Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về đặc điểm giải phẫu, sinh lý của răng và men răng 1. Tổng quan về đặc điểm giải phẫu, sinh lý của răng 1. Đặc điểm giải phẫu của răng Răng là một bộ phận nằm trong hệ thống nhai.
Hệ thống nhai bao gồm răng, nha chu, xương hàm, khớp thái dương hàm, các cơ nhai, các dây thần kinh, mạch máu, hệ thống tuyến nước bọt, hệ thống môi- má- lưỡi [3], [8]. Cơ quan răng được coi là đơn vị cấu tạo và chức năng của bộ răng, bao gồm răng và nha chu răng là bộ phận chính, trực tiếp nhai nghiền thức ăn, gồm men răng, ngà răng và tủy răng. Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa phần thân răng và chân răng là đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), còn gọi là đường nối men cement.
Thân răng được bao bọc bởi men răng, chân răng được cement bao phủ. Nha chu là phần mô mềm bao trong miệng, bao quanh xương ổ răng, răng và giữ kín răng. Mô nha chu bao gồm mô nướu dính và nướu rời, có tác dụng bao bọc và nâng đỡ răng đứng vững trên cung hàm [3], [8]. Nướu răng bao quanh cổ răng tạo thành bờ, gọi là cổ răng sinh lý.
Phần răng thấy được trong miệng là thân răng lâm sàng. Thân răng bao gồm men, ngà răng (men cứng) và tủy răng (men mềm) [3], [8]. - Men răng: có nguồn gốc ngoại bì, là tổ chức cứng nhất cơ thể. Lớp men phủ thân răng thường là dãy mỏng không đều, chỗ dày nhất là núm răng (hơn 1,5mm), ở vùng cổ, men răng mỏng dần và tận cùng bằng một cạnh góc nhọn.
Bên ngoài men răng có phủ một lớp hữu cơ gọi là mảng thứ phát. Lúc răng mới mọc, men răng còn non, có tới 30% chất hữu cơ và nước. Dần dần men rang già đi, chất vô cơ tăng dần, có thể là do các tinh thể sắp xếp lại sát nhau hơn, mặt khác men răng cũng ngấm các chất vi lượng chủ yếu là fluor làm cho apatit 4 chuyển thành fluoroapatit. Men bao phủ thân răng, hầu như không có cảm giác [3], [8].
- Ngà răng: là một tổ chức chiếm khối lượng chủ yếu ở thân răng, trong điều kiện bình thường ngà răng không lộ ra ngoài, và được bao phủ hoàn toàn bởi men răng và xương răng. Ngà răng ít cứng hơn men răng, gồm 70% vô cơ, 30% hữu cơ và nước, ngà liên tục từ thân đến chân răng, tận cùng ở chóp răng (apex), trong lòng chứa buồng tủy và ống tủy. Ngà có cảm giác vì chứa các ống thần kinh Tomes. Ngà răng cứng nhất được thấy ở khoảng cách tủy 0,4 đến 0,6mm cho tới khoảng giữa lớp ngà, ở gần tủy, ngà răng mềm hơn, ở vùng ngoại vi tương đối mềm.
Ngà răng tự nhiên có màu vàng nhạt, có độ đàn hồi cao. Ngà răng xốp và có tính thẩm [3], [8]. - Tủy răng: là liên kết lỏng lẻo trong buồng và ống tủy, là đơn vị sống chủ yếu của răng. Trong tủy có mạch máu, thần kinh, bạch mạch.Có một loại tế bảo đặc biệt là các tạo ngà bào xếp thành một hàng ở sát vách tủy.
Các tạo ngà bảo liên tục tạo ra ngà bào (ngà thứ phát) làm cho hốc tủy ngày càng hẹp lại [3], [8]. Men răng Ngà răng Nướu Tủy răng Chân răng Dây chằng nha chu Cement Xương ổ răng Hình 1. Cấu trúc của răng Nguồn: Trần Đình Tuyển [8] 5 1. Đặc điểm sinh lý mọc răng Khi thân răng được hình thành răng bắt đầu mọc và tiếp diễn trong suốt đời của răng.
Răng mọc lên được, một phần do chân răng cấu tạo dài ra, một phần do sự tăng trưởng của xương hàm. Khi chân răng được cấu tạo hoàn tất, răng vẫn tiếp tục mọc lên được, nhờ vào sự bồi đắp liên tục chất cement ở chóp chân răng. Mỗi răng có lịch thời gian mọc và vị trí nhất định trên cung hàm, nhờ vậy các răng ở hàm trên và dưới sắp xếp thứ tự và ăn khớp với nhau. Chân răng được hình thành và hoàn tất sau 3 năm kể từ thời điểm răng mọc (hiện tượng đóng chóp).
Tuổi đóng chóp = tuổi mọc răng + 3 [8]. Có hai thời kỳ mọc răng: - Thời kỳ mọc răng sữa: Răng sữa mọc vào trong khoang miệng khoảng tháng thứ 6 sau khi sinh. Đến 2 hoặc 3 tuổi, trẻ em có đủ bộ răng sữa gồm 20 răng (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới). Ngoài chức năng ăn nhai, phát âm, răng sữa đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của xương hàm và giữ đóng vị trí cho răng vĩnh viễn mọc lên sau này.
Chân răng sữa tiêu dần đi khi đến tuổi thay, răng vĩnh viễn thay thế mọc lên thay vào vị trí răng sữa. Trẻ em từ 6-11 tuổi hiện diện cả răng sữa và răng vĩnh viễn trên cung hàm, gọi là răng hỗn hợp [8]. - Thời kỳ mọc răng vĩnh viễn: Mầm răng vĩnh viễn, một số được hình thành trong thời kỳ bảo thai, từ tháng thứ 3 đến 5, số còn lại hình thành sau khi sinh đến tháng thứ 9. Riêng mầm răng khôn hình thành lúc 4 tuổi.
Răng vĩnh viễn được lắng đọng chất men, ngà (sự khoáng hóa) bắt đầu từ lúc sinh ra đến 6 - 7 tuổi. Riêng mầm răng khôn lắng đọng chất men lúc 10 tuổi. Răng vĩnh viễn bắt đầu mọc để thay thế dần răng sữa khi trẻ được 6 tuổi. Khi trẻ 12 - 13 tuổi, tất cả răng sữa sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn.
Lúc 17 - 21 tuổi có đủ bộ răng vĩnh viễn gồm 32 răng [8]. Tổng quan về men răng 1. Men răng Men răng là sản phẩm cuối cùng và trưởng thành từ sản phẩm ban đầu của nguyên bào men là khuôn men. Nhưng đó thật sự là một quá trình rất phức tạp của hoạt động tế bào và khoáng hóa nội bào từng đợt và có cấu trúc gần như thuần khiết.
Men răng là kết quả của các quá trình diễn ra đồng thời trong mỗi mầm răng: nó trải qua 4 giai đoạn làm cho lượng khoáng chất tăng cao, lắng đọng thành phần vô cơ, giảm thành phần nước, protein [7]. Men răng là mầm răng cối lớn thứ nhất và các răng cửa vĩnh viễn thường bắt đầu khoáng hóa trong giai đoạn thai kì và hoàn thành đến khoảng 3 tuổi (Bảng 1. Thời gian khoáng hóa răng cối lớn thứ nhất và răng cửa Bắt đầu Hoàn thành Mọc răng khoáng hóa thân răng Hàm Hàm Hàm Hàm Hàm Hàm trên dưới trên dưới trên dưới Răng 3 tháng 3 tháng 4,5 tuổi 3,5 tuổi 7 tuổi 6 tuổi cửa giữa tuổi tuổi Răng 11 tháng 3 tháng 5,5 tuổi 4 tuổi 8 tuổi 7,5 tuổi cửa bên tuổi tuổi Răng cối Tháng Tháng Gần 4 lớn thứ thứ 8 thứ 8 4,5 tuổi 6 tuổi 6 tuổi tuổi nhất thai kì thai kì Nguồn: Taylor [64] Thành phần của men răng: men răng cấu tạo bởi nhiều thành phần, ban đầu chiếm khoảng 50% là nước sau đó giảm dần theo quá trình khoáng hoá, khuôn protein chủ yếu là các protein và một lượng nhỏ carbonhydrat cùng chất béo. Các thành phần tinh thể, amino acid của protein và một số ít vi lượng [7].
Phân loại bất thường phát triển men răng Các bất thường phát triển men răng hình thành trước khi răng mọc lên trên miệng trong thời kì tạo men, thể tích men răng hoặc chất lượng khoáng hóa men răng điều có thể bị ảnh hưởng hoặc đôi khi hoặc kết hợp cả hai. Nghiên cứu của Robert A.Colby và cộng sự năm 1961 sử dụng thuật ngữ loạn sản men để nói đến hai dạng bất thường của men răng trong quá trình phát triển [4]: - Kém khoáng hóa : do một yếu tố nào đó ức chế sự trưởng thành của men răng, sự vôi hóa men răng. - Thiểu sản men : là kết quả của sự xáo trộn trong giai đoạn tạo khuôn hữu cơ của men răng. Ngoài các yếu tố nêu trên có vài nguyên nhân thuộc về môi trường, bệnh toàn thân và di truyền đều có thể là bệnh căn của cả 2 loại bệnh trên.
Thuật ngữ sinh men bất toàn được dùng cho thiểu sản men di truyền. Ủy ban sức khỏe răng miệng, nghiên cứu và dịch tễ học của Liên đoàn nha khoa quốc tế (FDI, 1992) đã phân loại bất thường phát triển men răng thành ba nhóm chính: đục men khu trú, đục men lan tỏa và thiểu sản men [4], [41]. - Đục men khu trú: là một khiếm khuyết do sự kém khoáng hóa men răng, độ dày của men răng bình thường nhưng độ trong của men răng có sự thay đổi. Các tổn thương này có ranh giới rõ ràng với vùng men bình thường.
Màu sắc của men răng thay đổi từ trắng, vàng đến nâu. - Đục men lan tỏa: là tổn thương làm cho độ đục của men răng thay đổi nhưng độ dày men răng bình thường. Ranh giới độ đục với men răng lành không rõ ràng. Fluor được xem là nguyên nhân chính gây ra đục men lan toả.
Về mặt mô học, đục men lan tỏa là bất thường có lớp dưới bề mặt kém khoáng hóa được che phủ bởi lớp men bề mặt khoáng hóa tốt ở trên. Các bất thường này là 8 kết quả tổn thương ở mức độ nhẹ nhưng kéo dài, liên quan đến sự ngừng trưởng thành men. - Thiểu sản men: là những xáo trộn xảy ra trong giai đoạn hình thành khung hữu cơ. Men răng bị mỏng, bề mặt lỗ chỗ, xù xì không đều, có hoặc không có các rãnh dọc và các rãnh khía.
Màu sắc có thể thay đổi khi thì bình thường hoặc màu vàng, nâu sẫm, màu sắc này phụ thuộc vào độ mỏng của men răng và mức độ ánh sáng xuyên qua lớp ngà bên dưới. Tổn thương này xảy ra do bị tác động trong giai đoạn bài tiết của sự tạo khuôn men. Kém khoáng hóa men răng 1. Khái niệm về kém khoáng hóa men răng Theo tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi của Hiệp hội Nha khoa trẻ em Châu Âu, kém khoáng hóa men răng là tình trạng kém khoáng hóa trên răng cối lớn vĩnh viễn thứ nhất và có thể phát hiện trên răng cửa vĩnh viễn [45].
Một lưu ý quan trọng là Flour không hề liên quan đến tổn thương này [64]. Có nhiều mức độ kém khoáng hóa hay gặp từ nhẹ như đốm đục trắng, vàng, nâu đến nặng như gây mất chất, vỡ men răng. Đặc điểm lâm sàng của kém khoáng hóa men răng Qua nghiên cứu và khám lâm sàng chúng ta gặp những tổn thương của kém khoáng hóa như sau: - Mất chất, vỡ men răng: Khi men răng bị kém khoáng thì bề dày men không thay đổi chỉ có độ cứng và độ kém khoáng hóa bị ảnh hưởng.