CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh suy tim 1. Định nghĩa suy tim Suy tim là một hội chứng lâm sàng do biến đổi cấu trúc và/hoặc chức năng của tim do nhiều nguyên nhân và bệnh học khác nhau. Hậu quả là tăng áp lực trong buồng tim và/hoặc giảm cung lượng tim khi gắng sức hay khi nghỉ.
Xác định nguyên nhân suy tim là rất cần thiết, từ đó có hướng điều trị thích hợp. Phần lớn suy tim là do rối loạn chức năng cơ tim: tâm thu, tâm trương hoặc cả hai. Tuy nhiên bệnh lý tại van tim, màng ngoài tim, màng trong tim, một số bất thường nhịp và dẫn truyền cũng góp phần dẫn đến suy tim [26]. Triệu chứng cơ năng và/hoặc thực thể của suy tim do bất thường cấu trúc và/hoặc chức năng của tim Xác định bởi ít nhất một trong các dữ kiện Tăng nồng độ peptide bài niệu hoặc Chứng cứ khách quan của sung huyết phổi hoặc sung huyết hệ thống Hình 1.
Định nghĩa toàn cầu về suy tim [26] Tùy vào thời gian, đặc điểm và mức độ của triệu chứng mà phân thành suy tim cấp và suy tim mạn tính: - Suy tim cấp là tình trạng mà triệu chứng và dấu chứng suy tim mất bù mới khởi phát hay nặng dần lên đòi hỏi nhập viện và điều trị khẩn trương hay cấp cứu. Suy tim cấp gồm tình trạng phù phổi cấp, suy tim và đợt mất bù cấp của suy tim mạn. 3 - Suy tim mạn tính là suy tim tiến triển từ từ, có thể xảy ra sau suy tim cấp hoặc không, kéo dài nhiều tháng, nhiều năm như suy tim trong các bệnh tim mắc phải, các bệnh tim bẩm sinh, suy tim sau nhồi máu cơ tim, trong bệnh cơ tim, bệnh tăng huyết áp,…suy tim mạn tính có diễn biến lâu dài. Khi người bệnh được điều trị tốt, tình trạng suy tim không xấu đi trong tối thiểu một tháng thì được gọi là suy tim ổn định.
Khi các triệu chứng tiến triển xấu đi được gọi là suy tim mất bù và kết quả có thể xảy ra đột ngột hoặc từ từ, khiến người bệnh phải nhập viện điều trị. Thực tế, không có một mốc thời gian cụ thể để chẩn đoán suy tim mạn tính, thường khi người bệnh được chẩn đoán suy tim trên lâm sàng mà không có các triệu chứng của suy tim cấp thì được xem là suy tim mạn tính. Phân loại suy tim Trên thế giới và tại Việt Nam để đánh giá mức độ nặng của suy tim thường theo phân độ NYHA dựa vào mức nặng của triệu chứng và mức hạn chế hoạt động thể lực và được chia thành 4 độ theo mức độ tăng dần. Chi tiết được thể hiện ở bảng 1.
Phân độ NYHA [26] Độ I Không hạn chế. Vận động thể lực thông thường không gây mệt, khó thở hay hồi hộp. Độ II Hạn chế nhẹ vận động thể lực. Người bệnh khỏe khi nghỉ ngơi.
Vận động thể lực thông thường dẫn đến mệt, hồi hộp, khó thở. Độ III Hạn chế nhiều vận động thể lực. Mặc dù người bệnh khỏe khi nghỉ ngơi nhưng chỉ cần vận động nhẹ đã có mệt, hồi hộp, khó thở. Độ IV Không vận động thể lực nào mà không gây khó chịu.
Triệu chứng cơ năng của suy tim xảy ra ngay cả khi nghỉ ngơi, chỉ một vận động thể lực nhẹ cũng làm triệu chứng cơ năng gia tăng. Nguyên nhân Các nguyên nhân phổ biến nhất của suy tim được trình bày trong Bảng 1. Ở các nước phương Tây và các nước phát triển, bệnh động mạch vành (CAD) và tăng huyết áp chiếm tỷ lệ chủ yếu. Với người bệnh STPSTM giảm nhẹ và STPSTM giảm có tỷ lệ mắc bệnh mạch vành cao hơn so với những người STPSTM bảo tồn [26].
Các nguyên nhân của suy tim [26] Nguyên nhân Các bệnh cảnh lâm sàng thường gặp Bệnh mạch vành Nhồi máu cơ tim Đau thắt ngực hay "tương tự đau thắt ngực" Rối loạn nhịp Tăng huyết áp Suy tim với chức năng tâm thu bảo tồn. Tăng huyết áp ác tính/phù phổi cấp Bệnh van tim Bệnh van tim tiên phát như hẹp van động mạch chủ Bệnh van tim thứ phát như hở van chức năng Bệnh van tim bẩm sinh Rối loạn nhịp Nhịp nhanh nhĩ Nhịp nhanh thất Bệnh cơ tim Tất cả Bệnh cơ tim dãn nở (giãn) Bệnh cơ tim phì đại Bệnh cơ tim hạn chế Bệnh cơ tim do rối loạn nhịp thất phải, Bệnh cơ tim chu sản Hội chứng Takotsubo Nhiễm độc: rượu, cocain, sắt, đồng. Bệnh tim bẩm sinh Chuyển vị đại động mạch bẩm sinh có sửa chữa/đã phẫu thuật sửa chữa các shunt. Tứ chứng Fallot đã mổ.
Nhiễm trùng Viêm cơ tim do virus Bệnh Chagas HIV Bệnh Lyme 1. Chẩn đoán suy tim Chẩn đoán suy tim dựa trên sự kết hợp các triệu chứng cơ năng, thực thể và các xét nghiệm, thăm dò cận lâm sàng. Người bệnh được chẩn đoán suy tim khi có triệu chứng cơ năng của suy tim và/hoặc triệu chứng thực thể của suy tim kèm theo bằng chứng khách quan của rối loạn chức năng tim. Biểu hiện lâm sàng của người bệnh suy tim phần lớn không đặc hiệu do các triệu chứng có thể gặp ở các bệnh lý khác.
Một số triệu chứng tương đối đặc hiệu như tĩnh mạch cổ nổi, diện đập của mỏm tim rộng, hay tiếng ngựa phi lại đòi hỏi kinh nghiệm 5 của người thực hiện thăm khám.3 sẽ liệt kê các triệu chứng cơ năng và thực thể của suy tim, bao gồm nhóm các triệu chứng điển hình và không điển hình, nhóm có giá trị chẩn đoán cao hơn và nhóm các triệu chứng không đặc hiệu. Các dấu hiệu và triệu chứng thực thể của suy tim [26] Các triệu chứng cơ năng của suy tim Các triệu chứng thực thể của suy tim Điển hình Đặc hiệu - Khó thở - Tĩnh mạch cổ nổi - Cơn khó thở kịch phát về đêm - Phản hồi gan – tĩnh mạch cổ dương tính - Giảm khả năng gắng sức - Tiếng ngựa phi - Mệt mỏi - Tăng diện đập của mỏm tim - Yếu - Tăng thời gian nghỉ hồi phục giữa hai lần gắng sức - Phù mắt cá chân Ít điển hình Kém đặc hiệu - Ho về đêm - Tăng cân (> 2kg/tuần) - Thở rít - Sụt cân (trong suy tim nặng) - Cảm giác chướng bụng - Teo cơ (suy kiệt) - Mất cảm giác ngon miệng - Có tiếng thổi ở tim - Lú lẫn (đặc biệt ở người già) - Phù ngoại vi (mắt cá chân, vùng chậu - Trầm cảm hông, bìu) - Hồi hộp, đánh trống ngực - Ran ở phổi - Chóng mặt - Tràn dịch màng phổi - Ngất - Nhịp tim nhanh - Cảm giác khó thở khi cúi người - Loạn nhịp tim - Thở nhanh - Thở Cheyne – Stokes - Gan to - Cổ chướng - Đầu chi lạnh - Thiểu niệu - Mạch nhanh, nhỏ. Điều trị suy tim Mục tiêu điều trị suy tim: - Cải thiện triệu chứng, làm chậm tiến triển xấu đi của bệnh. - Nhận biết và điều trị các nguyên nhân và yếu tố khởi kích của suy tim cấp/mất bù.
- Kéo dài tuổi thọ - Giảm tái nhập viện - Cải thiện chất lượng cuộc sống. Điều trị suy tim bao gồm: điều trị không dùng thuốc; điều trị bằng thuốc; cấy các thiết bị hỗ trợ: ICD, CRT, LVAD và ghép tim, kiểm soát triệu chứng và chăm sóc cuối đời. Điều trị không dùng thuốc: - Điều trị không dùng thuốc hay thay đổi lối sống là cơ bản trong mọi giai đoạn của suy tim: giảm cân, ngưng thuốc lá và đồ uống có cồn, giảm muối (bớt natri), tập thể dục, hạn chế nước (suy tim nặng) [38]. - Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) khuyến nghị: Ít nhất 30 phút mỗi ngày và 150 phút mỗi tuần, tập thể dục cường độ vừa phải như làm vườn, đi bộ nhanh, khiêu vũ hoặc đánh tennis đôi.
Kết quả có thể được chia thành ba phiên 10 phút hoặc hai phiên 15 phút nếu điều đó dễ dàng hơn để phù hợp với lịch trình bận rộn hoặc 15 phút mỗi ngày (75 phút mỗi tuần) tập thể dục cường độ mạnh như chạy, bơi, đi bộ đường dài. - Kiểm soát cân nặng có thể tạo ra sự khác biệt lớn trong việc ngăn ngừa suy tim tiến triển và tăng cường sức khỏe tim mạch nói chung. Bên cạnh đó, người bệnh suy tim cần có một chế độ ăn uống lành mạnh, bao gồm: nhiều trái cây tươi và rau quả trong mỗi bữa ăn, ăn thịt nạc hay thịt gia cầm đã được loại bỏ da, các loại cá giàu chất béo Omega-3 lành mạnh, các loại hạt và dầu ô liu, các loại đậu, ngũ cốc nguyên hạt giàu chất xơ, hạn chế chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa, natri, thịt đỏ và các loại protein khác, nước ngọt, bánh nướng và các loại thực phẩm và đồ uống khác có thêm một lượng lớn đường tinh luyện [38]. Lượng natri cao trong chế độ ăn uống có thể gây tích tụ chất lỏng trong cơ thể, do đó gây căng thẳng quá mức cho hệ thống tim mạch.
Mục tiêu là giảm lượng natri tiêu thụ xuống còn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày hoặc 1.500 mg cho những người có nguy cơ cao bị tăng huyết áp [38]. 7 Điều trị bằng thuốc: Lợi ích của thuốc điều trị suy tim là kéo dài đời sống, giảm số lần nhập viện và kiểm soát triệu chứng của bệnh. Các thuốc nền tảng điều trị suy tim: các khuyến cáo gần đây nhấn mạnh đến vai trò của tứ trụ (4 nhóm thuốc chính) trong điều trị người bệnh suy tim đặc biệt là STPSTM giảm - Thuốc ức chế hệ RAAS: + Thuốc ức chế men chuyển Angiotensin (ACEi): Ức chế men chuyển angiotensin, giảm sản xuất angiotensin II, giãn mạch, giảm tải cho tim. + Thuốc ức chế thụ thể Angiotensin II (ARBs): Ức chế thụ thể angiotensin II, giãn mạch, giảm tải cho tim.
+ Thuốc ức chế thụ thể Angiotensin và Neprilysin (ARNI): ARNI kết hợp giữa ức chế thụ thể angiotensin II và ức chế neprilysin, giúp giãn mạch, giảm tải cho tim, và tăng lợi tiểu natri. Neprilysin là enzym phân giải các peptid có lợi như natriuretic peptide. - Thuốc chẹn beta giao cảm: Ức chế thụ thể beta-adrenergic, giảm nhịp tim, giảm co bóp cơ tim. - Thuốc kháng Aldosterone: Ức chế tác động của aldosterone, giảm tái hấp thu natri và nước, giảm tải cho tim.
- Thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển Na-Glucose: Ức chế SGLT2 trong thận, giảm tái hấp thu glucose và natri, dẫn đến tăng bài tiết glucose qua nước tiểu, giảm đường huyết và giảm tải cho tim.