Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về nhồi máu não 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1989, đột quỵ não là tình trạng mất đột ngột hoặc cấp tính các chức năng của não, tồn tại trên 24 giờ hoặc dẫn tới tử vong trước 24 giờ, các triệu chứng thần kinh khu trú phù hợp với sự cấp máu và nuôi dưỡng của động mạch não, loại trừ yếu tố chấn thương sọ não.11 Đột quỵ não có hai loại là nhồi máu não và xuất huyết não. Định nghĩa nhồi máu não: Nhồi máu não xảy ra khi mạch máu não bị tắc, tổ chức não được tưới máu bởi động mạch đó không được nuôi dưỡng mà bị hoại tử; kèm theo các triệu chứng và hội chứng thần kinh khu trú phù hợp với vùng não bị tổn thương.
Phân loại nhồi máu não cấp 1. Theo nguyên nhân Hệ thống phân loại nhồi máu não theo cơ chế bệnh sinh (TOAST) gồm năm nhóm: Bệnh lý động mạch lớn, thuyên tắc từ tim, bệnh lý mạch máu nhỏ, nguyên nhân không xác định và nguyên nhân xác định khác. Theo giai đoạn Dựa theo mốc thời gian cũng như biến đổi tế bào não từ khi có triệu chứng khởi phát: Tối cấp; Cấp; Bán cấp; Mạn tính. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh 1.Chụp cắt lớp vi tính Chụp cắt lớp vi tính sọ não không cản quang Vai trò hàng đầu của chụp cắt lớp vi tính sọ não không tiêm thuốc cản quang là loại trừ chảy máu não, chảy máu dưới nhện, sau đó mới là phát hiện 4 các dấu hiệu thiếu máu sớm.
Các dấu hiệu này phụ thuộc vào thời gian từ lúc khởi phát đến khi được chụp cũng như mức độ nặng và vị trí của tổn thương. Trong điều trị thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch, chụp cắt lớp vi tính sọ não được xem là bắt buộc để loại trừ chảy máu não.14 Việc ra đời của các máy CLVT thế hệ mới với việc thay đổi cửa sổ thăm khám sẽ giúp tăng độ nhạy trong việc phát hiện các tổn thương thiếu máu trong giai đoạn này.15 Sau đó trong khoảng 6-12 giờ tiếp theo, hầu hết người bệnh có nhồi máu tiến triển với các vùng tổn thương giảm tỷ trọng đều có thể dễ dàng phát hiện trên phim chụp CLVT. Tuy nhiên khi quan sát rõ các hình ảnh này cũng có nghĩa nhu mô não đã hoại tử và không còn khả năng hồi phục. Các dấu hiệu giúp chẩn đoán nhồi máu sớm có thể chia thành hai loại là phù não và huyết khối trong lòng mạch.
Các dấu hiệu sớm của nhồi máu não trên chụp CLVT sọ não bao gồm: - Dấu hiệu tăng tỷ trọng tự nhiên của động mạch. - Giảm tỉ trọng nhu mô não gồm: + Giảm tỷ trọng nhân bèo. + Dấu hiệu ruy - băng thùy đảo: Giảm tỉ trọng và xóa các rãnh thùy đảo. + Mất phân biệt chất xám và chất trắng.
+ Mất các rãnh cuộn não.16 Chụp CLVT sọ não không cản quang có thể thực hiện nhanh chóng, nhằm mục đích theo dõi tiến triển nhồi máu não ở những người bệnh được dùng thuốc tiêu sợi huyết nhằm xác định tình trạng chảy máu não sau điều trị thuốc. Chụp cắt lớp vi tính mạch não Ngày nay, chụp CLVT dựng hình mạch máu não đã trở thành công cụ ngày càng có hiệu quả và không thể thiếu được trong chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não tối cấp. Kỹ thuật này giúp khảo sát toàn bộ hệ thống mạch máu não nhờ khả năng tái tạo theo ba mặt phẳng với độ phân giải cao giúp xác định chính xác vị trí và tình trạng mạch máu tắc. Ngoài ra, CLVT mạch não có thể 5 giúp xác định một số nguyên nhân gây nhồi máu như bóc tách hay xơ vữa thành mạch, đặc biệt ở các đối tượng cao tuổi và lập bản đồ mạch máu giúp các nhà can thiệp trong các trường hợp tắc động mạch lớn có chỉ định lấy huyết khối cơ học.
Khi so sánh với chụp mạch não số hóa xóa nền DSA, chụp CLVT mạch máu não có thể cho độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng đạt 90 - 97% khi đánh giá tình trạng hẹp tắc động mạch não. Chụp cắt lớp vi tính tưới máu não Chụp cắt lớp vi tính tưới máu não mô tả tình trạng tưới máu bằng cách tiêm thuốc cản quang vào mạch máu và thiết lập biểu đồ các thông số thu thập được với mục đích xác định vùng nguy cơ trong nhồi máu. Các thông số này sau đó sẽ được tính toán bằng các thuật toán và thể hiện dưới dạng thông số mã hóa màu sắc trên ảnh thu được. Nền tảng để đánh giá sự tưới máu não là thể tích trung tâm của huyết động học não bộ, được gọi là lưu lượng máu não.
Lưu lượng máu não có liên quan với thể tích máu não và thời gian dẫn truyền trung bình qua mạng lưới mao mạch não. Chụp CLVT tưới máu được thực hiện ngay sau chụp CLVT thường quy hoặc sau CVLT thường quy/CLVT mạch não. Đối với kỹ thuật này, người ta tiêm nhanh liều duy nhất khoảng 50ml thuốc cản quang qua đường tĩnh mạch với tốc độ 5ml/s. Các lớp cắt sau đó được thực hiện qua độ dày 8-12mm của vùng hạch nền.
Dữ liệu hình ảnh về tưới máu thu được bằng cách tái tạo đường cong biểu diễn thời gian của động mạch và tĩnh mạch. Dựa trên việc phân tích các hình ảnh cong xoắn sẽ cho các kết quả về thời gian dẫn truyền trung bình, thể tích máu não và lưu lượng máu não. Chụp CLVT tưới máu đặc biệt có ích trong trường hợp ra quyết định điều trị khi không xác định được thời gian khởi phát nhồi máu não. Nhược điểm của nó cũng giống như cộng hưởng từ, chất lượng hình ảnh bị ảnh hưởng bởi cử 6 động của người bệnh, thời gian chụp nhanh nhưng thời gian xử lý hình ảnh sau chụp dài nên không được áp dụng một cách rộng rãi.
Thang điểm ASPECTS (Alberta Stroke Program Early CT Score): Do hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ não giai đoạn sớm thường không có giới hạn rõ ràng. Thang điểm ASPECTS được dùng để đánh giá bán định lượng diện nhồi máu dựa vào vị trí tổn thương rải rác trên hình ảnh CLVT sọ ở những trường hợp nhồi máu do tắc động mạch não giữa. Chụp cộng hưởng từ sọ não Đánh giá tình trạng nhu mô não Các dấu hiệu nhồi máu sớm trên CLVT giai đoạn tối cấp trước 6 giờ rất kín đáo và khó phát hiện. Tuy nhiên cộng hưởng từ sọ não với chuỗi xung khuếch tán có thể phát hiện các tổn thương thiếu máu trong giai đoạn rất sớm này.
Bình thường một quy trình chụp sọ não với các chuỗi xung cơ bản, chuỗi xung khuếch tán mất khoảng 20 - 30 phút. Trong quy trình đánh giá nhồi máu não tối cấp, để tiết kiệm thời gian thường chỉ tiến hành chụp CHT với các chuỗi xung T2*, FLAIR và DWI Đánh giá tình trạng tưới máu não Chụp CHT khuếch tán tuy có khả năng xác định vị trí nhồi máu trong Chụp CHT khuếch tán tuy có khả năng xác định vị trí nhồi máu trong giai đoạn tối cấp nhưng không có khả năng phân biệt giữa thiếu máu cục bộ não không hồi phục với dạng có hồi phục. Vấn đề này được giải quyết bằng sự kết hợp với CHT tưới máu. CHT tưới máu là kỹ thuật hiệu quả nhất trong việc xác định vùng “nguy cơ” của nhồi máu, được thực hiện bằng việc sử dụng thuốc đối quang từ hay bằng kỹ thuật đánh dấu hướng quay động mạch.
Kỹ thuật tưới máu não có sử dụng thuốc đối quang từ được thực hiện bằng cách ghi lại sự thay đổi tín hiệu của nhu mô não theo thời gian sau khi tiêm nhanh liều duy nhất chất đối quang 7 từ, sau đó thiết lập biểu đồ cường độ tín hiệu theo thời gian. Bằng việc sử dụng kỹ thuật phân tích các hình ảnh cong xoắn của đường biểu diễn tương tự CLVT tưới máu, người ta xác định được các thay đổi về lưu lượng máu cũng như thể tích tưới máu não. Cụ thể hơn, vùng bất tương xứng giữa CHT tưới máu và CHT khuếch tán chứng tỏ tồn tại sự giảm tưới máu ở mô và được xem là tương ứng với vùng não “nguy cơ” đang nằm trong nguy cơ thiếu máu thực sự nhưng vẫn có khả năng hồi phục. Ưu điểm của CHT tưới máu là có thể khảo sát toàn bộ não vùng trên và dưới lều và vùng hố sau với diện thăm khám khoảng 2 - 4cm khu trú vùng cấp máu của động mạch não giữa trong CLVT tưới máu.
Bên cạnh đó, CHT tưới máu đặc biệt có ích trong trường hợp người bệnh suy thận hay đái tháo đường nặng, cần hạn chế sử dụng thuốc cản quang khi thực hiện chụp CLVT.Siêu âm Doppler mạch Siêu âm Doppler xuyên sọ rất có ích trong việc đánh giá dòng chảy của ĐM não giữa, ĐM não trước, ĐM não sau và ĐM sống nền. Nó có thể phát hiện các tổn thương hẹp ĐM nội sọ lớn do có tăng vận tốc dòng chảy tâm thu. Đồng thời có thể dùng siêu âm Doppler xuyên sọ để đánh giá cũng như theo dõi tái thông mạch não theo thời gian thực ở các người bệnh sau điều trị tái thông/tái tưới máu. Điều trị Người bệnh thiếu máu não cục bộ cần được đánh giá và điều trị ngay nhằm tăng cơ hội cứu sống các vùng não bị tổn thương thiếu máu và giảm nguy cơ biến chứng, di chứng.
Điều trị nội khoa chung Hội Tim mạch và hội Đột quỵ Hoa Kỳ đã đưa ra một số điều trị nội khoa cơ bản đối với người bệnh đột quỵ thiếu máu não cấp tính như sau: 18 8 Các người bệnh nhồi máu não cấp phải được theo dõi và đánh giá liên tục về các tình trạng đường thở, hô hấp và tuần hoàn. Cần phải duy trì tốt đường thở, đảm bảo đủ oxy để đảm bảo thành công cho điều trị. Chỉ đặt ống nội khí quản khi người bệnh có suy giảm ý thức hoặc tổn thương thân não gây nguy cơ mất bù về hô hấp. Đảm bảo duy trì SpO2 >94%.
Kiểm soát tốt huyết áp nếu người bệnh có tăng huyết áp. Điều trị hạ áp nếu huyết áp tâm thu >220mmHg hoặc huyết áp tâm trương >120mmHg ở những người bệnh không điều trị thuốc tiêu sợi huyết. Nếu người bệnh được điều trị thuốc tiêu sợi huyết, cần điều trị để đưa huyết áp tâm thu <185mmHg và huyết áp tâm trương <110mmHg trước khi tiêm thuốc và duy trì dưới 180/105 mmHg ít nhất trong vòng 24 giờ sau điều trị thuốc tiêu sợi huyết. Cần điều trị hạ thân nhiệt nếu người bệnh có sốt trên 38oC.
Các nguyên nhân gây sốt cần được xác định và điều trị.