Tổng quan luận án

Tình trạng nhạy cảm ngà răng (quá cảm ngà) được định nghĩa là cơn đau nhói thoáng qua xuất hiện trên phần ngà bị bộc lộ khi gặp các kích thích ngoại lai như nhiệt độ, luồng hơi thổi, cọ xát cơ học, áp lực thẩm thấu hoặc tác nhân hóa học, mà không bắt nguồn từ bất kỳ bệnh lý hay khiếm khuyết cấu trúc răng miệng nào khác, đồng thời ở răng bình thường thì các kích thích này không đủ ngưỡng để gây đau (ADHA, 2001). Cùng với sự suy giảm của tỷ lệ mắc bệnh sâu răng và việc kiểm soát hiệu quả bệnh viêm quanh răng trong nha khoa hiện đại, nhạy cảm ngà đã trở thành một trong những vấn đề sức khỏe răng miệng nhận được sự quan tâm hàng đầu của các bác sĩ Răng Hàm Mặt. Mặc dù không gây ra các biến chứng toàn thân đe dọa tính mạng, nhạy cảm ngà ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống theo định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tuyên ngôn Alma-Ata (1978). Tình trạng này cản trở việc duy trì vệ sinh răng miệng hàng ngày, dẫn tới việc né tránh chải răng và làm tăng nguy cơ phát sinh các bệnh lý nha chu và răng miệng kế phát.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ trước đây chủ yếu thực hiện trên các nhóm đối tượng mang tính đặc thù riêng biệt (sinh viên đại học, công nhân ngành than, nhân viên bảo hiểm) nên chưa phản ánh bức tranh toàn diện của cộng đồng dân cư đô thị. Đồng thời, việc ứng dụng các thử nghiệm lâm sàng đối chứng để đánh giá hiệu quả của các nhóm thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà có hoạt chất khác nhau theo một quy trình chuẩn hóa vẫn còn nhiều khoảng trống. Xuất phát từ thực tế đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Trần Ngọc Phương Thảo được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả tình trạng, tỷ lệ nhạy cảm ngà và một số yếu tố nguy cơ ở thành phố Hồ Chí Minh (khu vực nội thành và ngoại thành) trong giai đoạn từ tháng 6/2013 đến tháng 11/2015.
  2. Đánh giá hiệu quả điều trị nhạy cảm ngà răng của bốn loại thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà thông qua thử nghiệm lâm sàng.

Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Không gian nghiên cứu: Địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (gồm 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành đối với hợp phần điều tra cộng đồng; Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành phố Hồ Chí Minh đối với hợp phần thử nghiệm lâm sàng).
  • Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn thu thập số liệu từ tháng 6/2013 đến tháng 11/2015.
  • Đối tượng nghiên cứu: Người dân từ 18 đến 69 tuổi sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu của điều tra dịch tễ học và các răng có tình trạng nhạy cảm ngà thỏa mãn tiêu chuẩn thử nghiệm lâm sàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan y văn quốc tế cho thấy tỷ lệ hiện mắc nhạy cảm ngà răng dao động trong khoảng rộng từ 4% đến 74% dân số tùy thuộc vào phương pháp điều tra (sử dụng bảng câu hỏi phỏng vấn hay khám lâm sàng) và nhóm đối tượng nghiên cứu (Bartold, 2006). Trên các nhóm bệnh nhân có bệnh viêm quanh răng, tỷ lệ này có thể lên tới 60% - 98%.

Tác giả và năm công bố Quốc gia Nơi thực hiện Phương pháp nghiên cứu Cỡ mẫu ($n$) Tỷ lệ hiện mắc (%)
Jensen (1964) Hoa Kỳ Trường Đại học Khám lâm sàng 3.000 30,0%
Graf-Glase (1977) Thụy Sĩ Khu thực hành Khám lâm sàng 351 15,0%
Orchardson & Collins (1987) Vương quốc Anh Trường Đại học Khám lâm sàng 109 74,0%
Flynn và cộng sự (1992) Vương quốc Anh Trường Đại học Khám lâm sàng 369 18,0%
Fisher và cộng sự (1992) Brazil Trường Đại học Khám lâm sàng 635 17,0%
Murray & Roberts (1994) Indonesia Không nêu Bảng câu hỏi 1.000 27,0%
Murray & Roberts (1994) Hoa Kỳ Không nêu Bảng câu hỏi 1.000 18,0%
Murray & Roberts (1994) Nhật Bản Không nêu Bảng câu hỏi 1.000 16,0%
Murray & Roberts (1994) Pháp Không nêu Bảng câu hỏi 1.000 14,0%
Murray & Roberts (1994) Đức Không nêu Bảng câu hỏi 1.000 13,0%
Murray & Roberts (1994) Australia Không nêu Bảng câu hỏi 1.000 13,0%
Chabanski và cộng sự (1997) Vương quốc Anh Trường Đại học Khám lâm sàng 51 73,0%
Irwin & McCusker (1997) Vương quốc Anh Khu thực hành Bảng câu hỏi 250 57,0%
Liu và cộng sự (1998) Đài Loan Trường Đại học Khám lâm sàng 780 32,0%
Rees (2000) Vương quốc Anh Khu thực hành Khám lâm sàng 3.593 4,0%
Rees & Addy (2002) Vương quốc Anh Khu thực hành Khám lâm sàng 4.841 4,1%
Clayton và cộng sự (2002) Vương quốc Anh Ngành hàng không Bảng câu hỏi 228 50,0%
Taani & Awartani (2002) Saudi Arabia Trường Đại học Khám lâm sàng 295 42,0% - 60,0%
Rees và cộng sự (2003) Hồng Kông Bệnh viện Khám lâm sàng 226 67,6%

Các nghiên cứu của Ye (2012) tại Trung Quốc ghi nhận 37,9% đối tượng phàn nàn có triệu chứng qua bảng câu hỏi nhưng chỉ 34,1% đáp ứng với kích thích luồng hơi lâm sàng; nghiên cứu của Que (2010) ghi nhận tỷ lệ qua câu hỏi là 41,7% so với 25,5% trên lâm sàng. Điều này khẳng định tính cần thiết của việc kết hợp giữa phỏng vấn sàng lọc và đo lường kích thích thực chứng trên ghế nha khoa.

Tại Việt Nam, các công trình công bố trước thời điểm luận án được triển khai bao gồm:

  • Nguyễn Thị Từ Uyên (2010): Khảo sát trên 500 sinh viên Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (18 - 28 tuổi), ghi nhận 48% đối tượng nhạy cảm với kích thích thám trâm hoặc luồng hơi, phân bố nhiều nhất ở nhóm răng hàm nhỏ.
  • Phạm Thị Mai Thanh (2010): Đánh giá ba phương pháp đo lường nhạy cảm ngà (thám trâm, nước lạnh, luồng hơi) trên 370 bệnh nhân tại Khoa Răng Hàm Mặt - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, khuyến nghị kết hợp thám trâm và luồng hơi.
  • Đoàn Hồ Điệp (2012): Khảo sát trên 100 đối tượng tuổi 18 - 28 có nhu cầu tẩy trắng răng tại nhà, ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm ngà với kích thích luồng hơi hoặc nhiệt lạnh là 47% (2% với luồng hơi, 45% với nhiệt lạnh), 100% ở mức độ nhẹ.
  • Tống Minh Sơn (2012): Khảo sát 2.392 cán bộ, công nhân Công ty than Thống Nhất (Cẩm Phả, Quảng Ninh), ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm ngà 9,07%, nhóm trên 40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (50,23%), tổn thương mòn cổ răng chiếm 70%.
  • Tống Minh Sơn (2013): Khảo sát 155 nhân viên Công ty Bảo hiểm Nhân thọ tại Hà Nội, ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm ngà 47,29% (nữ 90,05%, nam 25,49%), tổn thương mòn cổ răng chiếm 71,15%.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Thiết lập số liệu dịch tễ học mang tính đại diện cho cộng đồng dân cư trưởng thành tại một đô thị lớn gồm cả vùng nội thành và ngoại thành (Thành phố Hồ Chí Minh) bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng nhiều cụm theo quy mô dân số (PPS); đồng thời triển khai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng song song so sánh hiệu quả giảm đau của 4 công thức thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà, áp dụng thang đo kết hợp định lượng lực cơ học và bán định lượng luồng hơi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  1. Khái niệm và thuật ngữ: Thuật ngữ "nhạy cảm ngà" (dentine sensitivity) hay "quá cảm ngà" (dentine hypersensitivity) được chuẩn hóa theo Hội thảo Quốc tế năm 1983 và sửa đổi năm 2003 bởi Hội đồng Cố vấn Chuyên ngành Nha chu Canada, trong đó nhấn mạnh đây là đáp ứng đau không do bệnh lý tủy hay khiếm khuyết bệnh học cấu trúc răng.
  2. Cơ chế bệnh sinh - Thuyết thủy động học (Hydrodynamic Theory): Đưa ra bởi Brännström và Åström (1963) dựa trên nền tảng của Kramer (1955). Cơ chế giải thích rằng các kích thích ngoại lai (nhiệt độ, làm khô bằng luồng hơi, áp lực cơ học, chất ưu trương) làm xáo trộn và gia tăng dòng chảy của dịch ngà bên trong các ống ngà hở. Sự dịch chuyển của dịch ngà gây biến dạng cơ học và thay đổi áp suất tại ranh giới ngà - tủy, từ đó kích hoạt các đầu tận cùng sợi thần kinh cảm giác dẫn truyền tín hiệu đau về hệ thần kinh trung ương.
  3. Sinh lý dẫn truyền cảm giác đau tủy - ngà: Phức hợp ngà - tủy được chi phối bởi sợi có bao myelin dẫn truyền nhanh ($A\beta$ và $A\delta$) và sợi không có bao myelin dẫn truyền chậm ($C$). Nhạy cảm ngà chủ yếu liên quan đến hoạt hóa sợi $A\delta$ gây đau chói, ngắn và khu trú.
Loại sợi thần kinh Cấu trúc bao Myelin Tốc độ dẫn truyền Đặc tính cảm giác đau Kiểu phân bố cơn đau
Sợi $A\beta$ Có Myelin Nhanh Cảm giác ngắn, châm chích Khu trú
Sợi $A\delta$ Có Myelin Nhanh Cơn đau ngắn, nhói tức thì Khu trú
Sợi $C$ Không có Myelin Chậm Đau âm ỉ, cháy bỏng Lan tỏa
  1. Phân loại tổn thương mất mô cứng không do sâu răng (Grippo, 2014):
    • Mòn răng cơ học (Attrition): Do tiếp xúc răng - răng bởi lực nhai sinh lý hoặc tật nghiến răng.
    • Mài mòn cơ học (Abrasion): Mất mô răng do ma sát với tác nhân cơ học ngoại lai (lực chải răng, chất mài mòn trong kem đánh răng, cắn vật cứng).
    • Xói mòn hóa học (Erosion): Mất cấu trúc mô cứng do phản ứng hóa học hòa tan bởi axit không có nguồn gốc từ vi khuẩn (axit nội sinh do trào ngược hoặc axit ngoại sinh từ thực phẩm, đồ uống).
    • Tiêu cổ răng do lực uốn (Abfraction): Mất men và ngà vùng cổ răng do ứng suất uốn răng tập trung tại điểm bản lề men - ngà - xê măng khi răng chịu tải lực cắn lệch tâm.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án triển khai hai thiết kế nghiên cứu song hành:

1. Nghiên cứu 1 - Điều tra dịch tễ học cắt ngang mô tả tại cộng đồng

  • Địa bàn và thời gian: Khu vực nội thành (19 quận) và ngoại thành (5 huyện) Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 6/2013 đến tháng 11/2015.
  • Đối tượng: Người dân trong độ tuổi từ 18 đến 69 tuổi.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Sức khỏe toàn thân và tâm thần ổn định; đồng ý ký phiếu tham gia nghiên cứu; có tối thiểu 20 răng còn lại trên cung hàm; cư trú liên tục tại địa phương từ 24 tháng trở lên.
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Đang điều trị y khoa toàn thân hoặc trị liệu tâm lý; không còn đủ 20 răng; không hợp tác.
  • Công thức tính cỡ mẫu: $$n = \frac{z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$ Với $\alpha = 0,05 \Rightarrow z = 1,96$; sai số cho phép $d = 0,05$; chọn $p = 0,5$ (theo Bartold, 1994) nhằm tối đa hóa cỡ mẫu $\Rightarrow n = 385$. Do áp dụng thiết kế chọn mẫu nhiều cụm, cỡ mẫu được nhân với hệ số thiết kế ($Design\ Effect = 2$) và cộng thêm 10% dự phòng mất mẫu: $$N = 385 \times 2 \times 110% = 847\text{ người}$$
  • Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước (PPS) phân tầng nhiều cụm. Dựa trên tỷ lệ dân số nội thành so với ngoại thành là 4:1 (theo số liệu điều tra dân số năm 2009), chọn ngẫu nhiên 30 cụm tại nội thành và 8 cụm tại ngoại thành (tổng cộng 38 cụm), mỗi cụm khảo sát $20 \pm 5$ người.

2. Nghiên cứu 2 - Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đơn có đối chứng song song

  • Địa điểm: Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đối tượng: Răng bị nhạy cảm ngà mức độ 2 - 3 vùng cổ răng trên người bệnh từ 18 đến 69 tuổi sinh sống tại nội thành Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân có $\ge 20$ răng; số lượng răng nghiên cứu trên mỗi cá thể từ 2 đến 8 răng (mỗi phần hàm không quá 2 răng); răng có nhạy cảm ngà mức độ 2 - 3 do mòn cổ răng hoặc tụt lợi không có chỉ định điều trị phục hồi, được chẩn đoán qua thám trâm điện tử Yeaple Probe và luồng hơi theo thang đo kết hợp Orchardson & Collins (1987).
  • Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: Đang dùng thuốc giảm đau, chống viêm, an thần trong 72 giờ trước khám; phụ nữ có thai hoặc cho con bú; mắc trào ngược dạ dày - thực quản chưa ổn định; có nhiễm trùng cấp hoặc khối u ác tính vùng miệng; làm việc trong môi trường tiếp xúc hóa chất axit; phẫu thuật nha chu hoặc chỉnh nha trong 6 tháng gần nhất; đã điều trị chống nhạy cảm ngà hoặc tẩy trắng răng trong 3 tháng qua.
  • Tiêu chuẩn loại trừ răng: Răng có sang thương sâu hoặc chớm sâu; răng mang chụp hoặc làm trụ cầu giả; răng có nhiều hơn một vị trí nhạy cảm trên cùng một thân răng.
  • Công thức tính cỡ mẫu: $$n = \frac{z_{1-\alpha/2}^2 \cdot p(1-p)}{d^2}$$ Với $\alpha = 0,05$; $d = 0,05$; giả định tỷ lệ hiệu quả $p = 0,85$ (theo Mason, 2010) $\Rightarrow n \approx 80$ răng cho mỗi nhóm điều trị. Cộng 15% dự phòng hao hụt $\Rightarrow 48$ răng. Cỡ mẫu tổng cộng cho 4 nhóm điều trị là $(80 \times 4) + 48 = 368 \approx 370$ răng (thực tế thu thập được 372 răng).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý luận, dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh và các phương thức chẩn đoán, kiểm soát nhạy cảm ngà răng:

  1. Dịch tễ học và phân bố nhạy cảm ngà: Tình trạng nhạy cảm ngà xuất hiện phổ biến nhất ở nhóm tuổi 30 - 40 tuổi (sau đó có xu hướng giảm do sự hình thành ngà thứ cấp và ngà xơ hóa). Tỷ lệ ở nữ giới thường cao hơn nam giới trong nhiều nghiên cứu nhưng không có ý nghĩa thống kê. Vị trí giải phẫu chịu ảnh hưởng nhiều nhất là nhóm răng hàm nhỏ và răng hàm lớn thứ nhất, với trên 90% tổn thương khu trú ở bề mặt ngoài vùng cổ răng.
  2. Cơ chế tác nhân gây nhạy cảm ngà: Sự lộ ngà do tụt lợi (liên quan đến tuổi tác, sang chấn khớp cắn, bám dính phanh môi/má bất thường, viêm nha chu, kỹ thuật chải răng thô bạo) kết hợp với các dạng mòn răng (mài mòn, xói mòn, tiêu cổ răng). Mảng bám răng và việc tiêu thụ thường xuyên thực phẩm có tính axit (nước ép cam, táo, sữa chua, nước ngọt có ga, rượu vang) làm hòa tan lớp mùn ngà (smear layer), mở rộng đường vào của các ống ngà.
  3. Các công cụ và thang đo đánh giá lâm sàng: Luận án tổng hợp các phương pháp kích thích chẩn đoán:
    • Kích thích cơ học: Thám trâm cơ học thông thường và thám trâm điện tử Yeaple Probe (cho phép cài đặt mức lực nén chính xác từ 10g đến 70g với bước tăng 10g).
    • Kích thích luồng hơi: Thổi luồng hơi ở nhiệt độ phòng ($20^\circ\text{C} - 24^\circ\text{C}$), áp suất chuẩn 60 psi, lưu lượng 3 lít/phút vuông góc bề mặt răng trong 1 giây ở khoảng cách 0,5 - 1 cm (Tarbet, 1982; Orchardson & Collins, 1987).
    • Kích thích nhiệt: Nước lạnh từ $20^\circ\text{C}$ giảm dần đến $0^\circ\text{C}$ (ngưỡng $7^\circ\text{C}$ là tối ưu theo Minkoff & Axelrod, 1987).
    • Thang đo mức độ đau: Thang điểm lời nói (VRS 4 mức độ: 0 - 3), Thang tương đương nhìn thấy (VAS 0 - 100 mm quy đổi điểm 0 - 10 của Huskinsson, 1974), Thang nhạy cảm nhiệt lạnh Schiff (0 - 3) và Thang đánh giá kết hợp Orchardson & Collins (1987).
Mức độ đáp ứng Đánh giá lực cọ xát với Yeaple Probe (g) Đánh giá luồng hơi theo thang VAS (điểm)
0 = Không nhạy cảm Lực kích thích $> 60 - 70\text{ g}$ Mức điểm $0 - 1$
1 = Nhạy cảm nhẹ Lực kích thích $> 40 - 60\text{ g}$ Mức điểm $> 1 - 3$
2 = Nhạy cảm vừa Lực kích thích $> 20 - 40\text{ g}$ Mức điểm $> 3 - 7$
3 = Nhạy cảm nặng Lực kích thích $> 10 - 20\text{ g}$ Mức điểm $> 7 - 10$
  1. Cơ chế hoạt động của các hợp chất điều trị nhạy cảm ngà:
    • Nhóm tái khử cực thần kinh: Chứa muối Kali (Potassium Nitrate, Potassium Chloride, Potassium Citrate). Khi nồng độ $\text{K}^+$ ngoại bào vượt quá 8 mmol/L xung quanh sợi trục thần kinh cảm giác tủy, màng tế bào bị khử cực kéo dài làm bất hoạt điện thế hoạt động (Peacock & Orchardson, 2006).
    • Nhóm làm đông vón dịch ngà: Glutaraldehyde 2% (Gluma) làm kết tủa protein dịch ngà tạo dải ngăn sâu 50 - 100 $\mu\text{m}$ trong lòng ống ngà.
    • Nhóm bít tắc cơ học ống ngà: Hợp chất Fluoride ($\text{NaF}$, $\text{SnF}_2$, Sodium Monofluorophosphate) tạo kết tủa $\text{CaF}_2$ và Fluorapatite; hợp chất Canxi Phosphat/Arginine 8% lắng đọng tinh thể mô phỏng sinh học; Strontium Acetate 8% hoán đổi vị trí với ion Canxi tạo phức hợp Calcium Strontium Hydroxyapatite bền vững kháng lại sự hòa tan axit.
    • Bậc thang can thiệp của WHO: Tiếp cận theo hướng xâm lấn tối thiểu từ tự chăm sóc tại nhà bằng kem đánh răng OTC $\rightarrow$ can thiệp tại ghế nha khoa bằng gel/vecni $\rightarrow$ điều trị nha khoa phục hồi/phẫu thuật ghép mô mềm. Áp dụng quy tắc chải răng "One Two Three" (1 mm lượng kem, 2 lần/ngày, 3 phút/lần).
Tác giả và năm Thiết kế thử nghiệm Thời gian theo dõi Các nhánh hoạt chất can thiệp Phương pháp đánh giá
Minkoff (1987) RCT mù đôi 12 tuần Strontium Acetate 8% vs Novamin 5% vs Placebo Cọ xát, Luồng hơi, Nhiệt lạnh
West (1997) RCT mù đôi 6 tuần Strontium Acetate 8% vs Potassium Nitrate 5% vs Fluoride 0,243% Cọ xát, Luồng hơi
Schiff (2005) RCT mù đôi 8 tuần Potassium Nitrate 5% vs Fluoride 0,234% Cọ xát, Luồng hơi
Du (2008) RCT mù đôi 6 tuần Strontium Chloride 8% vs Novamin 5% vs Placebo Cọ xát, Luồng hơi
Docimo (2009) Thử nghiệm lâm sàng 8 tuần Arginine 8% vs Nhóm chứng Cọ xát, Luồng hơi
Layer (2010) Tiến cứu mù đôi 8 tuần Strontium Acetate 8% vs Arginine 8% Cọ xát, Luồng hơi
Salian (2010) RCT mù đôi 4 tuần Novamin 5% vs Potassium Nitrate 5% vs Fluoride 0,243% Cọ xát, Luồng hơi
Sharma (2010) RCT mù đôi 12 tuần Novamin 7,5% vs Potassium Nitrate 5% vs Fluoride 0,4% Cọ xát, Luồng hơi
Pradeep (2010) RCT mù đôi 6 tuần Novamin 5% vs Potassium Nitrate 5% vs Placebo Cọ xát, Luồng hơi
Li (2011) RCT mù đôi 7 ngày Strontium Acetate 8% vs Arginine 8% vs Fluoride 0,243% Cọ xát, Luồng hơi
Anirudh (2013) Tiến cứu mù đơn 8 tuần Novamin 5% vs Potassium Nitrate 5% Luồng hơi, Nước lạnh

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết giao thức thực hiện của hai nhánh nghiên cứu:

  1. Quy trình nghiên cứu cộng đồng:
    • Khảo sát thực địa trên 847 đối tượng tại 38 cụm dân cư được chọn bằng kỹ thuật PPS (30 cụm tại các quận: 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận, Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Thủ Đức và 8 cụm tại các huyện: Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè).
    • Bộ công cụ gồm phiếu phỏng vấn cấu trúc (thông tin nhân khẩu học, thói quen ăn uống đồ chua/ngọt/có ga, thói quen chải răng, tiền sử điều trị nha khoa) kết hợp khám lâm sàng răng miệng xác định tình trạng tụt lợi, mòn răng và đánh giá phản ứng ngà răng.
  2. Quy trình thử nghiệm lâm sàng:
    • 372 răng có nhạy cảm ngà mức độ 2 - 3 trên các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được phân ngẫu nhiên vào 4 nhóm can thiệp sử dụng các loại thuốc đánh răng có hoạt chất chống nhạy cảm ngà khác nhau.
    • Thao tác đánh giá được chuẩn hóa: Kiểm tra đáp ứng cơ học trước bằng đầu thám trâm Yeaple Probe đặt vuông góc $90^\circ$ tại vùng cổ răng phía ngoài, tăng dần từng nấc lực 10g đến khi xuất hiện cảm giác đau; sau đó nghỉ 5 phút và tiến hành thử nghiệm kích thích luồng hơi ghế nha khoa trong 1 giây, ghi nhận mức đau theo thước VAS (0 - 100 mm). Khoảng cách nghỉ giữa hai răng liên tiếp là 5 giây.
    • Bệnh nhân được phát sản phẩm nghiên cứu được làm mờ nhãn hiệu (mù đơn), cấp bàn chải chuẩn và hướng dẫn quy trình chải răng "One Two Three" 2 lần/ngày trong suốt liệu trình theo dõi.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và phương pháp luận

  • Luận án cung cấp bộ số liệu dịch tễ học quy mô lớn tại cộng đồng dân cư thành phố Hồ Chí Minh, phản ánh bức tranh phân bố nhạy cảm ngà giữa hai khu vực địa bàn nội thành và ngoại thành với các đặc trưng nhân khẩu học, dinh dưỡng và thói quen chăm sóc răng miệng.
  • Ứng dụng quy trình chẩn đoán kết hợp giữa kích thích cơ học định lượng chính xác bằng thám trâm điện tử Yeaple Probe và kích thích luồng hơi chuẩn hóa bán định lượng theo thang đo VAS, khắc phục nhược điểm sai số của các nghiên cứu đơn chỉ tiêu trước đây tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn lâm sàng và dự phòng

  • Cung cấp bằng chứng lâm sàng về hiệu lực giảm đau của 4 công thức thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà trên đối tượng bệnh nhân Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho các bác sĩ răng hàm mặt trong việc lựa chọn hoạt chất phù hợp với từng mức độ nhạy cảm ngà.
  • Chuẩn hóa quy trình hướng dẫn vệ sinh răng miệng "One Two Three" (1 mm kem đánh răng, 2 lần mỗi ngày, thời gian chải 3 phút) kết hợp giáo dục thay đổi hành vi tiêu thụ thực phẩm có tính axit, hỗ trợ người bệnh tự kiểm soát nhạy cảm ngà tại nhà theo mô hình can thiệp tối thiểu của WHO.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Cảm nhận đau và mức độ khó chịu do nhạy cảm ngà mang tính chủ quan cao, phụ thuộc vào ngưỡng chịu đau và trạng thái tâm lý cá thể của từng người bệnh; thử nghiệm lâm sàng thực hiện theo thiết kế mù đơn tại một trung tâm chuyên khoa (Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục triển khai các thử nghiệm lâm sàng mù đôi đa trung tâm với thời gian theo dõi dài hạn hơn sau khi ngừng can thiệp thuốc đánh răng; kết hợp đánh giá cấu trúc bề mặt ngà răng bằng kính hiển vi điện tử quét ($SEM$) trên các mẫu ngà thực nghiệm $in\ vitro$ để làm rõ thêm độ bền vững cơ học của lớp bít tắc ống ngà trước các thử thách axit chu kỳ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên Răng Hàm Mặt: Cung cấp cơ sở lý thuyết chi tiết về sinh lý thần kinh phức hợp tủy - ngà, cơ chế thủy động học Brännström, phân loại tổn thương mòn răng của Grippo (2014) và tổng quan các thử nghiệm lâm sàng quốc tế về hoạt chất chống nhạy cảm ngà.
  • Đối với bác sĩ thực hành lâm sàng: Cung cấp quy trình khám, chẩn đoán phân biệt và phác đồ tiếp cận bậc thang điều trị nhạy cảm ngà từ can thiệp bảo tồn tại nhà đến thủ thuật chuyên sâu tại phòng khám.
  • Đối với cán bộ quản lý y tế công cộng: Cung cấp phương pháp luận chọn mẫu phân tầng nhiều cụm theo quy mô dân số (PPS) ứng dụng trong điều tra sức khỏe răng miệng cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Thuyết thủy động học giải thích cơ chế gây đau do nhạy cảm ngà như thế nào và loại sợi thần kinh nào đóng vai trò chính? Thuyết thủy động học của Brännström và Åström (1963) giải thích rằng khi ngà răng bị bộc lộ và các ống ngà mở, các kích thích ngoại lai (lạnh, luồng hơi, cọ xát cơ học, dung dịch ưu trương) làm gia tăng dòng chảy dịch ngà trong lòng ống ngà. Sự thay đổi áp suất này kích thích trực tiếp cơ học lên các đầu tận cùng sợi thần kinh cảm giác $A\delta$ (sợi có myelin, dẫn truyền nhanh) tại ranh giới tủy - ngà, tạo ra cơn đau chói, ngắn và khu trú.

2. Bốn dạng tổn thương mô cứng của răng gây mòn răng theo phân loại của Grippo (2014) được định nghĩa ra sao? Gồm 4 dạng: (1) Mòn răng cơ học (Attrition) do ma sát răng - răng trong quá trình nhai hoặc nghiến răng; (2) Mài mòn cơ học (Abrasion) do lực ma sát từ tác nhân bên ngoài như bàn chải, kem đánh răng thô; (3) Xói mòn hóa học (Erosion) do các chất axit không bắt nguồn từ vi khuẩn làm mất khoáng men ngà; (4) Tiêu cổ răng (Abfraction) do lực uốn răng khi chịu tải cơ học gây vi rạn men ngà tại vùng cổ răng.

3. Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu điều tra dịch tễ cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện như thế nào? Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước (PPS) phân tầng nhiều cụm trên người dân từ 18 đến 69 tuổi. Tổng cỡ mẫu gồm 847 đối tượng được phân bổ tại 38 cụm dân cư (30 cụm tại 19 quận nội thành và 8 cụm tại 5 huyện ngoại thành theo tỷ lệ dân số 4:1), mỗi cụm khảo sát $20 \pm 5$ người.

4. Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng sử dụng tiêu chuẩn chọn răng và thang đo nào để đánh giá đáp ứng điều trị? Nghiên cứu chọn các răng có nhạy cảm ngà mức độ 2 - 3 tại vùng cổ răng không có chỉ định hàn/phục hồi trên các bệnh nhân có $\ge 20$ răng (chọn từ 2 đến 8 răng/người, không quá 2 răng/phần hàm). Đánh giá lâm sàng kết hợp giữa kích thích cơ học bằng thám trâm điện tử Yeaple Probe (lực nén 10g - 70g) và kích thích luồng hơi ghế nha khoa trong 1 giây theo thước đo VAS 0 - 100 mm quy chuẩn theo thang phân loại Orchardson & Collins (1987).

5. Cơ chế làm giảm nhạy cảm ngà của Potassium Nitrate và Strontium Acetate khác nhau như thế nào? Potassium Nitrate hoạt động theo cơ chế tái khử cực thần kinh, cung cấp ion $\text{K}^+$ nồng độ cao ($> 8\text{ mmol/L}$) ra ngoài màng sợi trục thần kinh tủy làm duy trì trạng thái khử cực kéo dài và bất hoạt dẫn truyền cảm giác đau. Trong khi đó, Strontium Acetate hoạt động theo cơ chế bít tắc cơ học ống ngà bằng cách hoán đổi vị trí với ion Canxi tạo kết tủa Calcium Strontium Hydroxyapatite bền vững che lấp bề mặt và lòng ống ngà, ngăn cản dòng chảy dịch ngà.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Ngọc Phương Thảo là công trình nghiên cứu toàn diện về tình trạng nhạy cảm ngà răng ở người trưởng thành tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết hợp giữa khảo sát dịch tễ học đại diện cộng đồng và thử nghiệm lâm sàng can thiệp điều trị. Nghiên cứu đã làm rõ cơ chế bệnh sinh thủy động học, các yếu tố nguy cơ liên quan đến thói quen sinh hoạt và hiệu quả điều trị của các loại thuốc đánh răng chống nhạy cảm ngà. Kết quả của luận án đóng góp cơ sở dữ liệu dịch tễ học và đưa ra phác đồ chăm sóc răng miệng bảo tồn, xâm lấn tối thiểu phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.