Luận án tiến sĩ tình trạng nhạy cảm ngà răng ở thành phố hcm yếu tố nguy cơ hiệu quả điều trị bằng các loại thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tình trạng nhạy cảm ngà răng tại TP.HCM, yếu tố nguy cơ và hiệu quả điều trị bằng thuốc đánh răng chống nhạy cảm.

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

172
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TIẾNG ANH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm nhạy cảm ngà, dịch tễ học, phân bố nhạy cảm ngà, tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt nam

1.2. Cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân, yếu tố khởi phát nhạy cảm ngà và một số yếu tố nguy cơ liên quan đến nhạy cảm ngà

Tóm tắt

I. Tình trạng nhạy cảm ngà răng tại TP

Nghiên cứu tập trung vào tình trạng nhạy cảm ngà răng tại TP.HCM, một vấn đề sức khỏe răng miệng phổ biến. Nhạy cảm ngà răng được định nghĩa là cơn đau nhói thoáng qua khi ngà răng tiếp xúc với các kích thích ngoại lai như nhiệt độ, hóa chất, hoặc cọ xát. Tại TP.HCM, tỷ lệ người mắc nhạy cảm ngà răng khá cao, đặc biệt ở nhóm tuổi từ 30-40. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tụt lợimòn men răng là hai yếu tố chính dẫn đến tình trạng này. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, khiến người bệnh e ngại việc vệ sinh răng miệng và khám nha khoa.

1.1. Dịch tễ học nhạy cảm ngà răng

Theo các nghiên cứu dịch tễ, nhạy cảm ngà răng chiếm tỷ lệ từ 4-74% dân số, tùy thuộc vào phương pháp khảo sát. Tại TP.HCM, tỷ lệ này dao động từ 30-50%, với sự khác biệt giữa các nhóm tuổi và giới tính. Nữ giới có tỷ lệ mắc cao hơn nam giới, đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên. Các yếu tố như chải răng không đúng cách, sử dụng thực phẩm chua, và bệnh nha chu được xác định là nguyên nhân chính gây ra nhạy cảm ngà răng.

1.2. Phân bố nhạy cảm ngà răng

Nhạy cảm ngà răng thường xuất hiện ở vùng cổ răng, đặc biệt là mặt ngoài của răng hàm nhỏ và răng hàm lớn thứ nhất. Các nghiên cứu cho thấy, hơn 90% trường hợp nhạy cảm ngà răng xảy ra do tụt lợimất lớp men răng. Ngoài ra, mảng bám răng cũng được xem là yếu tố góp phần làm tăng nguy cơ nhạy cảm ngà răng.

II. Yếu tố nguy cơ nhạy cảm ngà răng

Nghiên cứu đã xác định các yếu tố nguy cơ nhạy cảm ngà răng chính bao gồm tụt lợi, mòn men răng, chải răng không đúng cách, và sử dụng thực phẩm chua. Tụt lợi là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến nhạy cảm ngà răng, đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên. Mòn men răng do chải răng quá mạnh hoặc sử dụng bàn chải cứng cũng làm tăng nguy cơ này. Ngoài ra, thực phẩm chuanước ngọt có gas có thể làm mòn bề mặt răng, dẫn đến nhạy cảm ngà răng.

2.1. Tụt lợi và mòn men răng

Tụt lợimòn men răng là hai yếu tố chính gây ra nhạy cảm ngà răng. Tụt lợi làm lộ ngà răng, trong khi mòn men răng làm mất lớp bảo vệ tự nhiên của răng. Cả hai yếu tố này đều làm tăng độ nhạy cảm của răng khi tiếp xúc với các kích thích ngoại lai.

2.2. Chải răng không đúng cách

Việc chải răng không đúng cách, đặc biệt là sử dụng bàn chải cứng và chải răng theo chiều ngang, là nguyên nhân phổ biến gây mòn men răngtụt lợi. Điều này làm tăng nguy cơ nhạy cảm ngà răng.

III. Hiệu quả điều trị bằng kem đánh răng chống nhạy cảm

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị nhạy cảm ngà răng bằng kem đánh răng chống nhạy cảm. Các loại kem đánh răng chứa thành phần như potassium nitratestrontium chloride đã được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm nhạy cảm ngà răng. Kết quả cho thấy, sau 4 tuần sử dụng, mức độ nhạy cảm ngà răng giảm đáng kể ở 80% bệnh nhân. Kem đánh răng chống nhạy cảm không chỉ giúp giảm đau mà còn ngăn ngừa sự tiến triển của nhạy cảm ngà răng.

3.1. Cơ chế hoạt động của kem đánh răng chống nhạy cảm

Kem đánh răng chống nhạy cảm hoạt động bằng cách bít kín các ống ngà, ngăn chặn sự dẫn truyền kích thích đến dây thần kinh. Các thành phần như potassium nitrate giúp làm dịu các dây thần kinh, trong khi strontium chloride giúp tái khoáng hóa bề mặt răng.

3.2. Kết quả điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy, kem đánh răng chống nhạy cảm giúp giảm nhạy cảm ngà răng đáng kể sau 4 tuần sử dụng. 80% bệnh nhân ghi nhận sự cải thiện rõ rệt, đặc biệt khi tiếp xúc với các kích thích ngoại lai như nhiệt độ và hóa chất.

IV. Phòng ngừa nhạy cảm ngà răng

Nghiên cứu cũng đề xuất các biện pháp phòng ngừa nhạy cảm ngà răng, bao gồm chải răng đúng cách, sử dụng bàn chải mềm, và hạn chế thực phẩm chua. Việc giáo dục bệnh nhân về cách chăm sóc răng miệng đúng cách là yếu tố quan trọng trong việc ngăn ngừa nhạy cảm ngà răng. Ngoài ra, sử dụng kem đánh răng chống nhạy cảm thường xuyên cũng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh.

4.1. Chải răng đúng cách

Việc chải răng đúng cách với bàn chải mềm và chải theo chiều dọc giúp giảm nguy cơ mòn men răngtụt lợi, từ đó ngăn ngừa nhạy cảm ngà răng.

4.2. Hạn chế thực phẩm chua

Thực phẩm chuanước ngọt có gas có thể làm mòn bề mặt răng, dẫn đến nhạy cảm ngà răng. Việc hạn chế sử dụng các loại thực phẩm này là biện pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tình trạng nhạy cảm ngà răng ở thành phố hcm yếu tố nguy cơ hiệu quả điều trị bằng các loại thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Khái niệm nhạy cảm ngà, dịch tễ học, phân bố nhạy cảm ngà, tình hình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt nam. Khái niệm nhạy cảm ngà Nhạy cảm ngà hay tình trạng ngà nhạy cảm quá mức được mô tả lâm sàng là một đáp ứng vượt mức thông thường trước tác nhân kích thích không gây hại và thỏa mọi tiêu chuẩn của triệu chứng đau thực sự. Tuy nhiên, khi muốn mô tả một dấu hiệu lâm sàng tương tự, việc sử dụng thuật ngữ: “Quá cảm ngà” hay “Nhạy cảm ngà quá mức” vẫn là một vấn đề đang được đặt ra.

Mặc dù có quan niệm cho rằng tình trạng nhạy cảm ngà quá mức thực sự có thể do viêm tủy và cho triệu chứng đau dai dẳng thay vì kiểu đau chói tức thì của nhạy cảm ngà quá mức thông thường, nhưng hai kiểu đau này có nguồn gốc hoàn toàn khác nhau và cho đến nay vẫn chưa có thông tin chứng minh nhạy cảm ngà thông thường được gây ra do bệnh lý tủy [10]. Thuật ngữ “nhạy cảm ngà” được xem là thích hợp vì chưa có bằng chứng cho thấy tình trạng của ngà “nhạy cảm quá mức” khác với ngà lành mạnh hay phản ứng tủy khi kích thích tại vùng ngà là một đáp ứng bình thường. Tuy nhiên, không hẳn tất cả những vùng lộ ngà đều nhạy cảm, vì thế cả hai thuật ngữ đều có thể được xem là phù hợp. Trong đó “nhạy cảm ngà quá mức” đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ qua và được các bác sĩ lâm sàng xem như là một thuật ngữ riêng khi nói đến tình trạng này.

Hơn nữa, định nghĩa này cũng được sửa đổi và thông qua trong hội thảo quốc tế về nhạy cảm ngà quá mức năm 1983 như sau: “Nhạy cảm ngà quá mức có đặc điểm là cơn đau nhói thật nhanh tại vùng ngà lộ dưới tác động của dạng kích thích như áp lực, nhiệt, luồng hơi, cọ xát hoặc hóa chất mà không gây ra bởi sự khiếm khuyết ngà hay một loại bệnh lý nào của răng”. Đến 2003, Hội đồng 4 cố vấn chuyên ngành nha chu Canada đề nghị dùng từ “Bệnh - Pathology” thay cho “Bệnh lý - Disease” trong định nghĩa về nhạy cảm ngà [2]. Y văn cũng đã từng đề cập đến tình trạng nhạy cảm hay nhạy cảm ngà quá mức xê- măng của răng; song các bằng chứng cho thấy lớp xê-măng sẽ nhanh chóng mất đi để lại vùng ngà lộ. Do vậy tình trạng ngà nhạy cảm quá mức có thể xuất hiện ở mọi nơi trên răng, trong đó, phần từ cổ răng đến bề mặt chân răng là phần thường bị tác động nhất.

Tụt lợi và mòn cổ răng gây nhạy cảm ngà [11]. Hình ảnh ống ngà mở dưới kính hiển vi điện tử quét với độ phóng đại 4000 và 8000 lần [12]. Đặc điểm dịch tễ học Nhạy cảm ngà là một tình trạng phổ biến, khảo sát dịch tễ của Bartold, 2006 về tình trạng nhạy cảm ngà trên thế giới từ 1964 đến 2003 cho thấy tỷ lệ nhạy cảm ngà chiếm từ 4 -74% dân số [6]. Tỷ lệ này tùy thuộc vào mẫu 5 nghiên cứu và phương pháp khảo sát là bảng câu hỏi hay khám lâm sàng (Bảng 1.

Ở bệnh nhân bị viêm quanh răng, tỷ lệ nhạy cảm ngà thường cao hơn, ở mức 60 - 98% [10],[13]. Mặc dù vậy, phần lớn bệnh nhân không điều trị do không cho rằng nhạy cảm ngà là vấn đề sức khỏe quan trọng [14]. Đặc biệt cần lưu ý nữa là tỷ lệ nhạy cảm ngà được xác định theo định nghĩa thấp hơn nhiều so với tỷ lệ người than phiền có răng nhạy cảm; bên cạnh đó, lại có một số lượng người có nhạy cảm ngà thực sự bị bỏ qua không được phát hiện. Các nghiên cứu dịch tễ về nhạy cảm ngà [6] Tác giả Nước Nơi thực hiện Dạng NC n Tỷ lệ Jensen, 1964 USA Trường ĐH Khám lâm sàng 3000 30 Graf-Glase, 1977 Switzerland Khu thực hành Khám lâm sàng 351 15 Flynn et al., 1992 UK Trường ĐH Khám lâm sàng 369 18 Orchardson-Collins,1987 UK Trường ĐH Khám lâm sàng 109 74 Fisher et al., 1992 Brazil Trường ĐH Khám lâm sàng 635 17 Murray-Roberts, 1994 Indonesia Không nêu Bảng câu hỏi 1000 27 Murray-Roberts, 1994 USA Không nêu Bảng câu hỏi 1000 18 Murray-Roberts, 1994 Japan Không nêu Bảng câu hỏi 1000 16 Murray-Roberts, 1994 France Không nêu Bảng câu hỏi 1000 14 Murray-Roberts, 1994 Germany Không nêu Bảng câu hỏi 1000 13 Murray-Roberts, 1994 Australia Không nêu Bảng câu hỏi 1000 13 Chabanski et al., 1997 UK Trường ĐH Khám lâm sàng 51 73 Irwin-McCusker, 1997 UK Khu thực hành Bảng câu hỏi 250 57 Liu et al., 1998 Taiwan Trường ĐH Khám lâm sàng 780 32 Rees, 2000 UK Khu thực hành Khám lâm sàng 3593 4 Taani-Awartani, 2002 Saudi Arabia Trường ĐH Khám lâm sàng 295 42-60 Clayton et al., 2002 UK Hàng không Bảng câu hỏi 228 50 Rees-Addy, 2002 UK Khu thực hành Khám lâm sàng 4841 4,1 Rees et al., 2003 Hong Kong Bệnh viện Khám lâm sàng 226 67,6 1.

Phân bố nhạy cảm ngà Nhạy cảm ngà có thể gặp ở mọi lứa tuổi, phổ biến nhất từ 30 đến 40 tuổi. Sau lứa tuổi này, tỷ lệ nhạy cảm ngà lại thấp hơn, có thể do sự hình thành ngà thứ phát và ngà sửa chữa; một số nghiên cứu khác lại cho thấy tỷ lệ người mắc chứng nhạy cảm ngà cao nhất ở lứa tuổi 20 đến 30, lớn tuổi 30 sẽ giảm 6 dần và tăng lại ở lứa tuổi 50 [15],[16]. Trong nhiều nghiên cứu, tỷ lệ nhạy cảm ngà ở nữ cao hơn ở nam, nhưng khác biệt không có ý nghĩa [17],[18]. Phân bố nhạy cảm ngà trên răng cũng thay đổi tùy theo nghiên cứu và dân số nghiên cứu, với các kiểu hình phân bố bệnh khác nhau.

Nhiều nghiên cứu cho thấy nhạy cảm ngà thường gặp nhất ở nhóm răng hàm nhỏ và răng hàm lớn thứ nhất, ít gặp nhất ở nhóm răng cửa và răng hàm lớn thứ hai hàm trên. Bên cạnh đó, nghiên cứu lại ghi nhận nhạy cảm ngà thường gặp nhất ở răng nanh và các răng hàm nhỏ [4],[13],[15],[17],[18],[19],[20]. Trên 90% vị trí nhạy cảm ngà là ở vùng cổ răng mặt ngoài [18]. Nhạy cảm ngà thường biểu hiện tại một vùng ngà răng bị lộ do mất lớp men răng hoặc xê-măng che phủ và tụt lợi.

Chải răng được cho là nguyên nhân gây tụt lợi nhiều hơn là làm mòn men răng. Không phải cứ ngà bị lộ là có nhạy cảm [21]. Nhạy cảm xảy ra khi lớp mùn ngà hay nút ống ngà bị mất đi, các ống ngà bị mở. Đối với vai trò của mảng bám răng, còn có những kết luận trái ngược: Một số tác giả cho rằng mảng bám răng không là một yếu tố có ý nghĩa đối với nhạy cảm ngà; bệnh nhân nhạy cảm thường có kiểm soát mảng bám tốt [22].

Trong khi đó, một số nghiên cứu khác lại cho thấy tích tụ mảng bám có thể là một yếu tố góp phần làm mất khoáng bề mặt răng và làm lộ các ống ngà mở [23]. Nhạy cảm ngà gặp nhiều hơn ở bệnh nhân bị viêm quanh răng, đặc biệt sau khi điều trị cạo cao răng, cạo láng mặt chân răng hoặc phẫu thuật nha chu [13],[24]. Tuy nhiên, đa số trường hợp, nhạy cảm chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn bởi vì những ống ngà này nhanh chóng được che lấp bởi canxi và phốt-phát của nước bọt hay bởi mảng bám răng. Nhạy cảm ngà cũng có thể xảy ra sau tẩy trắng răng hay trám răng [25],[26].

Tình hình nghiên cứu nhạy cảm ngà trên thế giới và tại Việt nam 1. Tình hình nghiên cứu nhạy cảm ngà trên thế giới 7 Để khảo sát tình trạng nhạy cảm ngà về mặt dịch tễ học, hầu hết các tác giả trên thế giới đều sử dụng bảng câu hỏi. Tỉ lệ phần trăm nhạy cảm ngà dao động trong mức 2,8% - 68%. Phần lớn các nghiên cứu đều ghi nhận đau do lạnh là kích thích phổ biến nhất trong nhạy cảm ngà, tiếp theo kích thích chua.

Nghiên cứu in vivo đã cho thấy nước ép trái cây như cam, táo và sữa chua có thể làm hòa tan lớp mùn ngà gây nên sự nhạy cảm nhanh chóng và thường xuyên khi bị kích thích chua [27]. Tuy nhiên, tác giả Rees và Addy lại cho rằng nóng là kích thích phổ biến thứ hai. Sự khác biệt này có liên quan đến chế độ ăn dựa trên cơ sở sự khác biệt về chủng tộc, nền kinh tế, văn hóa và xã hội. Nhìn chung, những nghiên cứu khảo sát tình trạng nhạy cảm ngà chỉ bằng bảng câu hỏi cho kết quả cao hơn và không đáng tin cậy bằng các nghiên cứu lâm sàng như nghiên cứu của Ye, 2012 ở người Trung Quốc trưởng thành cho thấy trong 2120 đối tượng tham gia nghiên cứu có 804 người (37,9%) than phiền về những triệu chứng của nhạy cảm ngà trong bảng câu hỏi nhưng chỉ có 723 người (723/804) đáp ứng với thử nghiệm lâm sàng bằng phương pháp kích thích luồng hơi [28].

Tương tự như vậy, kết quả nghiên cứu của Que, 2010 cũng cho thấy tỉ lệ phần trăm nhạy cảm ngà được ghi nhận trong bảng câu hỏi 41,7% và 25,5% khi thử nghiệm lâm sàng [29]. Chính vì vậy, một số tác giả đề nghị sử dụng kết hợp bảng câu hỏi cùng với các phương pháp đánh giá lâm sàng (gồm chủ yếu là sử dụng ít nhất 2 phương pháp kích thích để đánh giá) nhằm xác định chính xác tỉ lệ nhạy cảm ngà thật sự. Các đối tượng nếu ghi nhận có nhạy cảm ngà qua trả lời bảng câu hỏi sẽ được tiếp tục đánh giá trên lâm sàng. Tình hình nghiên cứu nhạy cảm ngà tại Việt nam Năm 2010, Nguyễn Thị Từ Uyên thực hiện khảo sát trên 500 sinh viên Đại học Y Dược TP HCM tuổi từ 18 - 28, kết quả cho thấy khi đánh giá tình trạng nhạy cảm ngà đối với hai loại kích thích là sử dụng thám trâm và thổi 8 hơi: 48% có biểu hiện nhạy cảm với một trong hai hoặc cả hai loại kích thích, trong đó phổ biến nhất gặp ở nhóm răng hàm nhỏ [7].

Sau đó, Đoàn Hồ Điệp, 2012 tại Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh khảo sát tình trạng nhạy cảm ngà răng trên 100 đối tượng tuổi từ 18 - 28 có nhu cầu tẩy trắng răng tại nhà, có sức khỏe toàn thân và răng miệng khỏe mạnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% bệnh nhân không có nhạy cảm ngà trong điều kiện không kích thích, tỷ lệ bệnh nhân có nhạy cảm ngà với kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh là 47% (2% nhạy cảm với kích thích luồng hơi, 45% nhạy cảm với kích thích lạnh), tất cả các trường hợp nhạy cảm đều ở mức độ nhẹ (mức độ 1) [3].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài nghiên cứu mang tiêu đề "Nghiên cứu tình trạng nhạy cảm ngà răng tại TP.HCM: Yếu tố nguy cơ và hiệu quả điều trị bằng kem đánh răng chống nhạy cảm" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng nhạy cảm ngà răng, một vấn đề phổ biến ảnh hưởng đến nhiều người. Nghiên cứu không chỉ xác định các yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng này mà còn đánh giá hiệu quả của các sản phẩm kem đánh răng chống nhạy cảm. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguyên nhân và cách thức điều trị, từ đó có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa và cải thiện sức khỏe răng miệng của bản thân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe răng miệng, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận án nghiên cứu sử dụng véc ni fluor trong dự phòng và điều trị sâu răng, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp phòng ngừa sâu răng hiệu quả. Ngoài ra, Luận văn thực trạng sâu răng viêm lợi và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở Tân Bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tình trạng sâu răng ở lứa tuổi học sinh. Cuối cùng, Thực trạng mòn cổ răng và các yếu tố liên quan ở người cao tuổi sẽ cung cấp cái nhìn về tình trạng răng miệng ở người cao tuổi, một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sức khỏe răng miệng và các biện pháp chăm sóc hiệu quả.