ĐẶT VẤN ĐỀ Tật khúc xạ (cận thị, viễn thị, loạn thị) là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực, đặc biệt là ở trẻ em, ảnh hưởng đến thị lực, thẩm mỹ, học tập, sinh hoạt, vui chơi và giải trí của trẻ nhất là ở trẻ nhỏ. Trên thế giới, năm 2009, có khoảng 2,2 triệu người có vấn đề về thị lực, trong đó có ít nhất 20 triệu học sinh mắc tật khúc xạ học đường (1) và khoảng 154 triệu người (hơn 13 triệu là trẻ em) (từ 6 -12 tuổi) đang bị cận thị nhưng chưa được điều trị. Cận thị nếu không được khám phát hiện và can thiệp kịp thời, thị lực kém sẽ làm giảm khả năng học tập, ảnh hưởng tới mặt thể chất, tinh thần của học sinh, ngoài ra có thể gây nhược thị (2). Việt Nam là một trong quốc gia với tỷ lệ người mắc bệnh cao, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh tiểu học, nhất là học sinh ở các thành thị.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông (2012) ghi nhận tỷ lệ tật khúc xạ học sinh tiểu học tại huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long là 14,8% (3). Tương tự, nghiên cứu của Trần Đức Nghĩa (2019) tại thành phố Điện Biên Phủ cũng ghi nhận tỷ lệ học sinh tiểu học mắc cận thị là 17,2% (4). Tỷ lệ học sinh mắc tật khúc xạ, trong đó có cận thị, ngày càng gia tăng, dù trẻ đã được chỉnh kính và đeo kính thì số độ kính hàng năm cũng tăng lên rất nhanh (5- 7). Theo các chuyên gia nhãn khoa ở Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh, bệnh cận thị học đường đang có xu hướng tăng nhanh, tuy nhiên nguyên nhân chính chưa được xác định rõ ràng.
Trong đó, cường độ cũng như về thời gian và các phương tiện học tập như ti vi, máy vi tính, mạng internet,. đòi hỏi sử dụng mắt liên tục. Nhiều nghiên cứu chỉ ra việc học sinh ngồi học không đúng tư thế (cúi quá gần), đọc sách hoặc sử dụng thiết bị điện tử quá lâu, học trên bàn ghế không đúng kích thước hoặc phòng học thiếu ánh sáng,. làm gia tăng tỷ lệ mắc cận thị và các tật khúc xạ (8-11).
Tình trạng cận thị học đường đã được đề cập nhiều trong một số báo cáo về công tác y tế học đường của quận Gò Vấp. Báo cáo năm 2021 của Trường Tiểu học Trần Văn Ơn cho thấy tỷ lệ trẻ mắc tật khúc xạ tăng so với năm 2020, cụ thể năm 2021 tổng học sinh mắc tật khúc xạ là 23,1%, trong đó tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh nam là 22,7%, nữ là 24,4% (12). Theo báo cáo đầu năm 2022 về vấn đề sức khỏe của học sinh cho thấy có 243 học sinh mắc các bệnh về mắt, trong đó có 190 trẻ mắc các bệnh tật khúc xạ chiếm 78,2%. Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 5, đây 2 là lứa tuổi đang phát triển cả về thể chất và tinh thần, nên cần được quan tâm nhiều hơn về sức khỏe cũng như tâm sinh lý của trẻ.
Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu cung cấp thông tin về tình trạng và các yếu tố liên quan đến cận thị của học sinh được tiến hành tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Gò Vấp. Câu hỏi đặt ra ở đây là tỷ lệ cận thị của học sinh khối lớp 5 là bao nhiêu và có những mối liên quan nào? Để đánh giá được thực trạng của cận thị ở học sinh từ đó đề xuất những biện pháp cải thiện, cung cấp kiến thức và thúc đẩy công tác giáo dục sức khỏe về cận thị học đường cho học sinh bậc tiểu trên địa bàn quận Gò Vấp, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Cận thị và một số yếu tố liên quan ở học sinh lớp 5 trường Tiểu học Trần Văn Ơn, phường 3, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2022”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng cận thị của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Trần Văn Ơn, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022.
Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng cận thị của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Trần Văn Ơn, phường 3, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022. Mắt, tình trạng khúc xạ của mắt và tật cận thị ở mắt 1. Mắt Mắt của chúng ta nhìn được một vật nào đó là do ánh sáng chiếu vào vật đó phát ra các tia phản xạ, các tia này xuyên qua không khí và các môi trường trong suốt của mắt để tới và tạo ảnh trên võng mạc. Các môi trường trong suốt của mắt bao gồm: Giác mạc, thủy dịch, thể thủy tinh, dịch kính.
Các môi trường này có chiết suất khác nhau, bán kính cong của các bề mặt khúc xạ và khoảng cách giữa các bề mặt khúc xạ cũng khác nhau. Theo các định luật khúc xạ ánh sáng, các tia sáng có thể bị khúc xạ hoặc phản xạ một phần khi đi qua các môi trường này (13). Đầu tiên tia sáng đi qua giác mạc là phần ngăn cách giữa không khí với các môi trường trong suốt của mắt. Giác mạc là một màng trong suốt chiếm 1/5 trước nhãn cầu, bán kính cong mặt trước giác mạc là 7,7mm, mặt sau là 6,8mm, chỉ số chiết suất của giác mạc là 1,376 cao hơn của không khí nên công suất khúc xạ của mặt trước là 48,83 D trong khi đó mặt sau chỉ có công suất khúc xạ là -5,88D.
Tổng công suất khúc xạ của giác mạc là 43,05D (13). Thị lực là khả năng nhận thức rõ chi tiết, hay nói cách khác là khả năng mắt phân biệt được hai điểm riêng biệt ở gần nhau. Như vậy, 2 điểm này sẽ được nhìn dưới một góc được gọi là góc thị giác. Tình trạng khúc xạ của mắt Chính thị là khi nhìn một vật ở vô cực (về quang sinh lý là 5m), các tia sáng song song từ vô cực đến mắt sẽ hội tụ trên võng mạc (tức tiêu điểm sau trùng với võng mạc).
Mắt chính thị là mắt có cấu trúc hài hòa giữa chiều dài trục nhãn cầu trước sau và công suất hội tụ của mắt. Ở trạng thái không điều tiết khi nhìn một vật ở vô cực các tia sáng song song từ vô cực sẽ hội tụ trên võng mạc, từ võng mạc các tín hiệu thần kinh được truyền lên não nhờ đó ta thấy được hình ảnh vật rõ nét. Viễn điểm của mắt chính thị nằm ở vô cực quang học (trên lâm sàng là khoảng cách 5m) (14). Mắt chính thị Mắt không chính thị: do không có sự đồng bộ chiều dài trục nhãn cầu trước sau với công suất hội tụ của mắt.
Khi đó các tia sáng đi vào sẽ không hội tụ trên võng mạc mà hội tụ ở trước võng mạc (đối với mắt bị cận thị) hoặc hội tụ ở sau võng mạc (đối với mắt bị viễn thị) do đó ảnh thu được sẽ không rõ, vật nhìn bị mờ. Mắt không chính thị có các loại: cận thị, viễn thị, loạn thị, lão thị (13). Tật khúc xạ - cận thị ở mắt Tật khúc xạ là tình trạng mất khả năng tự điều chỉnh để nhìn rõ vật ở khoảng cách nhất định. Khi mắt bị tật khúc xạ thì một vật ở vô cực sẽ tạo thành hình ảnh trong mắt ở trước hoặc sau võng mạc.
Tật khúc xạ bao gồm: cận thị, viễn thị và loạn thị và mắt nhìn rõ vật khi được điều chỉnh bằng kính. Cận thị là tật khúc xạ trong đó các tia sáng đi vào mắt song song với trục quang học được hội tụ phía trước võng mạc khi mắt không điều tiết. Thường xảy ra khi trục nhãn cầu quá dài hoặc do bán kính cong giác mạc quá lớn, thể thủy tinh tăng công suất hoặc do cả 2 yếu tố trên hay còn được gọi là “tật nhìn gần’’. Có hai cách phân loại cận thị, bao gồm: - Phân loại cận thị dựa vào định tính: Cận thị trục, đặc trưng do độ dài trục dài hơn bình thường; cận thị do khúc xạ, đặc trưng bởi sự thay đổi cấu trúc hoặc vị trí các thành phần của mắt (giác mạc, thể thủy tinh); cận thị thứ phát, một trạng thái khúc xạ cận thị mà một nguyên nhân cụ thể (ví dụ: thuốc, bệnh giác mạc hoặc hội chứng lâm sàng toàn thân) có thể được xác định là không do một yếu tố nguy cơ dân số được công nhận cho sự phát triển cận thị.
- Phân loại cận thị dựa vào định lượng: Muốn phân loại mức độ cận thị cần phải dựa vào số độ D (Diop), gồm: Cận thị nhẹ khi có độ cận < -3D, cận thị trung bình có mức độ cận thị từ -3D đến -6D, cận thị nặng có độ cận >-6D. Phương pháp đo thị lực: 6 - Bảng thị lực: bao gồm nhiều hàng chữ, các chữ thử có kích thước nhỏ dần từ trên xuống, tất cả các chữ này đều ứng với góc thị giác 5 phút cung, nhưng khoảng cách khác nhau. Bên cạnh mỗi hàng chữ thử thường có ghi mức độ thị lực tương ứng với hàng chữ thử đó và khoảng cách mắt bình thường có thể đọc được hàng chữ đó. Trên lâm sàng bảng thử thị lực nhìn xa được dùng phổ biến nhất là: - Bảng Snellen: gồm nhiều chữ cái khác nhau, đòi hỏi bệnh nhân phải biết đọc chữ.
Khả năng phân biệt các chữ cái có thể khác nhau. - Bảng chữ E: bệnh nhân cũng cần phân biệt được hướng của chữ E. Bảng này dễ dùng cho trẻ em vì có thể dùng một hình chữ E bằng nhựa cứng để cho bệnh nhân cầm tay và đối chiếu với chữ trên bảng thị lực. - Bảng hình: các chữ thử là những đồ vật hoặc con vật khác nhau.
Thường dùng cho trẻ nhỏ - Bảng thị lực gần: thông dụng nhất là bảng Parinaud (gồm những đoạn câu ngắn, bên cạnh mỗi đoạn ghi số thị lực) hoặc bảng thử thị lực dạng thẻ (có các chữ cái, chữ số, vòng hở, hoặc chữ E, bên cạnh dòng chữ có phân số tương ứng thị lực nhìn xa, hoặc ghi số theo quy ước Jaeger). Đo thị lực là một trong các khám nghiệm được tiến hành trước tiên khi khám bệnh về mắt. Đo thị lực gồm có đo thị lực nhìn gần và đo thị lực nhìn xa. - Đo thị lực nhìn xa: Các loại bảng có thể đo thị lực nhìn xa là bảng Snellen, vòng tròn hở, bảng chữ E.
Cách tiến hành: đo thị lực từng mắt. Mắt còn lại phải được che kín bằng miếng che mắt. Ghi nhận hàng chữ nhỏ nhất mà bệnh nhân có thể đọc được. Trong trường hợp bệnh nhân không đọc được chữ trên bảng thị lực, cho bệnh nhân đếm số ngón tay và ghi nhận khoảng cách xa nhất mà bệnh nhân còn đếm đúng số ngón tay.