Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học hàng đầu khu vực với khu hệ linh trưởng phong phú gồm 25 loài và phân loài. Tuy nhiên, áp lực nhân sinh gia tăng đã khiến phần lớn các loài linh trưởng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong đó có nhiều loài nằm trong danh mục cực kỳ nguy cấp toàn cầu. Rừng phòng hộ Quảng Nam Châu thuộc địa bàn hai xã Quảng Sơn và Quảng Đức, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh sở hữu diện tích rừng tự nhiên rộng lớn lên tới 12.048 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ chiếm 10.014 ha (tương đương hơn 83% tổng diện tích). Khu vực này giữ vị trí trọng yếu về an ninh môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học dọc theo 17,2 km đường biên giới giáp Trung Quốc.

Trước đây, khu vực này chỉ mới có các khảo sát sơ bộ về khu hệ thú nói chung với 23 loài được ghi nhận bước đầu mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về phân loại, phân bố và mức độ đe dọa đối với linh trưởng. Nghiên cứu này được tiến hành trong tháng 10 năm 2018 nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng thành phần loài, quy mô quần thể, cấu trúc phân bố theo sinh cảnh và các nhân tố đe dọa trực tiếp đến các loài linh trưởng. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu khoa học chính xác, tạo tiền đề thực tiễn vững chắc cho các cơ quan quản lý trong việc hoạch định chính sách bảo tồn và xúc tiến thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Quảng Nam Châu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng khung phân loại học linh trưởng hiện đại của tác giả Roos cùng các cộng sự công bố năm 2014, kết hợp với các tiêu chí phân hạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, Danh lục Đỏ thế giới IUCN năm 2018 và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ. Bên cạnh đó, đề tài áp dụng mô hình phân tích và đánh giá mối đe dọa đa dạng sinh học của Margoluis và Salafsky xây dựng năm 2001 để lượng hóa các tác động tiêu cực từ con người đến hệ sinh thái.

Các khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt công trình bao gồm: sinh cảnh rừng phục hồi (chiếm diện tích lớn nhất với khoảng 6.700 ha hình thành sau nương rẫy bỏ hoang 12 đến 15 năm), sinh cảnh rừng trung bình (khoảng 3.000 ha với cấu trúc tầng tán dày của các loài cây gỗ lớn), tính dễ bị tổn thương sinh học và hành lang kết nối sinh thái rừng biên giới.

Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác cao, tác giả phối hợp đồng bộ ba phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp trên thực địa:

Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được thực hiện với cỡ mẫu 40 người, bao gồm 30 người dân địa phương am hiểu địa bàn, 05 cán bộ kiểm lâm huyện Hải Hà và 05 cán bộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Trúc Bài Sơn. Quá trình phỏng vấn sử dụng bộ ảnh màu chuẩn hóa để hỗ trợ nhận diện loài chính xác.

Phương pháp điều tra theo tuyến ngày được triển khai dọc theo 08 tuyến khảo sát với tổng chiều dài từ 2 đến 4 km mỗi tuyến, tốc độ di chuyển duy trì từ 1,2 đến 2,0 km/giờ qua các dạng sinh cảnh khác nhau trong thời gian 15 ngày thực địa. Đồng thời, phương pháp điều tra đêm được tiến hành qua 05 đợt (từ 17h00 đến 22h00, tốc độ 0,5 đến 1,0 km/giờ) sử dụng đèn chuyên dụng quan sát độ phản xạ đáy mắt nhằm phát hiện các loài thú hoạt động ban đêm như Cu li.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ đặc điểm địa hình chia cắt phức tạp với độ cao dao động từ 200 m đến 1.507 m tại đỉnh Quảng Nam Châu. Việc kết hợp tri thức bản địa với điều tra thực nghiệm và phân tích dữ liệu qua phần mềm MapInfo 11.5 giúp tối ưu hóa khả năng định vị tọa độ GPS, lập bản đồ phân bố không gian và xử lý ma trận số liệu sinh thái chính xác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa và tổng hợp tư liệu đã xác định được 04 loài linh trưởng thuộc 02 họ sinh sống tại khu vực rừng phòng hộ Quảng Nam Châu:

Thứ nhất, về giá trị bảo tồn, 100% số loài ghi nhận đều thuộc nhóm động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Cụ thể có 02 loài thuộc Nhóm IB (Cu li lớn Nycticebus bengalensis và Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeus) và 02 loài thuộc Nhóm IIB (Khỉ mặt đỏ Macaca arctoides và Khỉ vàng Macaca mulatta) theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, đồng thời có 02 loài nằm trong danh mục ưu tiên bảo vệ của Nghị định số 160/2013/NĐ-CP.

Thứ hai, về kích thước quần thể Khỉ vàng (Macaca mulatta), khảo sát trực tiếp đã ghi nhận 03 đàn với số lượng từ 48 đến 65 cá thể. Đàn 1 có quy mô từ 16 đến 24 cá thể tại khoảnh 2, 4, 12, 13 thuộc tiểu khu 304; Đàn 2 có từ 12 đến 16 cá thể tại khoảnh 5, 8, 9, 11 thuộc tiểu khu 304; Đàn 3 có từ 20 đến 25 cá thể tại khoảnh 16, 17, 18 thuộc tiểu khu 303 trên địa bàn xã Quảng Sơn.

Thứ ba, về quần thể Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), nghiên cứu bắt gặp trực tiếp 01 đàn với quy mô từ 10 đến 15 cá thể hoạt động tại tiểu khu 302, 305 (xã Quảng Đức) và tiểu khu 304 (xã Quảng Sơn). Đối với Cu li lớn, thông tin phỏng vấn xác nhận còn khoảng 02 cá thể xuất hiện tại khu vực núi Đục giáp ranh phía Tây.

Thứ tư, về phân bố sinh cảnh, hơn 80% diện tích rừng tự nhiên (gồm 6.700 ha rừng phục hồi và 3.000 ha rừng trung bình) là không gian sống cốt lõi, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào từ các loài thực vật ưu thế thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae) và họ Trâm (Myrtaceae).

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với các khu bảo tồn thiên nhiên khác ở miền Bắc, mức độ phong phú loài tại Quảng Nam Châu (04 loài) thấp hơn Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Khau Ca (06 loài), Khu bảo tồn Kim Hỷ (06 loài) và Mù Cang Chải (07 loài). Sự chênh lệch này phản ánh lịch sử tác động nương rẫy và khai thác lâm sản trong nhiều thập kỷ qua khiến diện tích rừng nguyên sinh bị thu hẹp thành các mảng rừng thứ sinh.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua bản đồ phân bố không gian GIS tỷ lệ 1/25.000 và bảng ma trận đánh giá 04 mối đe dọa theo thang đo Margoluis - Salafsky. Kết quả xếp hạng áp lực cho thấy: Săn bắn bằng súng kíp và bẫy bán nguyệt là mối đe dọa nghiêm trọng nhất (xếp loại I với tổng điểm 10/10); Khai thác gỗ trái phép bằng cưa xăng đứng thứ hai (xếp loại II với điểm số 9/10); Chăn thả tự do trên 300 con trâu bò đứng thứ ba (xếp loại III với điểm số 7/10); Thu hái lâm sản ngoài gỗ như Ba kích (giá bán tới 280.000 đồng/kg) đứng thứ tư (xếp loại IV với điểm số 4/10). Việc chuyển đổi vị trí Trạm kiểm soát bảo vệ rừng từ Suối Đôi sang Hang Vây cũng là nguyên nhân gián tiếp làm gia tăng các vụ xâm nhập rừng trái phép.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững khu hệ linh trưởng và sinh cảnh sống tại khu vực, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, cắm mốc ranh giới bảo vệ rừng trên thực địa. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp với chính quyền huyện Hải Hà hoàn thành việc phân định và cắm mốc ranh giới rõ ràng cho 10.014 ha rừng phòng hộ trong giai đoạn 2019 - 2021, nhằm chấm dứt 100% tình trạng lấn chiếm đất rừng vùng giáp ranh.

Thứ hai, tái lập trạm kiểm soát cố định và tăng cường tuần tra trọng điểm. Lâm trường 103 và Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Trúc Bài Sơn cần chuyển trạm bảo vệ rừng trở lại khu vực Suối Đôi trước năm 2022 để kiểm soát triệt để lối vào rừng duy nhất, phấn đấu giảm trên 85% các vụ khai thác gỗ và sử dụng súng săn trái phép tại các tiểu khu 302, 303, 304.

Thứ ba, nâng hạng thành Khu bảo tồn thiên nhiên Quảng Nam Châu. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần chỉ đạo xây dựng và phê duyệt đề án thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên trong giai đoạn 2020 - 2025, qua đó giảm tỷ lệ áp lực quản lý từ mức hơn 700 ha/cán bộ hiện nay xuống dưới 300 ha/cán bộ kiểm lâm chuyên trách.

Thứ tư, hỗ trợ phát triển sinh kế cộng đồng bền vững. Ban quản lý rừng và chính quyền địa phương cần ưu tiên giao khoán bảo vệ rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 777 hộ nghèo và cận nghèo tại hai xã Quảng Sơn và Quảng Đức. Song song đó, quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung nhằm loại bỏ hoàn toàn việc thả rông 300 gia súc trong vùng lõi sinh cảnh trước năm 2023.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả chuyên ngành:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng kiểm lâm địa phương, trực tiếp là Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh và Hạt Kiểm lâm Hải Hà. Luận văn cung cấp bản đồ tọa độ và dữ liệu phân bố phục vụ trực tiếp công tác quy hoạch phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và lập phương án tuần tra.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học và Sinh thái học. Tài liệu đóng vai trò như một nghiên cứu điển hình về phương pháp kết hợp điều tra tuyến ngày, tuyến đêm và lượng hóa mối đe dọa sinh thái theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nhóm thứ ba là các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong và ngoài nước quan tâm đến đa dạng sinh học dải rừng biên giới Đông Bắc. Các số liệu về 04 loài linh trưởng quý hiếm là căn cứ quan trọng để xây dựng các dự án tài trợ bảo tồn loài có nguy cơ tuyệt chủng.

Nhóm thứ tư là chính quyền địa phương cấp huyện và xã tại vùng biên giới. Đề tài cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo tồn nguồn nước ngầm phục vụ dân sinh cho hơn 8.000 nhân khẩu trong khu vực.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ linh trưởng tại rừng phòng hộ Quảng Nam Châu hiện ghi nhận được những loài nào?

Nghiên cứu đã xác định được 04 loài linh trưởng thuộc 02 họ, bao gồm Cu li nhỏ, Cu li lớn thuộc họ Cu li (Lorisidae), cùng Khỉ mặt đỏ và Khỉ vàng thuộc họ Khỉ (Cercopithecidae). Trong đó có 03 loài được quan sát trực tiếp ngoài thực địa và 100% số loài đều thuộc danh mục động vật rừng nguy cấp, quý hiếm.

Quần thể Khỉ vàng tại khu vực nghiên cứu có số lượng và phân bố như thế nào?

Qua khảo sát thực tế, quần thể Khỉ vàng được xác định gồm 03 đàn với tổng số từ 48 đến 65 cá thể. Các đàn phân bố tập trung chủ yếu tại các khoảnh rừng thuộc tiểu khu 303 và tiểu khu 304 trên địa bàn xã Quảng Sơn, nơi có thảm thực vật rừng phục hồi và rừng trung bình phát triển thuận lợi.

Hoạt động nào của con người gây nguy hại lớn nhất đến các loài linh trưởng tại đây?

Theo đánh giá ma trận mối đe dọa, hoạt động săn bắn và bẫy bắt bằng súng kíp, bẫy bán nguyệt là mối đe dọa nghiêm trọng nhất với tổng điểm tối đa 10/10. Nguyên nhân kế tiếp là việc sử dụng cưa xăng khai thác trái phép các loài gỗ quý như Lim, Sến tại tiểu khu 304 gây xáo trộn sâu sắc sinh cảnh sống.

Áp lực quản lý bảo vệ rừng hiện nay tại Quảng Nam Châu gặp những khó khăn gì về nhân lực?

Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Trúc Bài Sơn hiện chỉ có 14 cán bộ viên chức và 03 thành viên tổ bảo vệ rừng. Với diện tích rừng tự nhiên rộng trên 12.000 ha, bình quân mỗi cán bộ phải phụ trách quản lý hơn 700 ha trên địa hình đồi núi dốc, gây trở ngại lớn cho công tác kiểm soát lâm phận.

Ý nghĩa cốt lõi của việc nâng cấp rừng phòng hộ Quảng Nam Châu lên Khu bảo tồn thiên nhiên là gì?

Việc nâng hạng sẽ tạo cơ chế pháp lý để gia tăng nguồn kinh phí đầu tư, bổ sung lực lượng kiểm lâm chuyên trách và thiết lập vùng đệm an toàn. Giải pháp này giúp bảo tồn nguyên vẹn 10.014 ha sinh cảnh rừng đầu nguồn, bảo vệ các loài linh trưởng quý hiếm và củng cố vững chắc an ninh môi trường vùng biên giới.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định thành phần khu hệ linh trưởng tại rừng phòng hộ Quảng Nam Châu gồm 04 loài quý hiếm thuộc 02 họ, trong đó 100% số loài nằm trong danh mục bảo tồn ưu tiên cấp quốc gia và quốc tế.
  • Khảo sát thực địa ghi nhận quy mô quần thể Khỉ vàng đạt từ 48 đến 65 cá thể (03 đàn) và Khỉ mặt đỏ đạt từ 10 đến 15 cá thể (01 đàn), phân bố chủ yếu ở các tiểu khu 302, 303, 304 và 305.
  • Đánh giá định lượng chỉ ra săn bắn trái phép (10 điểm) và khai thác gỗ bằng cưa xăng (9 điểm) là hai mối đe dọa cấp thiết nhất đang thu hẹp sinh cảnh sống của linh trưởng.
  • Công trình đã đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về kích thước đàn, tọa độ GPS và phân bố sinh thái, đáp ứng trực tiếp yêu cầu khoa học cho đề án thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Quảng Nam Châu.
  • Thiết lập lộ trình hành động giai đoạn 2019 - 2025 tập trung cắm mốc ranh giới, tái lập trạm tuần tra Suối Đôi và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho 777 hộ dân nghèo sống phụ thuộc vào rừng.

Các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cần sớm phê duyệt quy hoạch nâng hạng khu bảo vệ, tăng cường đầu tư trang thiết bị giám sát đa dạng sinh học nhằm bảo tồn vẹn nguyên nguồn gen linh trưởng quý báu của quốc gia.