CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình suy tim hiện nay 1.1 Trên thế giới Hiện nay, khoảng 64,3 triệu người trên thế giới đang chung sống với suy tim 14. Ở các nước phát triển, tần suất đã biết suy tim ước tính khoảng 1 đến 2% dân số người trưởng thành. Các nhà điều tra viên của chương trình khảo sát nghiên cứu sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia (NHANES) đã ước tính tần suất suy tim tại Hoa Kỳ là 2,5% dựa trên dữ liệu báo cáo cá nhân 15.
Tần suất suy tim ước tính ở Đức dựa trên dữ liệu các yêu cầu chăm sóc sức khỏe của trên 3 triệu cư dân là 4% cho cả đàn ông và phụ nữ 16. Một nghiên cứu phân tích gộp dựa trên các nghiên cứu tầm soát siêu âm tim ở dân số chung (đánh giá được số trường hợp không nhận biết trước đó) đã cho thấy rằng tần suất của “mọi phân loại” suy tim ở các nước phát triển trong khoảng 11,8% ở dân số 65 tuổi hoặc hơn. Số liệu này tương ứng tần suất tính toán trong dân số chung là 4,2%, do đó cao khoảng gấp 2 lần các số liệu trong các báo cáo về tần suất dựa trên các nghiên cứu sổ bộ về các trường hợp đã xác định suy tim. Theo quy ước, tỷ lệ hiện mắc 4,2% là con số ước tính thực tế hơn 17.
Sự khác biệt giữa 4,2% và 2% chỉ ra rằng ngay cả một hội chứng tiên lượng nặng như suy tim vẫn có thể không nhận ra được trong hơn phân nửa các trường hợp. Đặc biệt là suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF) thì dễ bị bỏ sót chẩn đoán: lên đến 76% các trường hợp suy tim không nhận diện được là các bệnh nhân với phân suất tống máu (PSTM) bảo tồn 17. Số lượng tuyệt đối bệnh nhân suy tim đang tăng dần, được xem như là kết quả của sự già hóa dân số, sự tăng trưởng dân số toàn cầu và cải thiện tử vong sau chẩn đoán. Một phần trong sự tăng số lượng bệnh này là kết quả của sự nhận diện suy tim phân suất tống máu thất trái bảo tồn (HFpEF) là một thể suy tim quan trọng 18,19.
Các nguyên nhân cho việc không nhận diện ra được suy tim thì đa dạng, và bao gồm cả việc phân loại nhầm lẫn với các bệnh lý khác như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, suy yếu thể trạng do bệnh mạn tính, lão hóa, hoặc béo phì do có các triệu chứng. 5 lâm sàng giống nhau, và sự không sẵn có của siêu âm tim ở các đơn vị chăm sóc sức khỏe ban đầu 20. Ở các nước phát triển, tỷ suất mới mắc đã ổn định trong giữa năm 1970 và năm 1990, và hiện tại được cho là đang giảm dần. Tỷ suất mới mắc của suy tim ở các nước Châu Âu và Hoa Kỳ dao động rộng trong khoảng từ 1 đến 9 trường hợp trên 1000 người-năm, và phụ thuộc phần lớn vào vào dân số nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn đoán sử dụng 1.
Tỷ suất mới mắc suy tim có xu hướng giảm đã được ghi nhận tại Hoa Kỳ. Các nhà điều tra trong nghiên cứu đoàn hệ tại Quận Olmsted đã dùng tiêu chuẩn chẩn đoán (gồm các mã ICD-9 và lấy mẫu có thẩm định từng trường hợp nghiêm ngặt bằng cách sử dụng thang điểm Framingham), tiêu chuẩn chẩn đoán này vẫn thống nhất xuyên suốt thời gian và có thể dựa vào đó để báo cáo xu hướng giảm của tỷ suất mới mắc một cách tương đối tin cậy đối với đoàn hệ dân số này. Vào giữa năm 2000 và năm 2010, tỷ suất mới mắc hiệu chỉnh theo tuổi và giới đã giảm đáng kể (từ 3,2 trường hợp giảm còn 2,2 trường hợp trên 1000 người-năm). Sự giảm tỷ suất mới mắc ghi nhận được nhiều hơn ở nhóm đối tượng có giới tính là nữ (43%) so với nam (29%) và ở các bệnh nhân HFrEF (45%) hơn là HFpEF (28%).
Con số phần trăm của tỷ suất mới mắc của các trường hợp HFpEF trong nghiên cứu đoàn hệ này có sự tăng đồng thời với sự tăng phần trăm các bệnh nhân suy tim có kèm tăng huyết áp (THA), rung nhĩ và đái tháo đường (ĐTĐ) 6. Trong nghiên cứu đoàn hệ PREVEND (Prevention of Renal and Vascular End-stage Disease) tại Hà Lan, theo dõi 8592 người tham gia giữa năm 1998 và năm 2010 kèm áp dụng tiêu chuẩn của Hội Tim Châu Âu (ESC) để chẩn đoán suy tim bởi một nhóm chuyên gia. Kết quả của nghiên cứu ghi nhận tỷ suất mới mắc suy tim ở nam là 3,7/1000 người-năm và ở nữ là 2,4/1000 người-năm, với 34% các trường hợp được phân loại là HFpEF 21,22.2 Tại các quốc gia Châu Á và Việt Nam Tỷ lệ hiện mắc của suy tim tại Châu Á gần như tương đương các tỷ lệ hiện mắc trên thế giới (khoảng 1% đến 3%), nhưng cũng có một số quốc gia ngoại lệ (Indonesia và Đài Loan với tỷ lệ hiện mắc lên đến > 5%). Tỷ lệ hiện mắc đã được báo cáo cao.
6 hơn ở nam so với nữ, với cụ thể tại Việt Nam là 59% nam và 41% nữ. Nhưng các bệnh nhân suy tim tại Châu Á xuất hiện có xu hướng trẻ hơn so với dân số tại Châu Âu và Châu Mỹ, phản ánh dân số bệnh nhân nói chung có độ tuổi trẻ hơn ở các quốc gia này. Các nguyên nhân suy tim đã được báo cáo với bệnh tim thiếu máu cục bộ (BTTMCB) là nguyên nhân thường gặp nhất của hầu hết các quốc gia (ngoại trừ Hồng Kông với THA là nguyên nhân thường gặp nhất). Tại Việt Nam, BTTMCB chiếm 32% nguyên nhân suy tim và là nguyên nhân hàng đầu, kế đó là bệnh cơ tim và THA với cùng tần suất là 21%.
Các yếu tố nguy cơ tim mạch như THA, ĐTĐ và rối loạn mỡ máu thì thường gặp trên các bệnh nhân suy tim tại các nước Châu Á và đặc biệt đáng kể ở Malaysia và Singapore 11. Kết quả từ nghiên cứu sổ bộ ASIAN-HF từ 11 quốc gia thuộc Châu Á đã cho thấy rằng các bệnh nhân nhập viện vì suy tim mất bù cấp thì trẻ hơn, và có biểu hiện các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng nặng hơn. Ngoài ra, nghiên cứu ghi nhận hai phần ba các bệnh nhân đã có các triệu chứng suy tim khi khai thác tiền căn và việc sử dụng siêu âm tim không thỏa đáng trên các bệnh nhân của khu vực Châu Á này (với chỉ 50% các bệnh nhân được thực hiện siêu âm tim). Kết quả của nghiên cứu cũng đã nhấn mạnh rằng có một kiểu hình Châu Á đặc trưng 23.
Trong một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu sử dụng dữ liệu từ nghiên cứu sổ bộ ASIAN-HF của tác giả Jasper Tromp và cộng sự đã cho ra một số kết quả đáng lưu ý từ các bệnh nhân Châu Á, họ đã phân các bệnh nhân suy tim thành 5 nhóm kiểu hình riêng biệt dựa trên bệnh đồng mắc hiện diện, bao gồm: nhóm cao tuổi/rung nhĩ, nhóm chuyển hóa (béo phì, ĐTĐ, THA), nhóm trẻ tuổi, nhóm thiếu máu cục bộ tim và nhóm ĐTĐ thể gầy (“lean”). Nghiên cứu ghi nhận rằng các bệnh nhân suy tim tại Châu Á có đặc diểm là nhiều bệnh đồng mắc kèm theo, với 81% bệnh nhân có tối thiểu 2 bệnh đồng mắc và số bệnh đồng mắc trung bình ghi nhận là 3. Trong các bệnh đồng mắc thì THA thường gặp nhất với 55%, bệnh mạch vành (BMV) với 46% và bệnh thận mạn (BTM) với 45%. Bên cạnh đó, nghiên cứu đã cho ra một số kết quả về đặc điểm riêng của các nhóm kiểu hình 24.1 Biểu đồ phân bố 5 nhóm kiểu hình suy tim giữa các vùng 24 Biểu đồ 1.2 Biểu đồ phân bố 5 nhóm kiểu hình suy tim giữa HFrEF và HFpEF 24 .1 Phân bố 5 nhóm kiểu hình suy tim của 11 quốc gia Châu Á 24 Kết cục ghi nhận giữa các nhóm cho thấy rằng nhóm ĐTĐ thể gầy có mối liên quan nhiều nhất với kết cục kết hợp giữa nhập viện vì suy tim hoặc tử vong do mọi nguyên nhân (TVDMNN).
Các bệnh nhân thuộc nhóm này có triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng xấu nhất, tần suất về tiền căn nhập viện vì suy tim cao nhất (69%) và con số tuyệt đối về bệnh đồng mắc cao nhất (trung vị là 5 bệnh). Đồng thời, các bệnh nhân thuộc nhóm này có chất lượng cuộc sống kém hơn so với nhóm trẻ tuổi khi xét về khía cạnh các triệu chứng tổng quát và việc giới hạn các hoạt động xã hội 24.3 Gánh nặng suy tim toàn cầu Trên thế giới, ước tính có khoảng 108 triệu đô la Mỹ dành cho suy tim mỗi năm, chiếm 2% tổng ngân sách dành cho sức khỏe 25. Sự thiếu hụt các dữ liệu dịch tễ học từ các quốc gia ngoài Châu Âu và Bắc Mỹ đang được bận tâm, đặc biệt là từ các quốc gia thu nhập trung bình và thấp hơn, ngay cả việc những quốc gia này ước đoán phải chống đỡ 80% gánh nặng bệnh lý tim mạch đem lại 26. Hiện tại, vẫn chưa có một nghiên cứu dựa trên dân số ước đoán tỷ lệ hiện mắc và tỷ suất mới mắc của vùng phía Bắc và vùng hạ Saharan của Châu Phi.
Theo các tài liệu ít ỏi có được, tỷ lệ hiện mắc của suy tim ở Châu Á được tìm thấy gần tương tự như của các quốc gia phương Tây, dao động trong khoảng 1% đến 1,3%, mặc dù hầu hết các nghiên cứu dựa trên dữ liệu hành chính 27,28,29. Một nghiên cứu siêu âm tim khảo sát HFpEF trên một nhóm. 9 dân số phía Bắc Trung Quốc đã cho thấy tỷ lệ hiện mắc là 3,5% 27. Tỷ lệ hiện mắc ở Châu Úc là 1% đến 2% dựa trên các cuộc khảo sát quốc gia, mặc dù các nghiên cứu về sinh hóa và siêu âm tim đã cho thấy rằng tỷ lệ hiện mắc ở các cộng đồng dân số bản địa là 5,3%, dù có độ tuổi trung bình mẫu dân số thấp hơn.
Trong đó hơn 60% các trường hợp được tìm thấy qua tầm soát mà trước đây chưa nhận diện được. Sự lựa chọn kết hợp các bệnh nhân suy tim từ các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng từ các vùng Trung Đông và Châu Á - Thái Bình Dương đã tăng từ 2% (năm 2005) lên 12,8% (năm 2011), trong khi sự góp phần của các bệnh nhân từ Bắc Mỹ và Tây Âu thì giảm cùng lúc. Chiều hướng thay đổi này đã nâng cao sự hiểu biết của các tác giả về những sự khác biệt của các kiểu hình suy tim theo từng vùng miền. Trong nghiên cứu PARADIGM-HF, các bệnh nhân HFrEF từ các vùng Châu Á – Thái Bình Dương và Châu Mỹ Latinh thì trẻ hơn 10 tuổi so với các bệnh nhân từ Châu Âu và Bắc Mỹ.