ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, đặc biệt là khu hệ linh trưởng gồm 25 loài và phân loài, thuộc các họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae) (Roos et al. Trong đó, có bốn loài linh trưởng là loài đặc hữu của Việt Nam, bao gồm: Voọc cát bà (T.policephalus), Voọc mông trắng (T.delacouri), Voọc mũi hếch (R.avunculus) và Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) [12]. Ngày nay, do các tác động ngày càng lớn của con người lên các quần thể và sinh cảnh sống nên các loài Linh trưởng ở Việt Nam đều đang bị đe dọa tuyệt chủng, theo sách đỏ Việt Nam năm 2007, có 4 loài trong tình trạng "Cực kỳ nguy cấp" (CR) và 7 loài ở tình trạng "Nguy cấp" (EN) [2]. Đặc biệt, Việt Nam được ghi nhận là quốc gia có hai trong số 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới giai đoạn 2016-2018 (Schwitzer et al.
Nhận thấy được tầm quan trọng phải giữ gìn, bảo tồn các loài linh trưởng và tiềm năng phát triển của chúng đối với cộng đồng và để tăng cường bảo tồn và kiểm soát hoạt động săn bắt, buôn bán trái phép các loài linh trưởng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 628/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2017) [10]. Quảng Ninh được biết đến là tỉnh có sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, các dạng địa hình và các hệ sinh thái. Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chính sách liên quan đến đa dạng sinh học trong toàn tỉnh nhằm có biện pháp bảo vệ các loài động, thực vật nguy cấp quý hiếm như "Kế hoạch hành động Đa dạng sinh học tỉnh đến năm 2020", qua đó xác định rõ về phạm vi, đánh giá và lập các danh lục động vật trong địa bàn [1]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Rừng phòng hộ biên giới Quảng Nam Châu nằm trên địa bàn hai xã Quảng Sơn và Quảng Đức là khu vực có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học.
Quảng Nam Châu là rừng phòng hộ biên giới. Đây được xem là nơi có diện tích rừng tự nhiên lớn, có tiềm năng trong việc duy trì vào bảo tồn khu hệ động vật trong khu vực. Với diện tích khoảng 12.000ha rừng tự nhiên.700 ha rừng thường xanh phục hồi và trung bình, chiếm hơn 80% tổng diện tích rừng trong toàn khu vực (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, 2015) [3]. Cho đến nay đã có nghiên cứu về thành phần loài thú tại Rừng phòng hộ Quảng Nam Châu, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về các loài linh trưởng.
Kết quả bước đầu đã ghi nhận được 23 loài thú thuộc 14 họ và 6 bộ, trong đó ghi nhận sự có mặt của 3 loài linh trưởng: Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus), Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides) và Khỉ vàng (Macaca mulatta) [11]. Tuy nhiên, những thông tin về phân bố cũng như các mối đe dọa đến khu hệ linh trưởng còn thiếu. Từ thực tế trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tình trạng các loài Linh trưởng tại rừng phòng hộ Quảng Nam Châu, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh” nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về khu hệ linh trưởng để phục vụ công tác quản lý và bảo tồn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Phân loại Linh trƣởng ở Việt Nam 1. Đặc điểm chung của Linh trưởng Bộ Linh trưởng (Primates) hay còn gọi là Bộ Khỉ hầu gồm những loài thú có kiểu đi bằng cả bàn chân, sống chủ yếu trên cây, ăn tạp hay ăn thực vật. Ngoài những đặc điểm chung về cấu tạo của động vật có xương sống, của nhóm thú thì sự thích nghi với đời sống trên cây của Linh trưởng được đặc trưng bởi hình dạng và cấu trúc các chi. Xương cẳng tay, xương cánh tay khớp động với xương bả vai và có thể quay quanh trục của nó.
Chi có 5 ngón, ngón 1 (ngón cái) nằm đối diện với 4 ngón còn lại. Hệ xương đai ngực luôn có xương đòn, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cử động ngang của chi trước một thể loại vận động rất cần thiết cho đời sống leo trèo. Nhờ cấu tạo đặc biệt này nên chi trước giảm đáng kể vai trò nâng đỡ cơ thể trong vận chuyển và khả năng cầm nắm tốt hơn gọi là tay. Thân chuyển dần tư thế nằm ngang của nhóm thú thành chiều thẳng đứng, đồng thời sự thay đổi đó cũng đã làm thay đổi vị trí của nhiều nội quan và não.
Hộp sọ tăng theo chiều cao và giảm nhiều chiều dài. Đáy hộp sọ nằm vuông góc với cột sống. Hai hố mắt gần nhau, mắt hướng về trước tạo nên kiểu nhìn lưỡng hình. Thể tích hộp sọ tương đối lớn so với cơ thể và phát triển đồng thời với sự tăng thể tích não bộ.
Tăng thể tích não bộ là đặc điểm rất tiến hoá tiến bộ của Linh trưởng. Trong não, áo não mới phát triển mạnh cả về thể tích và khối lượng. Thùy khứu giác giảm nhiều. Cùng với sự phát triển áo não mới là sự phát triển số lượng khe rãnh trên bán cầu não.
Não trước có hai bán cầu với kích thước lớn và trùm lên nhiều phần não khác. Liên quan đến sự phát triển áo não mới là sự phát triển các phản xạ thần kinh có điều kiện và các đặc điểm tâm sinh lý (Phạm Nhật, 2002) [9]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Răng Linh trưởng có 2 loại: răng sữa và răng chính thức. Răng cửa to, răng hàm có 4 nón tù.
Cấu tạo bộ răng thích nghi với chế độ ăn tạp nhưng thiên về thực vật (quả, lá). Số lượng răng của các loài Linh trưởng có thể biến đổi từ 32 đến 36 chiếc. Linh trưởng ở Con Đực, có một đôi tinh hoàn và luôn nằm trong bìu da ở ngoài bụng. Con Cái có một đôi vú ngực phát triển, có tử cung đơn hoặc hai sừng.
Nhau của Linh trưởng thuộc loại nhau tán, không rụng ở nhóm Leiur và rụng ở các loài khác. Thời gian mang thai dài, thường đẻ một Con. Con non đẻ ra yếu, thời gian bú sữa dài (Phạm Nhật, 2002). Phân loại Linh trưởng ở Việt Nam Cho đến nay đã có nhiều nhà khoa học trong nước và quốc tế nghiên cứu về khu hệ Linh trưởng ở Việt Nam và đưa ra nhiều quan điểm phân loại Linh trưởng khác nhau, các quan điểm này thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 1.
Chẳng hạn, Phạm Nhật (2002) cho rằng Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Trong khi đó Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài. Tổng kết về phân loại Linh trƣởng ở VN theo thời gian Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) 2011 3 26 Blair et al (2011) 2012 3 25 Nadler (2012) 2014 3 25 Roos et al (2014) Qua bảng trên cho thấy thành phần loài khu hệ Linh trưởng ở Việt Nam khác nhau giữa các tác giả, tuy nhiên các tác giả đều thống nhất khu hệ Liunh trưởng gồm 3 họ. Trong nghiên cứu này việc định danh các loài Linh trưởng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tại khu vực nghiên cứu sẽ theo hệ thống phân loại của Rooset al.,(2014) vì đây là hệ thống phân loại mới nhất, phản ánh đầy đủ phân loại học của Linh trưởng Việt Nam và đã được các nhà khoa học sử dụng rộng trong thời gian gần đây. Phân ố Linh trƣởng Việt Nam Khu hệ Linh trưởng ở Việt Nam phân bố hầu khắp các tỉnh có rừng trong cả nước, trong đó một số loài có vùng phân bố rộng như: Cu li nhỏ, Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Khỉ vàng.
Và ngược lại một số loài có phân bố rất hẹp như Voọc Cát Bà, Voọc mũi hếch, Vượn Cao vít.kết quả cụ thể được trình bày trong bảng 1. Phân ố Linh trƣởng Việt Nam Tên Phân ố Nguồn TT loài Trong nƣớc Quốc tế Phân bố của loài được ghi nhận từ Assam, Ấn BKHCN, Thừa Thiên Huế trở ra Bắc. Cụ thể Độ, Miến 2007; ở Lạng Sơn (Hữu Lũng), Bắc Cạn Điện, Thái Roos et (Chợ Đồn, Ba Bể), Hòa Bình (Đà Lan, Cam al, 2014 Cu li 1 Bắc), Quảng Bình (Bố Trạch), Pu Chia, lớn Quảng Trị (Lao Bảo) Thừa Thiên Lào, Huế (Huế), Quảng Ninh (Hoàng Malaysia, Bồ),… Indonesia và Philipin Phân bố từ biên giới phía Bắc đến Nam Trung BKHCN, tỉnh Bình Phước. Quốc, Lào 2007; Cu li Được ghi nhận nhiều nơi: Hà và Cam Pu Roos et 2 nhỏ Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Chia al, 2014 Sơn La, Hòa Bình, Hà Tây, Ninh Bình, Quảng Trị, Gia Lai, Kontum , LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Tên Phân ố Nguồn TT loài Trong nƣớc Quốc tế Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đồng Nai, Phú Yên,… Hà Giang (Quảng Bạ), Cao Bằng Ấn Độ BKHCN, (Trùng Khánh, Quảng Hòa), Lai (Assam), 2007; Châu (Mường Tè, Tuần Giáo, Sình Mianma, Roos et Hồ), Yên Bái (Văn Chấn), Sơn La Nam Trung al, 2014 (Sông Mã, Mai Sơn, Quỳnh Nhai, Quốc, Thái Mộc châu), Hòa Bình (Đà Bắc, Kim Lan, Đông Khỉ mặt 3 Bôi, Mai Châu), Thanh Hóa (Hồi Dương và đỏ Xuân, Như Xuân), Hà Tĩnh (Hương bán đảo Khuê, Hương Sơn), Quảng Bình Malaysia.
Nêpan, Ấn BKHCN, Độ, Bắc 2007; Khỉ Phân bố từ biên giới phía Bắc trở vào Mianma, Roos et 4 mốc Quảng Bình Nam Trung al, 2014 Quốc, Thái Lan và Lào Nêpan, Ấn BKHCN, Độ, Mianma, 2007; Phân bố khắp các tỉnh có rừng từ Khỉ Trung Quốc, Roos et 5 Gia Lai trở ra Bắc kể cả các đảo gần vàng Đảo Hải Nam al, 2014 bờ. Thái Lan và Lào, Pakistan, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tên Phân ố Nguồn TT loài Trong nƣớc Quốc tế Ấn Độ BKHCN, Voọc Hòa Bình (Chi Nê), Ninh Bình (Cúc 2007; 6 mông Phương, Vân Long), Thanh Hóa, Roos et trắng Hà Nam (Kim Bảng). al, 2014 Quảng Tây BKHCN, Voọc Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Trung Quốc 2007; 7 đen má Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn Roos et trắng và Thái Nguyên.