CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về tình trạng dinh dưỡng 1. Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các chỉ số sức khỏe (các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hóa sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể) phản ánh mức đáp ứng các chất dinh dưỡng từ khấu phần ăn so với nhu cầu thực tế của cơ thể. Trong đó người ta chỉ sử dụng những chỉ số biến đổi trước ảnh hưởng của dinh dưỡng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng [20].
Tình trạng dinh dưỡng của mỗi cá thể phản ánh một mức độ mà trong đó các nhu cầu về sinh lý về các chất dinh dưỡng được thỏa mãn. Cân bằng giữa khẩu phần dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng cho một trạng thái sức khỏe tốt. Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới tính, tình trạng sinh lý và mức độ hoạt động thể lực. Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hóa, hấp thu mà còn phải phụ thuộc vào các yếu tố khác như hóa sinh, sinh lý trong quá trình chuyển hóa.
Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của cá thể, tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt là dấu hiệu của vấn đề sức khỏe hoặc vấn đề dinh dưỡng, hoặc cả hai [4], [11]. Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị Từ các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rõ ràng được mối liên quan giữa việc điều trị bằng thuốc gắn với chế độ dinh dưỡng hợp lý. Căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh, diễn biến từng giai đoạn của bệnh gắn với nguy cơ suy dinh dưỡng, cán bộ dinh dưỡng và bác sỹ điều trị phối hợp đưa ra chẩn đoán dinh dưỡng để xây dựng một chế độ ăn hợp lý cho từng người bệnh góp phần tăng cường hiệu quả điều trị, phòng ngừa một số biến chứng, tiến triển xấu ở người bệnh [6]. Khi người bệnh vào viện, ngoài việc đang có một thể trạng không bình thường thì việc thay đổi môi trường sống, thói quen sinh hoạt và đặc biệt là chế độ 4 dinh dưỡng sẽ gây ra sự xáo trộn đáng kể từ đó cơ thể có khả năng phản ứng hoặc không thích nghi kịp, như vậy chế độ sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng tác động không tích cực tới quá trình chuyển hóa trong cơ thể và nếu không điều chỉnh kịp thời thì đa phần sẽ mang lại bất lợi cho sức khỏe.
Đối với các bệnh lý rối loạn chuyển hóa thì việc sử dụng thuốc và chế độ dinh dưỡng phù hợp là một trong những yêu cầu tất yếu để mang lại hiệu quả điều trị [17]. Không thể phủ nhận được vai trò của dinh dưỡng trong công tác dự phòng và điều trị bệnh như tình trạng thiếu Vitamin A với bệnh khô mắt; Bướu cố do thiếu Iốt; thiếu máu do thiếu sắt; tác giả Phạm Anh Đức và Hoàng Thị Thanh năm 2006 đã chỉ ra viêm phổi, tiêu chảy và thiếu máu ở trẻ em có liên quan chặt chẽ với tình trạng nhẹ cân [19]. Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh bao gồm: Để xác định tình trạng dinh dưỡng thường sử dụng nhiều chỉ số đánh giá như: Các chỉ số nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, độ dày lớp mỡ dưới da…), chỉ số sinh hóa (Albumin, prealbumin, transferi, …). Không có chỉ số nào đơn độc có thể xác định được tình trạng dinh dưỡng, vì vậy các chỉ số phải được sử dụng kết hợp trong lâm sàng để đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng của người bệnh.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự dụng đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo BMI và NUTRIC: 1. Phương pháp đánh giá chỉ số nhân trắc BMI theo tiêu chuẩn người châu Á. Người bệnh phải được đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thể trạng ngay từ lúc vào bệnh viện hay tại thời điểm chuyển vào Trung tâm HSTC. Có nhiều phương pháp đánh giá.
Đánh giá dựa vào các số đo nhân trắc, dựa vào chỉ số khối cơ thể (BMI), dựa vào tình trạng mất trọng lượng hay dựa vào một số thông số sinh hóa máu. Chỉ số BMI Trong phương pháp nhân trắc, các chỉ số chính thường được sử dụng là chỉ số khối cơ thể (BMI) = cân nặng (kg)/(chiều cao)2, bề dày nếp gấp da, số đo chu vi Thang Long University Library 5 vòng cánh tay và sức mạnh của cơ, trọng lượng và tỷ lệ % của khối cơ và khối mỡ trong cơ thể. BMI < 18,5 là thiếu năng lượng trường diễn, BMI từ 17 - 18,49 là CED độ I, BMI từ 16 – 16,99 là CED độ II, BMI từ ≤ 16 là CED độ III (suy dinh dưỡng nặng) Đánh giá BMI dựa vào thang phân loại của Hiệp hội đái tháo đường các nước châu Á (IDI & WPRO) được áp dụng cho người châu Á năm 2000 [66]. Bảng phân loại BMI theo IDI & WPRO Phân loại BMI (kg/m2 ) - IDI & WPRO Cân nặng thấp (gầy) < 18,5 Bình thường 18,5 – 22,9 Thừa cân ≥ 23 Tiền béo phì 23 – 24,9 Béo phì độ I 25 – 29,9 Béo phì độ II 30 – 34.9 Béo phì độ III ≥ 35 Ưu điểm của BMI là đơn giản, dễ đánh giá nhưng lượng thông tin cung cấp ít và phải kết hợp với các phương pháp đánh giá khác.
Đánh giá dinh dưỡng theo NUTRIC Thang điểm NUTRIC được đánh giá dựa trên 06 thông tin như tuổi, số bệnh kèm theo, số ngày nằm viện cho tới khi vào ICU, tổng điểm đánh giá mức độ nặng của bệnh (APACHE II) và điểm đánh giá suy tạng (SOFA) trong 24h kể từ khi nhập viện [65], [62]. Điểm NUTRIC với mục đích định lượng nguy cơ bệnh nhân bị bệnh nặng khi sự phát triển bất lợi của bệnh có thể được sửa đổi bằng liệu pháp dinh dưỡng tích cực. Điểm số từ 1-10; nếu tổng điểm ≥ 5: có nguy cơ SDD cao hơn; tổng điểm < 5 nguy cơ SDD thấp. Hệ thống tính điểm được thể hiện trong bảng sau: 6 Bảng 1.
Các biến số điểm NUTRIC Biến số Giá trị Điểm < 50 0 Tuổi 50 - < 75 1 > 75 2 < 15 0 15 - < 20 1 APACHE II 20 - 28 2 > 28 3 <6 0 SOFA 6 - < 10 1 > 10 2 0-1 0 Số bệnh đồng mắc >2 1 Số ngày vào bệnh viện đến khi 0-<1 0 nhập viện ICU >1 1 0 - < 400 0 IL-6 > 400 1 Bảng 1. Hệ thống tính điểm NUTRIC Score: nếu có IL-6 Tổng điểm Điểm Giải thích Kết hợp với kết quả lâm sàng xấu hơn (tử vong, thông khí).Những bệnh nhân này có nhiều khả 6-10 Điểm cao năng được hưởng lợi từ liệu pháp dinh dưỡng tích cực. Những bệnh nhân này có nguy cơ suy dinh 0-5 Điểm thấp dưỡng thấp. Thang Long University Library 7 Bảng 1.
Hệ thống tính điểm NUTRIC Score: Nếu không có IL-6 * Tổng điểm Điểm Giải thích Kết hợp với kết quả lâm sàng xấu hơn (tử vong, thông khí).Những bệnh nhân này có nhiều khả 5-9 Điểm cao năng được hưởng lợi từ liệu pháp dinh dưỡng tích cực. Những bệnh nhân này có nguy cơ suy dinh 0-4 Điểm thấp dưỡng thấp. Ưu điểm của phương pháp này là đánh giá khá chính xác tình trạng dinh dưỡng tại khoa ICU nhưng nhược điểm là nhiều chỉ số và mất nhiều thời gian cho đánh giá lâm sàng hàng ngày. Phương pháp sàng lọc nguy cơ dinh dưỡng 2002 (NRS - Nutrition Risk Screening) Phương pháp sàng lọc dinh dưỡng NRS 2002 do Hiệp hội dinh dưỡng lâm sàng (ESPEN) công bố năm 2003, gồm 3 thành phần: (1) dựa vào các tiêu chí: BMI, sụt cân, lượng thức ăn đưa vào trong tuần trước để đánh giá TTDD, (2) đánh giá mức độ nặng của bệnh, (3) tuổi tác [35].
Phương pháp NRS 2002 đánh giá TTDD và nguy cơ SDD có thể áp dụng với người bệnh nhập viện, sử dụng các thông số về TTDD và tình trạng bệnh lý hiện mắc, để xác định người bệnh nào cần hỗ trợ dinh dưỡng. Từ 128 cuộc thử nghiệm ngẫu nhiên, người ta thấy rằng trong khi các công cụ khác tập trung vào chẩn đoán SDD dựa trên những nguy cơ của nó, NRS 2002 tìm cách xác định những người bệnh có khả năng được hưởng lợi ích nhờ can thiệp dinh dưỡng [36] dựa vào các tiêu chí: tình trạng sụt cân, tình trạng ăn uống, BMI, bệnh nặng kèm theo. Nếu điểm NRS 2002 ≥ 3: người bệnh có nguy cơ SDD; nếu điểm NRS 2002 < 3: đánh giá lại nguy cơ dinh dưỡng hàng tuần. Trong thực hành lâm sàng, NRS 2002 được coi là tốn ít thời gian hơn và ít đòi hỏi trình độ của người thực hiện hơn các công cụ khác [35].
Sàng lọc nguy cơ 8 dinh dưỡng giúp xác định hoặc dự đoán nguy cơ phát triển của bệnh cùng với nguy cơ biến chứng, tử vong, chi phí điều trị y tế. Một nghiên cứu sử dụng công cụ này được tiến hành trên 2566 người bệnh cho thấy NRS 2002 đáng tin cậy để dự đoán SDD và có giá trị tiên đoán về tiên lượng người bệnh thông qua thời gian nằm viện [35]. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp tổng thể chủ quan (Subjective Global Assessment – SGA) Phương pháp SGA được Destky, trường đại học Toronto (Canada) xây dựng và công bố năm 1985 [42]. Cho đến nay, phương pháp SGA là một trong những công cụ sàng lọc và đánh giá TTDD trong thực hành lâm sàng được áp dụng tại nhiều nơi trên thế giới như Ấn Độ, Australia, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc.
SGA được coi như một công cụ vừa sàng lọc vừa đánh giá tình trạng dinh dưỡng đơn giản, không lấy máu, chi phí thấp, có giá trị tiên lượng tốt với độ nhạy và độ đặc hiệu cao, cho kết quả nhanh sau 15 đến 30 phút tùy kỹ năng chuyên môn của nhân viên đánh giá [43]. Năm 2011, theo đánh giá của Hiệp Hội Dinh dưỡng đường miệng và đường tĩnh mạch của Mỹ (ASPEN), SGA là công cụ hàng đầu trong số các công cụ được lựa chọn dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng [44] nhưng không thực sự phù hợp tại ICU. Do nhược điểm của SGA là tính chủ quan trong việc đánh giá. Phân loại SGA: (chọn một lựa chọn) □ A = Dinh dưỡng tốt □ B = Suy dinh dưỡng mức độ trung bình □ C = Suy dinh dưỡng mức độ nặng 1.