MỞ ĐẦU Trẻ em là tƣơng lai của nhân loại, là hạnh phúc của gia đình. Để thực hiện tốt việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em, cần phải có sự tham gia của toàn xã hội của các ngành giáo dục, y tế … đồng thời phải biết đƣợc tình trạng phát triển của trẻ em trong thời điểm hiện tại cũng nhƣ các quy luật phát triển về hình thái và tinh thần, khi đó mới có thái độ, chiến lƣợc bảo vệ và chăm sóc trẻ em đƣợc tốt, giúp sự phát triển thể chất và tinh thần một cách toàn diện. Việc nghiên cứu các chỉ số sinh học và chức năng sinh lý các cơ quan của trẻ mầm non là rất cấp thiết cho việc hoạch định những chiến lƣợc sớm về con ngƣời và lựa chọn phƣơng pháp giáo dục đạt hiệu quả cao nhằm phát triển thế hệ tƣơng lai một cách tốt nhất. Trẻ em luôn giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của gia đình cũng nhƣ cộng đồng ngƣời Việt Nam và luôn là vấn đề đƣợc xã hội quan tâm, đặc biệt là việc chăm sóc – giáo dục ngay từ khi còn nhỏ, bởi vì trẻ em là tài sản, là công dân tƣơng lai của đất nƣớc, đó là những con ngƣời sau này sẽ kế tục sự nghiệp của cha ông.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mĩ của trẻ. Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục thì trẻ đƣợc tiếp cận với bậc học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo. Để tạo ra những con ngƣời phát triển toàn diện, đáp ứng các yêu cầu của xã hội đề ra thì một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu là phải có một sức khỏe tốt. Sự phát triển cơ thể của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ di truyền và môi trƣờng sống (dinh dƣỡng, gia đình, xã hội, văn hoá, giáo dục…).
Trong đó dinh dƣỡng đƣợc xem là một yếu tố có tác động trực tiếp, mạnh 1 mẽ đến sự phát triển cơ thể của trẻ nhỏ, đƣợc dùng để đánh giá sự phát triển cơ thể của trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi. Việc nghiên cứu và theo dõi sự phát triển thể chất của trẻ em, nhất là trẻ em lứa tuổi mầm non từ 3 đến 6 tuổi là cần thiết nhằm đánh giá đúng thực trạng về thể lực, góp phần làm cơ sở cho việc theo dõi và đề xuất các giải pháp tăng cƣờng sức khỏe lứa tuổi đặc biệt này. Tổ chức Y tế Thế giới (1990) ƣớc tính có khoảng 500 triệu trẻ em bị thiếu dinh dƣỡng trên phạm vi toàn cầu, khoảng 150 triệu trẻ em dƣới 5 tuổi bị suy dinh dƣỡng (SDD) thể nhẹ cân và hơn 20 triệu trẻ em bị SDD nặng [71, 72, 73]. Theo kết quả điều tra quốc gia từ năm 1980 – 1992 của 79 nƣớc đang phát triển cho thấy tỷ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân là 35,8%, tỷ lệ trẻ em còi là 42,7%, tỷ lệ trẻ em bị còm là 9,2%.
Trong đó Châu Á có tỷ lệ SDD cao nhất so với các châu lục khác: 42% trẻ SDD thể nhẹ cân, 47,1% trẻ em còi và 10,8% trẻ em còm [61]. Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển về kinh tế, mô hình tình trạng dinh dƣỡng của ngƣời Việt Nam đang thay đổi theo hƣớng dinh dƣỡng chuyển tiếp. Chúng ta phải chịu gánh nặng kép về dinh dƣỡng: một mặt phải khắc phục tình trạng SDD hiện vẫn còn chiếm tỉ lệ cao, mặt khác đó là tình trạng thừa cân, béo phì. SDD vẫn đang là một vấn đề sức khỏe cộng đồng của Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo điều tra dinh dƣỡng hàng năm của Viện Dinh dƣỡng cho thấy tỉ lệ SDD của trẻ em Việt Nam có giảm qua các năm nhƣng nhiều khu vực vẫn có tỷ lệ trẻ SDD cao. Tỷ lệ trẻ SDD đã giảm nhiều nếu tính từ 1985 (51,5%) đến 1995 (44,9%) mỗi năm giảm trung bình 0,66%. Từ năm bắt đầu Kế hoạch Quốc gia Dinh dƣỡng (1995), chỉ sau 4 năm tỷ lệ SDD đã giảm xuống còn 36,7% (1999), trung bình mỗi năm giảm 2%, là tốc độ đƣợc quốc tế 2 công nhận là giảm nhanh. Nhƣ vậy, mỗi năm đã đƣa khoảng gần 200 ngàn trẻ dƣới 5 tuổi thoát khỏi SDD.
Tỷ lệ trẻ dƣới 5 tuổi bị SDD cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi) ở các năm 2000, 2005, 2010 và 2013 lần lƣợt là 33,8%, 25,2%, 17,5% và 15,3% [9]. Tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến tình trạng SDD (nhƣ các yếu tố về kinh tế, xã hội …) sẽ cung cấp những thông tin quan trọng phục vụ cho chiến lƣợc can thiệp phòng chống SDD và đặc biệt là góp phần nâng cao thể trạng cho trẻ em nƣớc ta. Muốn có biện pháp can thiệp kịp thời thì cần phải đánh giá đƣợc tình trạng suy dinh dƣỡng của trẻ. Khu vực xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định là khu vực chuyển tiếp giữa nông thôn và thành thị, hàng năm vẫn còn tình trạng trẻ em suy dinh dƣỡng, vì vậy cần phải khảo sát và đánh giá tình trạng SDD để có biện pháp xử lý kịp thời.
Chính vì các lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ mầm non xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” với các mục tiêu sau: - Tìm hiểu các chỉ số nhân trắc bao gồm chiều cao, cân nặng, vòng cánh tay trái duỗi và xây dựng phƣơng trình xác định mối tƣơng quan giữa các chỉ số nhân trắc của trẻ mầm non tại xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. - Xác định tỷ lệ suy dinh dƣỡng của trẻ mầm non tại địa bàn nghiên cứu. - Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dƣỡng của trẻ mầm non xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. - Xây dựng phƣơng trình hồi quy đa biến để dự báo tình trạng suy dinh dƣỡng dựa vào các yếu tố có thể ảnh hƣởng đến tình trạng dinh dƣỡng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG 1. Những nghiên cứu trên thế giới Năm 1754 Christian Friedrich Jumpert (Đức), đã công bố công trình nghiên cứu cắt ngang đầu tiên về tăng trƣởng ở trẻ em trong đó có trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao của trẻ em [trích theo 25]. Nhƣng phải đến năm 1925 R.
Martina (Đức) đã đề xuất phƣơng pháp và dụng cụ để đo kích thƣớc cơ thể con ngƣời. Từ đó trên thế giới đã có nhiều nhà nghiên cứu lĩnh vực này. Nhƣng phƣơng pháp của R. Martina ngày càng đƣợc bổ sung và hoàn thiện [23].
Cũng trong năm 1925, Tổ chức Y tế của Liên minh Quốc gia nghiên cứu về mối liên quan dinh dƣỡng và sức khỏe cộng đồng và J. Boyd Orrda đã phát hiện ra mối liên quan trực tiếp giữa tầng lớp xã hội và sức khỏe của họ. Tác giả Brnet và Aykroyd cho rằng suy thoái kinh tế 1930 làm cho ngƣời nghèo bị SDD nhiều nhất [trích theo 25].William phát hiện ra bệnh gọi là SDD thiếu Protein – năng lƣợng thể phù (Kwashiokor) [trích theo 25]. Năm 1942 Daray Thompson đã đƣa khái niệm tốc độ tăng trƣởng cùng 2 đại lƣợng của tăng trƣởng chiều cao và cân nặng nhƣ những chỉ tiêu về sức khỏe [ trích theo 21].
Năm 1984 WHO đã tổ chức một hội nghị về dinh dƣỡng ở Fiji để đánh giá tình hình và kinh nghiệm phòng chống dinh dƣỡng ở các nƣớc trong khu vực Tây Thái Bình Dƣơng. Hội nghị kết thúc đã đƣa ra một quyết định quan trọng: “Suy dinh dƣỡng trẻ em có rất nhiều nguyên nhân, cho nên việc phòng chống suy dinh dƣỡng trẻ em không thể hoạt động 4 riêng rẽ của từng ngành, ngành nhi, ngành phòng dịch, ngành nông nghiệp và chế biến thực phẩm, mà phải do những ngƣời cầm đầu các nƣớc đứng ra nhận trách nhiệm phối hợp các ngành và giáo dục vận động nhân dân, các gia đình tự giác tham gia bằng khả năng và phƣơng tiện hiện có của mình”. Hội nghị đã đƣa ra việc phòng chống SDD bắt đầu từ thời kì nhi khoa chuyển sang thời kì phòng dịch [trích theo 25]. Năm 1990, WHO thành lập Nhóm nghiên cứu về tăng trưởng của trẻ nhằm đƣa ra những khuyến cáo cho việc sử dụng và giải thích một cách hợp lý về các kích thƣớc nhân trắc áp dụng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu này: dữ liệu tham chiếu của Trung tâm Quốc gia về Thống kê Y học của Mỹ/WHO có những sai sót và thất bại trong việc dự đoán một cách đầy đủ sự tăng trƣởng về mặt thể chất của trẻ. Những hạn chế này đã làm cản trở công tác quản lý dinh dƣỡng hợp lý của trẻ nhỏ. Vì vậy cần phải có những đƣờng tăng trƣởng mới để đáp ứng cho nhu cầu trên [82]. Năm 1995, WHO đã đề nghị lấy Quần thể NCHS (National Centre of Health Satistics) của Hoa Kỳ làm Quần thể tham chiếu.
Từ trƣớc những năm 90 của thế kỷ trƣớc, đề nghị này đƣợc ứng dụng rộng rãi tại nhiều nƣớc trên thế giới trong đó có cả Việt Nam. Trong đó, WHO lƣu ý rằng không nên coi quần thể tham chiếu là chuẩn mà chỉ là cơ sở để đƣa ra các nhận định thuận tiện cho các so sánh trong nƣớc và quốc tế [75]. Năm 2006, WHO đã công bố bộ chuẩn tăng trƣởng thứ nhất của trẻ dƣới 5 tuổi, gồm các chuẩn về chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi (cân nặng/tuổi), cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) và BMI theo tuổi (BMI/tuổi) [77]. 5 Năm 2007, WHO tiếp tục công bố bộ chuẩn tăng trƣởng thứ 2 cho trẻ dƣới 5 tuổi gồm các chuẩn về vòng đầu theo tuổi (vòng đầu/tuổi), vòng cánh tay trái duỗi theo tuổi (VCTTD/tuổi), bề dày lớp mỡ dƣới da tại cơ tam đầu cánh tay theo tuổi và bề dày lớp mỡ dƣới mỏm bả theo tuổi [81].
Năm 2009, nghiên cứu của Shankar Prinja và cộng sự ở Ấn Độ sử dụng tiêu chuẩn của WHO để đánh giá tình trạng dinh dƣỡng của trẻ dƣới 5 tuổi cho thấy: với cùng một quần thể trẻ dƣới 5 tuổi, tỷ lệ trẻ nhẹ cân khi áp dụng chuẩn tăng trƣởng mới của WHO thấp hơn so với khi áp dụng chuẩn của Viện Nhi khoa Ấn Độ [69]. Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho biết hơn 1/4 trẻ em dƣới 5 tuổi ở các nƣớc đang phát triển bị thiếu cân, cuộc sống đang bị đe dọa.