bằng nội môi và cả chức năng nội tiết.
Suy thận mạn giai đoạn cuối là giai đoạn nặng nhất mà bệnh nhân sẽ tử vong nếu không được áp dụng các biện pháp điều trị thay thế thận như thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc hoặc ghép thận. Ghép thận là biện pháp điều trị có hiệu quả tốt hơn, tử vong và chi phí điều trị lâu dài thấp hơn so với thận nhân tạo hoặc thẩm phân phúc mạc. Các nhà khoa học trên thế giới đã tiến hành các nghiên cứu ghép thận từ những năm đầu của thế kỷ 20. - 1902: Trường hợp ghép thận thực nghiệm đầu tiên thành công (Ullman, 1902).
- 1906: Trường hợp ghép trên người, ghép dị loài (Jaboulay, 1906). - Ghép thận được thực hiện trên thế giới bắt đầu từ những năm của thập niên 1950 và ngày càng phát triển rộng khắp thế giới cho tới ngày nay. - 1950 - 1953 Dubost và cộng sự, Kuss và cs, Servell và cộng sự, Hume và cộng sự, Hamburger J, Michon và cộng sự ghép thận đồng loại trên người không thành công vì chưa có thuốc ức chế miễn dịch (UCMD). - 1954: Joseph Murray: ghép thận đồng loài thành công trường hợp đầu tiên (người cho và người nhận là song sinh cùng trứng), từ đó Murray được trao giải Nobel vào năm 1958.
Lịch sử ghép thận sau đó tập trung vào việc phát triển các thuốc ức chế miễn dịch để bảo vệ thận ghép - 1960: Calne, Zukoski và cộng sự sử dụng 6- mercaptopurin trên bệnh nhân ghép thận - 1975: Sản xuất ra kháng thể đơn dòng - 1978: Sử dụng Cyclosporine A (Calne, 1978) - 1987: Làn sóng thuốc ức chế miễn dịch mới: FK506 hay Tacrolimus tức Prograf®. - Luật pháp, tập tục trong việc cho phép và tình nguyện hiến thận trên người chết não do chấn thương có giá trị quyết định về số lượng người được ghép thận. nhưng ở các nước có luật và tập tục cho phép hiến thận, vẫn không đáp ứng số người cần ghép, danh sách chờ ghép lúc nào cũng dài. - Tại các nước có tổ chức hiến thận tốt, thận từ người cho tử thi (chết não) chiếm 75%, phần còn lại là thận từ người cho còn sống trong gia đình và một phần nhỏ còn lại từ người cho không quan hệ huyết thống.
Hiện có sự khan hiếm trầm trọng nguồn cho thận, danh sách chờ luôn đông và thời gian chờ thường lâu, vì thế ở đa số các nước có quy tắc phân phối nguồn thận hiến tặng rất chặt chẽ. Theo thống kê của USRDS giai đoạn 2010- 2014 tỉ lệ người mắc bệnh thận mạn tại Mỹ là 14,8%. Trong năm 2014 tại Mỹ có 120.668 người mắc mới bệnh thận mạn, tỉ lệ mắc mới 370 người/1. Tính tới 31/12/2014 tại Mỹ có 673.383 người Mỹ mắc bệnh thận mạn giai đoạn cuối, 87,9% trong số đó đang được lọc thận, 9,3% được thẩm phân phúc mạc và 2,9% được ghép thận.
Cũng theo mốc 31/12/2014 có 88.231 người đang chạy thận nhân tạo nằm trong danh sách chờ ghép. Trong năm 2014, tại Mỹ thực hiện khoảng 17.914 trường hợp ghép thận tương đương số 18.000 trường hợp trong năm 2007. Ghép thận người cho sống chỉ chiếm dưới 1/3 số trường hợp ghép thận tại Mỹ trong năm 2014. Số trường hợp hiến thận từ người cho chết não đã tăng từ 6.385 trường hợp trong năm 2014.
Thống kê năm 2013 cho thấy, tỉ lệ sống còn sau một năm của thận ghép là 92% đối với thận cho từ người chết não và 97% đối với thận cho từ người cho sống. Tỉ lệ tử vong hàng năm trên bệnh nhân lọc thận nhân tạo vào khoảng 21% - 25%, nhưng trên bệnh nhân được ghép thận chỉ vào khoảng 8% đối với ghép thận của người chết não và chỉ khoảng 4% đối với ghép thận của người sống [124]. Tình hình ghép thận hiện nay tại Việt Nam - Ngành ghép thận Việt Nam có chương trình ghép thận từ thập niên 70. Trường hợp ghép thận đầu tiên tại Việt Nam thực hiện ngày 4/6/1992 tại Bệnh viện Quân Y 103.
Bắt đầu tự ghép vào ngày 20/7/1993. Trong vòng 10 năm đầu của ghép thận tại Việt Nam, mỗi năm trung bình ghép thận khoảng 20 trường hợp và. tính đến năm 2004 cả nước đã ghép được 120 trường hợp [20]. Các trung tâm ghép thận đã được phát triển tiếp theo trong cả nước: Bệnh viện Chợ Rẫy (12/1992), Bệnh viện Việt Đức (năm 2000), Bệnh viện Trung ương Huế (năm 2001), Bệnh viện Nhân Dân Gia Định (1/2002), Bệnh viện 115 (2/2004), Bệnh viện Nhi Trung ương (4/2004), Bệnh viện Nhi Đồng II (6/2004), Bệnh viện Bạch Mai (11/2005), Bệnh viện Đà Nẵng (3/2006) và Bệnh viện Kiên Giang (3/2007).
Tính đến năm 2008 cả nước đã ghép thận cho 240 trường hợp và tính riêng trong 8 năm gần đây đã ghép thận trên 200 trường hợp với kết quả tốt [11]. Tính đến năm 2011, cả nước có 7 cơ sở thực hiện ghép thận với số ca ghép thận là 534 ca. Từ 2012, số lượng các trung tâm ghép thận và ca ghép thận cũng tăng nhanh đáng kể, theo số liệu thống kê từ trung tâm điều phối ghép tạng quốc gia, tính đến 31/12 /2018 cả nước đã có 19 trung tâm ghép thận với số lượng ca ghép thận đã được thực hiện là 3.