Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về kháng sinh 1. Định nghĩa Theo Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế ban hành năm 2015: Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [4].
Phân loại Các nhóm kháng sinh được sắp xếp theo cấu trúc hoá học. Theo cách phân loại này, kháng sinh được chia thành 9 nhóm như sau [4]: - Nhóm beta lactam: bao gồm các penicillin, cephalosporin, các beta lactam khác (carbapenem, monobactam), chất ức chế beta lactamase; - Nhóm aminoglycosid; - Nhóm macrolid; - Nhóm lincosamid; - Nhóm phenicol; - Nhóm tetracyclin: thế hệ 1, thế hệ 2; - Nhóm peptid gồm: glycopeptid, polypeptid, lipopeptid; - Nhóm quinolon: thế hệ 1, các fluoroquinolon thế hệ 2, 3, 4; - Các nhóm kháng sinh khác: sulfonamid, oxazolidinon, 5-nitroimidazol. Chỉ định Chỉ định kháng sinh thường phải căn cứ vào tình huống lâm sàng cụ thể, cũng như phải có hiểu biết sâu sắc về dược lý học cũng như về vi sinh học. Trong điều trị, có các kiểu sử dụng kháng sinh như sau: 4 - Điều trị theo kinh nghiệm Việc điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm được sử dụng khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học (do không có điều kiện nuôi cấy hoặc nuôi cấy không có kết quả) nhưng có bằng chứng về nhiễm khuẩn.
Khi điều trị theo kinh nghiệm phải lựa chọn kháng sinh phổ hẹp nhất nhưng gần với vi khuẩn hoặc tác nhân gây bệnh. Thường xuyên cập nhật độ nhạy của vi khuẩn trong khu vực [4]. Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng trước khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh [4], [42]. - Điều trị khi có bằng chứng về vi khuẩn học Theo hướng dẫn kê đơn kháng sinh của Cơ quan thuốc và sức khỏe Đan Mạch, việc lấy mẫu vi sinh được khuyến cáo trước khi bắt đầu sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân [45].
Khi có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của kháng sinh đồ, kháng sinh được lựa chọn là kháng sinh có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất gần với các tác nhân gây bệnh được phát hiện. Ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc. Việc phối hợp kháng sinh chỉ cần thiết nếu chứng minh được nhiễm nhiều loại vi khuẩn cần phối hợp kháng sinh mới đủ phổ tác dụng, hoặc vi khuẩn kháng thuốc, hoặc điều trị kéo dài cần phối hợp kháng sinh để giảm kháng thuốc [4], [43]. - Điều trị dự phòng Chỉ định dùng kháng sinh dự phòng: Kháng sinh dự phòng phẫu thuật được chỉ định cho tất cả các trường hợp thuộc loại sạch nhiễm.
Đối với phẫu thuật thuộc loại nhiễm và bẩn: kháng sinh đóng vai trò điều trị, kháng sinh không ngăn ngừa nhiễm khuẩn mà ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã có phát triển [4]. Lựa chọn loại kháng sinh dự phòng: Kháng sinh có phổ tác dụng trên chủng vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn tại vết mổ cũng như tình trạng kháng kháng sinh tại địa phương. Kháng sinh ít hoặc không gây tác dụng phụ. Chi phí cho kháng sinh phẫu thuật phải ít hơn chi phí cho kháng sinh điều trị [4].
5 Liều kháng sinh dự phòng: liều kháng sinh dự phòng tương đương với liều điều trị mạnh nhất của kháng sinh đó [4]. Theo hướng dẫn thực hành lâm sàng sử dụng kháng sinh phẫu thuật của Hiệp hội dược sỹ Mỹ thì cần phải lưu ý điều chỉnh liều đối với bệnh nhân béo phì [40].Đánh giá sử dụng kháng sinh Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá việc sử dụng kháng sinh nhưng nhìn chung có thể phân làm hai nhóm phương pháp: đánh giá định tính và đánh giá định lượng. Đánh giá định tính Nghiên cứu định tính nhằm đánh giá tính phù hợp của việc dùng thuốc trên phương diện chất lượng và tính cần thiết của sử dụng thuốc so với các tiêu chuẩn được xây dựng trước đó. Các tiêu chuẩn này bao gồm chỉ định, liều dùng, độ dài đợt điều trị và các thông tin khác.
Ở Bắc Mỹ, những nghiên cứu này được gọi là DUR (Drug Utilization Review)- Đánh giá sử dụng thuốc [50], khái niệm này cũng được hiểu tương tự như DUE - Drug Utilization Evaluation [57]. Đánh giá định lượng Phương pháp đánh giá định lượng thực hiện tính toán lượng thuốc hoặc tổng chi phí thuốc được sử dụng nhưng không đánh giá được chất lượng của việc sử dụng thuốc. Mục đích của phương pháp này thường bao gồm [59]: - Tính toán lượng thuốc tiêu thụ trong bệnh viện; - Theo dõi xu hướng sử dụng thuốc theo thời gian; - So sánh lượng tiêu thụ thuốc giữa các bệnh viện; - Xác định các thuốc chậm sử dụng hoặc bị lạm dụng; - Đo lường sử dụng thuốc theo sự thay đổi các yếu tố nhân khẩu học; - Đo lường bệnh tật liên quan dựa trên lượng tiêu thụ thuốc cụ thể. Một số phương pháp đánh giá định lượng kháng sinh được sử dụng đã được áp dụng trong thực tế bao gồm: 6 Tính toán dựa trên số đơn kê Phương pháp này tính toán lượng kháng sinh sử dụng dựa trên việc đếm tổng số đơn kê kháng sinh, tổng số liều thuốc, ống hoặc gói thuốc sử dụng tại cơ sở.
Do đó, phương pháp này không cung cấp một cái nhìn cụ thể về sử dụng thuốc ở bệnh nhân trừ trường hợp tất cả các bệnh nhân tại cơ sở đều sử dụng thuốc khảo sát với cùng một chế độ liều và/ hoặc khoảng liều [46]. Tính toán dựa trên chi phí sử dụng thuốc Đây là phương pháp đơn giản được sử dụng phổ biến trước đây và hiện nay vẫn được áp dụng trong một số trường hợp. Tuy nhiên, việc tính toán dựa trên chi phí được xem là không đủ tin cậy do giá thuốc có xu hướng biến thiên theo thời gian dẫn đến sự biến thiên lớn về kết quả đo lường trong thực tế sử dụng. Bên cạnh đó, giá thuốc còn thay đổi tùy theo biệt dược và kênh phân phối thuốc.
Do đó, tính toán này có hiệu lực rất kém, đặc biệt là trong những nghiên cứu dọc phân tích xu hướng sử dụng thuốc theo thời gian [46]. Tính toán lượng kháng sinh sử dụng dựa trên tổng số gam kháng sinh Phương pháp đánh giá này sử dụng dữ liệu tổng khối lượng kháng sinh mua từ khâu mua sắm thuốc. Trong trường hợp phân tích xu hướng sử dụng một thuốc theo thời gian, đánh giá theo tính toán này là khá tin cậy. Tuy nhiên, phương pháp này sẽ cho kết quả không chính xác nếu so sánh các thuốc có liều sử dụng hàng ngày khác nhau.
Do đó, cần có một phép đo lường cho phép chuẩn hóa việc tính toán cho các thuốc với liều dùng hàng ngày khác nhau, đặc biệt khi đánh giá sử dụng tổng lượng các kháng sinh khác nhau trong cùng một nhóm điều trị [46]. Tính toán theo liều xác định hàng ngày (DDD) Tính toán theo liều xác định hàng ngày (DDD) là phương pháp được thừa nhận rộng rãi nhất. Phương pháp này đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thông qua từ những năm 1970 với mục đích chuẩn hóa nghiên cứu về sử dụng 7 thuốc giữa các quốc gia. DDD là viết tắt của Defined Daily Dose, là liều trung bình duy trì giả định mỗi ngày cho một thuốc với chỉ định chính dành cho người lớn [46].
Đánh giá sử dụng kháng sinh theo Quyết định 5631/QĐ-BYT Dựa trên Quyết định số 5631/QĐ-BYT ngày 31/12/2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu “Hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện”, việc giám sát sử dụng kháng sinh cần được đánh giá dựa trên các chỉ số như sau: - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê đơn kháng sinh. - Tiêu thụ kháng sinh tính theo liều dùng một ngày (DDD - Defined Daily Dose), báo cáo dưới dạng DDD/100 hoặc 1000 (người - ngày / ngày – giường). - Ngày điều trị kháng sinh (DOT - Days of Therapy) trung bình. DOT có thể được báo cáo thêm dưới dạng DOT/100 hoặc 1000 (người - ngày hoặc ngày – giường) (ngày nằm viện).
- Thời gian sử dụng kháng sinh (LOT – Length of Therapy) trung bình. - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê đơn 1 kháng sinh. - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh được kê kháng sinh phối hợp. - Số lượng, tỷ lệ % người bệnh kê đơn kháng sinh đường tiêm.
- Số lượng, tỷ lệ % ca phẫu thuật được chỉ định kháng sinh dự phòng. - Số lượng, tỷ lệ % chuyển kháng sinh từ đường tiêm sang kháng sinh uống. - Tỷ lệ đơn kê phù hợp theo hướng dẫn sử dụng kháng sinh; hướng dẫn điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hoặc hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng [3].Sử dụng kháng sinh hợp lý và một số yếu tố liên quan đến sử dụng kháng sinh không hợp lý 1. Khái niệm Việc sử dụng kháng sinh được xem là hợp lý phải đảm bảo các nguyên tắc sau [4]: 8 - Chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn Các kháng sinh thường chỉ có tác dụng với các vi khuẩn (trừ một số ít có tác dụng trên cả sinh vât đơn bào, nấm, virus).
Chính vì thế phải xác định xem cơ thể có nhiễm vi khuẩn hay không thì mới dùng kháng sinh. Có 2 cách xác định: xét nghiệm cận lâm sàng (cấy tìm vi khuẩn trong bệnh phẩm) và chẩn đoán lâm sàng. - Lựa chọn kháng sinh hợp lý Để lựa chọn kháng sinh đúng, hợp lý cần dựa vào phổ tác dụng, tính chất dược động học, vị trí nhiễm khuẩn và tình trạng người bệnh. - Sử dụng kháng sinh đúng liều, đúng cách và đủ thời gian Thời gian điều trị kháng sinh cho các nhiễm khuẩn nhẹ, thông thường là 7-10 ngày.
Các nhiễm khuẩn nặng (như nhiễm khuẩn huyết) hoặc nhiễm khuẩn ở mô mà kháng sinh khó xâm nhập (như màng não, tủy xương.) thì đợt điều trị thường kéo dài hơn, có khi tới 4-6 tuần. Riêng đối với bệnh lao, phong, đợt điều trị kháng sinh kéo dài trên 6 tháng. - Phối hợp kháng sinh hợp lý Mục đích của việc phối hợp kháng sinh là mở rộng phổ tác dụng, tăng hiệu quả điều trị và giảm kháng thuốc. Muốn phối hợp kháng sinh hợp lý, cần hiểu rõ đặc tính của kháng sinh để khi phối hợp sẽ tạo ra tác dụng hiệp đồng, tránh tác dụng đối kháng và tương kỵ.
- Dự phòng kháng sinh hợp lý Dự phòng kháng sinh là dùng kháng sinh để phòng nhiễm khuẩn hoặc ngăn ngừa nhiễm khuẩn tái phát.