Luận văn ình hình mắc bệnh ort do vi khuẩn ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện bình giang tỉnh hải dương và thừ nghiệm điều trị

Nghiên cứu tình hình bệnh ort do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale ở gà thả vườn tại Bình Giang, Hải Dương và phương pháp điều trị hiệu quả.

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2020

64
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI

3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

3.1. Ý nghĩa trong học tập

3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

4. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4.1. GIỚI THIỆU VỀ BỆNH ORT

4.1.1. Lịch sử căn bệnh

4.1.2. Truyền nhiễm học

4.1.3. Triệu chứng và bệnh tích

4.1.4. Biện pháp phòng và trị bệnh

4.2. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ CẢM NHIỄM VÀ TIẾN TRIỂN CỦA BỆNH ORT TRÊN ĐÀN GÀ

4.2.1. Ảnh hưởng của giống gà

4.2.2. Ảnh hưởng của lứa tuổi

4.2.3. Ảnh hưởng của tính biệt

4.2.4. Điều kiện chăn nuôi

4.2.5. Phương thức chăn nuôi

4.2.6. Yếu tố dinh dưỡng

4.2.7. Vệ sinh phòng bệnh

5. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

5.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

5.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.3.1. Điều tra phỏng vấn

5.3.2. Chẩn đoán lâm sàng

5.3.3. Mổ khám, kiểm tra bệnh tích

5.3.4. Lấy mẫu và nuôi cấy phân lập vi khuẩn

5.3.5. Phương pháp kiểm tra khả năng mẫn cảm kháng sinh của chủng vi khuẩn ORT phân lập được

5.3.6. Điều trị bệnh do vi khuẩn ORT gây ra ở gà

5.3.7. Phương pháp xử lý số liệu

6. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

6.1. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRÊN ĐÀ GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI HUYỆN BÌNH GIANG

6.1.1. Giới thiệu một đố giống gà đang nuôi phổ biến tại huyện Bình Giang

6.1.2. Bệnh phổ biến ở gà thả vườn tại huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương

6.1.3. Công tác phòng chống dịch bệnh cho gà thả vườn nuôi tại huyện Bình Giang

6.1.4. Phòng bệnh bằng vaccine

6.2. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH ORT TRÊN ĐÀN GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI MỘT SỐ XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH GIANG

6.2.1. Tỷ lệ mắc bệnh ORT trên đàn gà thả vườn tại một số xã trên địa bàn huyện Bình Giang

6.2.2. Tỷ lệ mắc bệnh ORT theo lứa tuổi

6.3. KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ CÁC BIỂU HIỆN LÂM SÀNG VÀ BỆNH TÍCH ĐẠI THỂ CỦA GÀ MẮC BỆNH ORT

6.3.1. Triệu chứng lâm sàng của gà khi mắc bệnh ORT tại địa phương

6.3.2. Bệnh tích của gà mắc bệnh ORT

6.4. KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH TÍNH MẪN CẢM CỦA VI KHUẨN ORT PHÂN LẬP TỪ GÀ MẮC BỆNH VỚI MỘT SỐ LOẠI KHÁNG SINH VÀ THỬ NGHIỆM PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ

6.4.1. Kết quả xác định tính mẫn cảm của vi khuẩn ORT phân lập từ gà mắc bệnh với một số loại kháng sinh

6.4.2. Kết quả sử dụng một số loại kháng sinh phòng trị bệnh do vi khuẩn ORT gây ra ở gà

7. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bệnh ORT ở Gà Thả Vườn Nguyên Nhân Tác Hại

Bệnh ORT ở gà là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, gây ra bởi vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale. Bệnh ảnh hưởng đến gà thả vườn ở mọi lứa tuổi, gây ra các triệu chứng như khó thở, ho, chảy nước mắt, nước mũi và viêm phổi. Bệnh có thể gây giảm năng suất, tăng tỷ lệ chết và gây thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi. Việc nghiên cứu tình hình mắc bệnh ORT là rất quan trọng để đưa ra các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Theo nghiên cứu, vi khuẩn gây bệnh ORT tác động trực tiếp lên đường hô hấp và phổi, gây ra các biểu hiện điển hình như gà khó thở, khẹc, ngáp, ho, chảy nước mắt mũi, phổi viêm có mủ và bã đậu hình ống.

1.1. Lịch Sử Phát Hiện và Phân Bố của Bệnh ORT

Vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale lần đầu tiên được phân lập vào năm 1981 từ gà tây ở Đức. Sau đó, bệnh được phát hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong đàn gà, đặc biệt là trong điều kiện chăn nuôi không đảm bảo vệ sinh. Năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch nước mũi, dịch phủ ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần tuổi tại phía Bắc nước Đức (Van Empel & cs.).

1.2. Tác Động Kinh Tế của Bệnh ORT đối với Ngành Chăn Nuôi

Bệnh ORT ở gà gây ra nhiều thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi, bao gồm giảm năng suất trứng và thịt, tăng chi phí điều trị và tăng tỷ lệ chết. Bệnh cũng có thể ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và gây khó khăn cho việc xuất khẩu. Do đó, việc kiểm soát và phòng ngừa bệnh ORT ở gà là rất quan trọng để bảo vệ ngành chăn nuôi. Bệnh khó phòng và điều trị gây giảm khả năng sản xuất, thiệt hại lớn về kinh tế.

II. Thách Thức Trong Chẩn Đoán Bệnh ORT ở Gà Thả Vườn Hiện Nay

Việc chẩn đoán bệnh ORT ở gà có thể gặp nhiều khó khăn do các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu và dễ nhầm lẫn với các bệnh hô hấp khác. Việc phân lập và xác định vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale cũng đòi hỏi các kỹ thuật xét nghiệm chuyên biệt. Do đó, cần có các phương pháp chẩn đoán nhanh chóng và chính xác để phát hiện sớm bệnh ORT ở gà và có biện pháp can thiệp kịp thời. Các công trình nghiên cứu về ORT còn nhiều hạn chế. Các công trình nghiên cứu mới được thực hiện vào năm 2014.

2.1. Triệu Chứng Lâm Sàng và Bệnh Tích Đại Thể của Bệnh ORT

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh ORT ở gà bao gồm khó thở, ho, chảy nước mắt, nước mũi, sưng phù mặt và giảm ăn. Bệnh tích đại thể thường thấy là viêm phổi, viêm túi khí và viêm khí quản. Tuy nhiên, các triệu chứng này có thể không rõ ràng ở giai đoạn đầu của bệnh. Trên thế giới, người ta đã phân lập được vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale (ORT) tại phía bắc nước Đức từ đàn gà tây 5 tuần tuổi.

2.2. Các Phương Pháp Xét Nghiệm Chẩn Đoán Bệnh ORT

Các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán bệnh ORT ở gà bao gồm phân lập và định danh vi khuẩn, xét nghiệm PCR và xét nghiệm ELISA. Phân lập vi khuẩn là phương pháp chính xác nhất, nhưng đòi hỏi thời gian và kỹ thuật chuyên môn cao. Xét nghiệm PCR và ELISA có thể cho kết quả nhanh chóng, nhưng độ nhạy và độ đặc hiệu có thể khác nhau. Hiện nay chưa có công bố nào về phân lập và định danh ORT ở Việt Nam.

2.3. Khó Khăn Trong Phân Biệt ORT với Các Bệnh Hô Hấp Khác

Bệnh ORT ở gà có thể bị nhầm lẫn với các bệnh hô hấp khác như bệnh Newcastle, bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB) và bệnh hen (CRD). Do đó, cần thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán phân biệt để xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh. Bệnh hô hấp phức hợp trên gà là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotraleale gây ra, thường gặp ở gà và gà tây mọi lứa tuổi.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tình Hình Mắc Bệnh ORT Tại Bình Giang

Nghiên cứu tình hình mắc bệnh ORT tại Bình Giang, Hải Dương sử dụng phương pháp điều tra dịch tễ học, kết hợp với chẩn đoán lâm sàng, mổ khám và xét nghiệm vi sinh vật. Mẫu gà được thu thập từ các hộ chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn huyện. Vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale được phân lập và xác định bằng các phương pháp tiêu chuẩn. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng về tỷ lệ mắc bệnh, các yếu tố nguy cơ và đặc điểm dịch tễ học của bệnh ORT ở gà tại địa phương. Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh ORT do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương và thử nghiệm điều trị”.

3.1. Thu Thập Mẫu và Điều Tra Dịch Tễ Học Bệnh ORT

Mẫu gà được thu thập từ các hộ chăn nuôi gà thả vườn có biểu hiện bệnh hô hấp. Thông tin về lịch sử bệnh, phương thức chăn nuôi, và các biện pháp phòng bệnh được thu thập thông qua phỏng vấn và điều tra. Tỷ lệ gà bị mắc bệnh ORT trên địa bàn huyện Bình Giang còn cao, trong đó cao nhất là xã Nhân Quyền tỷ lệ mắc chiếm 42,4% và thấp nhất là xã Tân Hồng chiếm 27%.

3.2. Phân Lập và Định Danh Vi Khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale

Vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale được phân lập từ mẫu bệnh phẩm bằng cách nuôi cấy trên môi trường thạch máu và thạch chocolate. Vi khuẩn được định danh bằng các xét nghiệm sinh hóa và xét nghiệm PCR. Đến tháng 6 năm 2014, (Nguyễn Thị Lan & cs., 2014) đã có những tổng hợp cụ thể về tình hình nghiên cứu trên thế giới và các đặc điểm quan trọng của ORT trên tạp chí khoa học thú y tập XXI số 5- 2014.

3.3. Đánh Giá Tính Mẫn Cảm Kháng Sinh của Vi Khuẩn ORT

Tính mẫn cảm kháng sinh của vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale được đánh giá bằng phương pháp kháng sinh đồ. Các loại kháng sinh thường được sử dụng để điều trị bệnh ORT ở gà bao gồm amoxicillin, tetracycline và enrofloxacin. Amoxicillin/Clavulanic acid và Tetracycline là kháng sinh mà vi khuẩn ORT có tính mẫn cảm cao, chiếm tỷ lệ 100%; tiếp đến là Ampicillin, chiếm tỷ lệ 92,31%; vi khuẩn ORT không mẫn cảm với các kháng sinh: Sulphamethaxazol/Trimethoprime, Lincomycine và Doxycycline (đặc biệt là Gentamicine)(100% không có giá trị trong quá trình điều trị).

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tình Hình Mắc Bệnh ORT ở Gà Tại Bình Giang

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ORT ở gà tại Bình Giang, Hải Dương là khá cao. Các yếu tố nguy cơ bao gồm điều kiện chăn nuôi kém vệ sinh, mật độ nuôi cao và không thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh ORT ở gà tại địa phương. Tỷ lệ gà bị mắc bệnh ORT trên địa bàn huyện Bình Giang còn cao, trong đó cao nhất là xã Nhân Quyền tỷ lệ mắc chiếm 42,4% và thấp nhất là xã Tân Hồng chiếm 27%.

4.1. Tỷ Lệ Mắc Bệnh ORT Theo Lứa Tuổi và Vùng Địa Lý

Tỷ lệ mắc bệnh ORT ở gà có sự khác biệt theo lứa tuổi và vùng địa lý. Gà con thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn so với gà trưởng thành. Các vùng có mật độ chăn nuôi cao và điều kiện vệ sinh kém thường có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn. Gà ở các lứa tuổi đều mắc bệnh ORT với tỷ lệ mắc chung là 32,6%, trong đó gà ở độ tuổi 0-6 tuần tuổi mắc với tỷ lệ cao nhất khoảng 57,47%, tiếp theo là gà từ 7-20 tuần tuổi là 23,92% và thấp nhất là gà trên 20 tuần tuổi.

4.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Bệnh ORT ở Gà Thả Vườn

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh ORT ở gà bao gồm điều kiện chăn nuôi kém vệ sinh, mật độ nuôi cao, không thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng bệnh, và sức đề kháng của gà yếu. Việc cải thiện điều kiện chăn nuôi và tăng cường sức đề kháng của gà là rất quan trọng để phòng ngừa bệnh ORT. Việc phát triển chăn nuôi ngày càng lớn nên môi trường càng ô nhiễm, nhiều loại hình dịch bệnh mới xuất hiện.

V. Giải Pháp Phòng và Điều Trị Bệnh ORT Hiệu Quả Cho Gà Thả Vườn

Phòng bệnh ORT ở gà bao gồm việc cải thiện điều kiện chăn nuôi, thực hiện đầy đủ các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, và sử dụng vaccine phòng bệnh. Điều trị bệnh ORT ở gà bao gồm sử dụng kháng sinh và các biện pháp hỗ trợ. Việc sử dụng kháng sinh cần tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ thú y để tránh tình trạng kháng kháng sinh. Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống.

5.1. Các Biện Pháp Vệ Sinh Phòng Bệnh ORT Cho Gà

Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh ORT ở gà bao gồm vệ sinh chuồng trại thường xuyên, khử trùng chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi, và kiểm soát côn trùng và loài gặm nhấm. Việc thực hiện đầy đủ các biện pháp vệ sinh phòng bệnh giúp giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh ORT. Công tác phòng chống dịch bệnh cho gà thả vườn tại huyện Bình Giang đạt tỉ lệ khá cao. Tỉ lệ hộ gia đình áp dụng các biện pháp vệ sinh chuồng trại và khu vực xung ix quanh chuồng nuôi đạt 80%, việc định kỳ sát trùng chuồng trại và khu vực chăn thả là 90%, đối với hoạt động sử dụng vaccine và thuốc phòng bệnh là 83%.

5.2. Sử Dụng Vaccine Phòng Bệnh ORT Cho Gà

Hiện nay, có một số loại vaccine phòng bệnh ORT ở gà được sử dụng trên thị trường. Việc sử dụng vaccine giúp tăng cường sức đề kháng của gà và giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh. Tuy nhiên, hiệu quả của vaccine có thể khác nhau tùy thuộc vào chủng vi khuẩn và điều kiện chăn nuôi. Thực trạng phòng chống dịch bệnh cho gà thả vườn nuôi tại một số xã trên địa bàn huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương (n=30 hộ).

5.3. Phác Đồ Điều Trị Bệnh ORT Bằng Kháng Sinh

Phác đồ điều trị bệnh ORT ở gà bằng kháng sinh thường bao gồm sử dụng amoxicillin, tetracycline hoặc enrofloxacin. Việc sử dụng kháng sinh cần tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ thú y và thực hiện kháng sinh đồ để lựa chọn kháng sinh phù hợp. Kết quả sử dụng một số kháng sinh điều trị bệnh do ORT gây ra .46

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Bệnh ORT

Nghiên cứu về tình hình mắc bệnh ORT tại Bình Giang, Hải Dương cung cấp thông tin quan trọng cho việc phòng ngừa và kiểm soát bệnh ORT ở gà. Cần có các nghiên cứu tiếp theo để đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng bệnh và điều trị, cũng như để tìm hiểu thêm về đặc điểm dịch tễ học và di truyền của vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale. Đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ người chăn nuôi đến người làm công tác thú y… 1 mở rộng các chương trình phòng chống dịch và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo dịch bệnh.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu và Đề Xuất

Nghiên cứu đã xác định được tỷ lệ mắc bệnh ORT ở gà tại Bình Giang, Hải Dương và các yếu tố nguy cơ liên quan. Đề xuất các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bệnh, bao gồm cải thiện điều kiện chăn nuôi, sử dụng vaccine và điều trị bằng kháng sinh. Kết quả đề tài là nắm chắc được các thông tin khoa học về đặc điểm của bệnh ORT ở gà như: dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và đưa ra phác đồ điều trị bệnh ORT đạt hiệu quả cao nhất.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Mở Rộng Về Bệnh ORT ở Gà

Các hướng nghiên cứu mở rộng về bệnh ORT ở gà bao gồm nghiên cứu về đặc điểm di truyền của vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale, đánh giá hiệu quả của các loại vaccine mới, và phát triển các phương pháp chẩn đoán nhanh chóng và chính xác hơn. Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để người chăn nuôi hiểu rõ về căn bệnh, khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh ORT cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh ORT gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển.

05/06/2025
Luận văn ình hình mắc bệnh ort do vi khuẩn ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện bình giang tỉnh hải dương và thừ nghiệm điều trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi là một nghề truyền thống lâu đời của người dân Việt Nam. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng ở Việt Nam ngày càng được quan tâm, đầu tư và phát triển. Những tiến bộ về di truyền, giống, thức ăn, kỹ thuật chăn nuôi và công tác thú y mà chăn nuôi gia cầm ngày càng phát triển thể hiện ở việc sự tăng lên nhanh chóng về số lượng và chất lượng của đàn gia súc, gia cầm. Riêng chăn nuôi gia cầm đang chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi nước ta, nó cung cấp một lượng lớn thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của con người.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng gà thả vườn ở nước ta những năm gần đây cao hơn gấp nhiều lần so với sản lượng gà công nghiệp. Và tập quán của người dân Việt Nam thích ăn những loại gà có thịt dai, giòn hơn là những loại gà có thịt bở như gà công nghiệp. Bởi vậy chăn nuôi gà thả vườn nước ta vẫn có tiềm năng rất phát triển. Tuy nhiên việc phát triển chăn nuôi ngày càng lớn nên môi trường càng ô nhiễm, nhiều loại hình dịch bệnh mới xuất hiện.

Bệnh hô hấp phức hợp trên gà là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotraleale gây ra, thường gặp ở gà và gà tây mọi lứa tuổi. Bệnh có những triệu chứng và bệnh tích đặc trưng như: ho, khó thở, đớp không khí, màng niêm mặc mắt viêm thủy thũng, phế quản gốc có kén mủ, khí quản bị xung huyết, có nhiều dịch nhày, phổi bị viêm tơ huyết. Trên thế giới, người ta đã phân lập được vi khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale (ORT) tại phía bắc nước Đức từ đàn gà tây 5 tuần tuổi. Đến năm 1993, người ta đã mô tả một số đặc điểm của bệnh ORT gây nên đó là bệnh khó phòng và đều trị gây giảm khả năng sản xuất, thiệt hại lớn về kinh tế.

Ở Việt Nam đây là một bệnh khá mới mẻ, các công trình nghiên cứu về ORT còn nhiều hạn chế. Các công trình nghiên cứu mới được thực hiện vào năm 2014. Bệnh gây thiệt về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của bộ phận không nhỏ người dân nước ta. Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống.

Đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ người chăn nuôi đến người làm công tác thú y… 1 mở rộng các chương trình phòng chống dịch và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo dịch bệnh. Xuất phát từ tình hình thực tế đó tôi thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh ORT do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương và thử nghiệm điều trị”. MỤC ĐÍCH ĐỀ TÀI Xác định tình hình mắc bệnh ORT do vi khuẩn Ornithobacterium rhinotracheale gây ra ở đàn gà thả vườn nuôi tại huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương. Từ đó làm cơ sở cho việc phòng và thử nghiệm điều trị bệnh.

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa trong học tập Kết quả đề tài là nắm chắc được các thông tin khoa học về đặc điểm của bệnh ORT ở gà như: dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và đưa ra phác đồ điều trị bệnh ORT đạt hiệu quả cao nhất. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để người chăn nuôi hiểu rõ về căn bệnh, khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh ORT cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh ORT gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

GIỚI THIỆU VỀ BỆNH ORT Bệnh ORT trên gà là một bệnh hô hấp cấp tính trên gà do vi khuẩn có tên là Ornithobacterium rhinotracheale gây ra. Vi khuẩn tác động trực tiếp lên đường hô hấp và phổi với các biểu hiện điển hình như gà khó thở, khẹc, ngáp, ho, chảy nước mắt mũi, phổi viêm có mủ và bã đậu hình ống. Lịch sử căn bệnh Vào năm 1981, lần đầu tiên người ta phân lập được một chủng ORT từ dịch nước mũi, dịch phủ ở mặt, mủ và tơ huyết trên túi khí bị viêm của gà tây 5 tuần tuổi tại phía Bắc nước Đức (Van Empel & cs. Năm 1983, vi khuẩn được nuôi cấy từ dịch khí quản của quạ non.

Năm 1986, ORT được phân lập từ gà tây tại Isarel ở nhiều lứa tuổi với bệnh tích viêm xuất huyết cấp tính phổi và túi khí. Năm 1987, ORT được phân lập từ giống vịt Bắc Kinh 10 tuần tuổi ở Hungary cùng với bệnh tụ huyết trùng như một bệnh truyền nhiễm. Giữa những năm 1986 và năm 1988 là thời điểm ORT được nhận định như một chủng vi khuẩn pasteurella, được phân lập từ đàn gà tây giống ở Anh, kèm với triệu chứng như yếu ớt, giảm đẻ, ho, tỷ lệ chết thấp, túi khí bị viêm tơ huyết và viêm phổi. Ở Califonia (Charlton & cs., 1993) đã xác định được các đặc điểm của 14 chủng vi khuẩn thu thập và phân lập được từ năm 1990 đến 1991 trên các đàn gà tây và gà có triệu chứng của bệnh hô hấp.

Vào năm 1991, người ta thấy rằng có các biểu hiện của bệnh hô hấp trên các đàn gà thịt thương phẩm tại Nam Phi, ngay sau đó cũng đã phân lập được ORT (Hafez, 1998). Năm 1993, lần đầu tiên ORT được mô tả chính thức (Charlton & cs. Một số gà tây đã được quan sát ở Hà Lan và Đức, với những triệu chứng lâm sàng như vảy mỏ, khó thở và sung huyết xoang hốc mắt, cùng với sự tăng trưởng chậm của gà thịt (Hinz & cs. Tại Đức, người ta thấy rằng tỷ lệ nhiễm chủ yếu ở gà tây 14 tuần tuổi trở lên (Hafez & cs.

Sau đó, tìm thấy vi khuẩn trong mẫu bệnh phẩm đường hô hấp của gia cầm ở Isarel (Bock & cs., 1995a), Bỉ (Wyffels & Hommez, 1990) và Mỹ (Charlton & cs. 3 Ban đầu, các loại vi khuẩn mới chỉ được gọi tên như một vi khuẩn Gram âm, hình que (PGNR; Charlton & cs. (1993), Pasteurella –like (Hafez & cs., 1993) hoặc Kingella –like (Van Empel & cs. Năm 1994, ORT được phân lập từ đàn chim hoang dã và được đặt tên dùng cho đến nay (Vandamme & cs.

Tại Đức, điều tra về việc nuôi cấy O. Rhinotracheale đã thấy rằng ORT phân lập được từ đường hô hấp của gà tây ở năm 1981 và ở quạ năm 1983 (Vandamme & cs. Nó cũng được phân lập ở Bỉ (Wyffels & Hommez, 1990), Mỹ (Charlton & cs., 1993) và Isarel (Bock & cs. Rhinotracheale đã được phân lập từ gà gô, gà lôi, chim bồ câu, vịt, chim cút, chim đa đa, đà điểu, ngỗng, gà sao, gà và gà tây (Charlton & cs.

Trong các khu vực khác nhau ở Mỹ, O. Rhinotracheale gây ra viêm phổi cấp tính với tỷ lệ tử vong 1-15% và đôi khi thậm chí lên đến 50% ở gà tây vào năm 1995 và 1996. Sự hiện diện của O. Rhinotracheale trên các loài chim ở Nam Mỹ và Châu Á có thể cũng được nghiên cứu (Vandamme & cs., 1994) quan sát chưa công bố.

Hiện nay, tình hình dịch bệnh ORT cũng như các nghiên cứu về chúng vẫn đang được tiến hành tại nhiều quốc gia. Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua tại nhiều tỉnh thành đã xuất hiện các đàn gia cầm chết với triệu chứng, bệnh tích giống như các mô tả của bệnh ORT trên thế giới, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho người chăn nuôi, làm đau đầu các cán bộ kỹ thuật từng trải và giàu kinh nghiệm. Tuy nhiên, Hiện nay chưa có công bố nào về phân lập và định danh ORT ở Việt Nam. Chỉ có một số bài báo tổng hợp từ tài liệu nước ngoài đăng trên tạp chí khoa học thú y trình bày về kết qua phân lập, định danh ORT từ gà công nghiệp theo phương pháp nuối cấy truyền thống và kỹ thuật PCR khuếch đại gen rnn mã hóa 16S rRNA của ORT do Võ Thị Trà An và cộng sự (Võ Thị Trà An & cs.

Và cho đến nay chưa có thêm nghiên cứu nào về sự lưu hành của vi khuẩn ORT trên gà tại Việt Nam. Đến tháng 6 năm 2014, (Nguyễn Thị Lan & cs., 2014) đã có những tổng hợp cụ thể về tình hình nghiên cứu trên thế giới và các đặc điểm quan trọng của ORT trên tạp chí khoa học thú y tập XXI số 5- 2014. Phân loại ORT nằm trong họ rRNA-V cùng với Cythophaga – Flavobacterium – 4 Bacteroidesphylum và có quan hệ mật thiết với hai loại vi khuẩn khác gây bệnh trên gia cầm là Riemerella anatipestifer và Coennia anatine. Trước đây, vi khuẩn này được biết đến với rất nhiều tên như: Pleomorphic Gram Negative Rod (PGNR), vi khuẩn dạng Pasteurella, trực khuẩn Gram âm đa hình dạng cho đến khi có tên gọi Ornithobacterium Rhinotracheale được sử dụng cho đến ngày hôm nay (Charlton & cs., 1993; Nguyễn Thị Lan & cs.

Hình thái cấu trúc và tính chất bắt màu của vi khuẩn. ORT là một vi khuẩn Gram âm, đa hình thái, không có khả năng di động, dạng trực khuẩn, không hình thành nha bào (Back & cs. Trên môi trường thạch, chúng thường có dạng ngắn, trực khuẩn dạng dùi trống, với kích thước đường kính 0,2 – 0. Đôi khi thấy vi khuẩn có dạng hình que dài hay tạo thành chuỗi dài.

Trong môi trường dạng lỏng, chúng có thể dài tới 15 m (Hinz & Hafez, 1997; Nguyễn Thị Lan & cs. Hình thái vi khuẩn ORT dưới kính hiển vi 2. Đặc tính nuôi cấy ORT sinh trưởng trong điều kiện hiếu khí, hiếu khí tùy tiện và yếm khí tùy tiện. Điều kiện sinh trưởng tối ưu là là ở nhiệt độ 37ºC, CO 2 5%, thời gian nuôi cấy 24 - 72 giờ; tuy nhiên, chúng vẫn sinh trưởng tốt ở nhiệt độ từ 30ºC - 42ºC.

Vi khuẩn này sinh trưởng mạnh trên môi trường thạch máu có 5 - 10% máu cừu (có bổ sung 10µg/ml Gentamicine), nhưng cũng sinh trưởng được trên môi 5 trường thạch tryptose soy và môi trường chocolate agar. Vi khuẩn không sinh trưởng trên các môi trường MacConkey Agar, Endo Agar, Gassner Agar, Drigalskil Agar hay Simon’s Citrate. Sự phát triển của vi khuẩn trong các môi trường dạng lỏng cần phải được lọc kỹ, như môi trường BHB (Brain Heart Infusion Broth), PB (Pasteurella Broth), hay Todd Hewitt Broth. ORT có khuẩn lạc rất nhỏ, không gây dung huyết ra xung quanh, màu xám tới trắng xám, đôi khi hơi đỏ thẫm, mặt lồi với bờ rõ ràng, sắc nét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tình Hình Mắc Bệnh ORT Do Vi Khuẩn Ornithobacterium Rhinotracheale Ở Gà Thả Vườn Tại Bình Giang, Hải Dương" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình mắc bệnh ORT ở gà thả vườn, một vấn đề quan trọng trong chăn nuôi gia cầm. Nghiên cứu này không chỉ phân tích nguyên nhân và triệu chứng của bệnh mà còn đề xuất các biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giúp người chăn nuôi nâng cao sức khỏe đàn gà và giảm thiểu thiệt hại kinh tế.

Để mở rộng kiến thức về các bệnh khác liên quan đến gia cầm, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ theo dõi tình hình mắc bệnh crd và biện pháp phòng trị trên đàn gà hậu bị tại trại bà mùi thuộc xã cao ngạn thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên, nơi cung cấp thông tin về bệnh CRD, một bệnh phổ biến khác ở gà. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào histomonas meleagridis gây ra ở gà tại huyện phú bình tỉnh thái nguyên và thử nghiệm thuốc điều trị sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về bệnh đầu đen, một bệnh nghiêm trọng khác ảnh hưởng đến gà. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tình hình nhiễm đặc điểm bệnh lý lâm sàng bệnh đơn bào đường máu leucocytozoon ở gà nuôi tại huyện tân yên tỉnh bắc giang và thử nghiệm quy trình phòng bệnh sẽ cung cấp thêm thông tin về bệnh leucocytozoon, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các bệnh ở gà. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai quan tâm đến sức khỏe và sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi gia cầm.