Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và hậu quả của thừa cân- béo phì 1.1 Khái niệm thừa cân-béo phì Tình trạng dinh dưỡng của cá thể là kết quả ăn uống và sử dụng chất dinh dưỡng của cơ thể. Số lượng và loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (thời kỳ có thai, cho con bú,.) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe.
Khi cơ thế có tình trạng dinh dưỡng không tốt (thiếu hoặc thừa chất dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc dinh dưỡng, hoặc cả hai nguyên nhân [1]. Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao. Béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe [58], [60]. Gần đây Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng chỉ số khối cơ thể (BMI= Body Mass Index) trước đây gọi là chỉ số Quetelet để nhận định về tình trạng dinh dưỡng.
BMI = Cân nặng (kg) / [Chiều cao (m)] 2 Nhận định kết quả : Bảng 1.1 Bảng đánh giá Chỉ số khối cơ thể theo Tổ chức y tế Thế giới và dành riêng cho người Châu Á [1] Phân loại WHO BMI (kg/m2) IDI&WPRO BMI (kg/m2) Cân nặng thấp <18,5 <18,5 Bình thường 18,5-24,9 18,5-22,9 Thừa cân 25 23 Tiền béo phì 25-29,9 23-24,9 Béo phì độ I 30-34,9 25-29,9 Béo phì độ II 35-39,9 30 Béo phì độ III 40 40 4 1.2 Hậu quả của thừa cân-béo phì 1. Trẻ em bị béo phì làm gia tăng tỷ lệ béo phì khi trưởng thành Bảng 1.2 Bảng nguy cơ béo phì ở tuổi trường thành [14] Béo phì ở trẻ em Nguy cơ béo phì tuổi trưởng thành Trẻ em 1-3 tuổi : - Có béo phì - 26% sẽ béo phì - Không béo phì - 15% sẽ béo phì Trẻ em 6 tuổi : - Có béo phì - 14% sẽ béo phì - Không béo phì - 8% sẽ béo phì Trẻ em 7-8 tuổi : - Có béo phì - 40% sẽ béo phì - Không béo phì - 10% sẽ béo phì 1. Tăng nguy cơ mắc bệnh, tử vong Thừa cân-béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, viêm xương khớp, sỏi mật, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) không phụ thuộc insulin. Thừa cân-béo phì thường kết hợp với tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
Tỷ lệ tử vong do bệnh mạch vành ở người thừa cân tăng lên 10% so với người bình thường và trẻ em béo phì cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành ở người lớn [52]. Người BP có ngy cơ tăng huyết gấp 2,9 lần so với người không BP. Khi tăng 7,5mmHg huyết áp tâm trương dẫn tới tăng 29% nguy cơ bệnh mạch vành và 46% nguy cơ đột quỵ [11]. Ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống Trẻ bị BP thường hay bị kỳ thị ở các nước công nghiệp.
Những đứa trẻ 6 tuổi mô tả những trẻ BP bằng những từ ngữ như : lười biếng, bẩn, ngu 5 ngốc…Nhiều người BP có cơ thể thay đồi, họ thấy các cơ quan của học xấu xí và tin rằng những người khác luôn muốn loại trừ họ khỏi các mối quan hệ xã hội. Người BP thường mất thoải mái trong cuộc sống, thường có cảm giác bức bối khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dày đã trở thành một hệ thống cách nhiệt. Người BP cũng thường xuyên thấy mệt mỏi chung toàn thân hay nhức đầu, tê buốt ở hai chân làm cho cuộc sống thiếu thoải mái [14]. Giảm hiệu suất lao động Người BP khi làm việc hay gặp tình trạng chóng mặt nhất là ở môi trường nóng.
Mặt khác, do khối lượng cơ thể quá lớn nên để hoàn thành một công việc trong lao động, người BP mất nhiều thời gian và công sức hơn. Hậu quả là hiệu quả lao động giảm rõ rệt so với người bình thường [14]. Để giải quyết đại dịch béo phì ở trẻ em đòi hỏi những nỗ lực tổng hợp trên nhiều lĩnh vực nhằm cung cấp khả năng tiếp cận công bằng với các nguồn lực kinh tế, giáo dục, thực phẩm lành mạnh và môi trường đô thị cũng như bao phủ sức khỏe toàn dân. Quan trọng nhất, ý chí chính trị táo bạo hơn và trách nhiệm giải trình là cần thiết từ các chủ thể bao gồm chính phủ, xã hội dân sự, học viện, khu vực tư nhân và các bên liên quan khác, để thúc đẩy sản xuất và tiếp cận môi trường lành mạnh hơn cho tất cả mọi người [35].
Phương pháp đánh giá thừa cân- béo phì 1.1 Phương pháp nhân trắc học Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng. Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn. Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển. Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng.
Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sự thay đổi về tình trạng dinh dưỡng 6 trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu. Quá trình lớn là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và ngoại cảm, trong đó các yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy yếu tố dinh dưỡng hầu như giữ vai trò chi phối chính trong sự phát triển của trẻ em, ít nhất đến 5 tuổi. Vì vậy, thu thập các kích thước nhân trắc là bộ phận quan trọng trong các cuộc điều tra dinh dưỡng.
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây: - Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng - Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao. - Cấu trúc cơ thểvà các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ.2 Phương pháp điều tra khẩu phần ăn Các kết quả về tiêu thụ lương thực thực phẩm, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần được sử dụng tùy thuộc vào các đối tượng và mục đích sử dụng khác nhau. Chính phủ, các nhà tài trợ cần các thông tin số liệu để đưa ra các quyết đònh xây dựng kế hoạch và chính sách. Chính quyền các cấp, các tổ chức phi chính phủ và các nhà chức trách của cộng đồng lại cần thông tin số liệu để xác định nhóm nguy cơ và các can thiệp thích hợp.
Nói chung, việc điều tra mức tiêu thụ lương thực thực phẩm đã được các tác giả thống nhất là nhằm các mục đích sau: - Nhận biết được các loại lương thực thực phẩm đang được sử dụng và xác định số lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ. - Xác định giá trị dinh dưỡng, tính cân đối của khẩu phần và mối liên quan với tình trạng kinh tế, văn hoá và xã hội. - Xem xét mối liên quan giữa chất dinh dưỡng ăn vào với sức khỏe và bệnh tật [1].3 Điều tra tần suất tiêu thụ của lương thực, thực phẩm Phương pháp điều tra tần xuất tiêu thụ lương thực thực phẩm được sử dụng để thu thập các thông tin về chất lượng khẩu phần, tìm hiểu tính thường xuyên của các loại thực phẩm trong thời gian nghiên cứu, số bữa ăn, khoảng cách giữa các bữa ăn và giờ ăn. Tần xuất tiêu thụ một thực phẩm nào đó trước hết phản ánh sự có mặt của một chất hay một nhóm chất dinh dưỡng tương ứng có mặt trong khẩu phần (sự tiêu thụ rau lá xanh và cà rốt với tần xuất cao là biểu hiện sự có mặt của caroten…).
Kết quả của phương pháp này cho biết những thức ăn phổ biến nhất (nhiều gia đình hoặc nhiều người dùng nhất), những thức ăn có số lần sử dụng cao nhất và cả những dao động theo mùa. Có thể lượng hóa một phần khẩu phần của đối tượng qua đó có thể dự báo thiếu những chất dinh dưỡng quan trọng như protid, vitamin A, sắt… [1] 1.4 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em Ở trẻ em, hai chỉ số thường dùng nhất để đánh giá tình trạng thừa cân- béo phì là chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) và chỉ số BMI theo tuổi và giới. Giá trị ngưỡng khuyến cáo của cân nặng/chiều cao là >+2SD và BMI theo tuồi là >85th percentile so với quần thể tham khảo NCHS được xem là thừa cân. Và BMI/tuổi >95th percentile so với quần thể tham khảo NCHS được xem là béo phì.3 Ngưỡng Chỉ số khối cơ thể theo tuổi và giới trẻ 6 đến 10 tuổi [25] Tuổi Trẻ trai Trẻ gái 85th 95th 85th 95th 6 16,8 17,9 17,1 18,4 7 17,1 18,3 17,4 18,8 8 17,5 18,8 17,8 19,4 9 18 19,5 18,4 20,2 10 18,6 20,2 19,1 21,1 8 Ở trẻ dưới 24 tháng, việc chẩn đoán thừa cân và béo phì dựa trên tỷ lệ cân nặng trên chiều dài, sử dụng đường cong tham chiếu năm 2006 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
Sau 2 tuổi, nó được dựa trên Chỉ số khối cơ thể (BMI), sử dụng hệ thống tham chiếu của WHO 2006 đến 5 tuổi và hệ thống tham chiếu của WHO 2007 sau đó. Khuyến nghị sử dụng tiêu chuẩn của WHO dựa trên nhu cầu đề xuất một hệ thống tham chiếu, mặc dù không phải là mô hình lý tưởng để đánh giá tình trạng béo phì ở trẻ em hoặc nhóm đơn lẻ, nhưng nó có độ nhạy cao hơn trong việc xác định trẻ em và thanh thiếu niên bị thừa cân và béo phì, trong thời kỳ đặc biệt nghiêm trọng của đại dịch béo phì ở trẻ em ở Ý. Ngược lại, các ngưỡng BMI của Ý lại đánh giá thấp mức độ phổ biến của bệnh béo phì so với WHO, có thể là do chúng dựa trên các phép đo được thực hiện trong thời kỳ gia tăng bệnh béo phì [57].5 Cơ chế bệnh sinh của thừa cân-béo phì Cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân bằng giữa năng lượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và các hoạt động khác của cơ thể. Cân nặng cơ thể tăng lên có thể.
Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do chế độ ăn dư thừa vượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng.