Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh gạo lợn do ấu trùng Cysticercus cellulosae (giai đoạn ấu trùng của sán dây Taenia solium) là một trong những bệnh truyền lây nguy hiểm giữa động vật và người. Tại Việt Nam, ấu trùng C. cellulosae lưu hành ở nhiều tỉnh thành, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc. Thống kê dịch tễ cho thấy tỷ lệ lợn nhiễm ấu trùng trung bình ở miền Bắc dao động từ 1,0% đến 7,2%, trong khi ở miền Nam là khoảng 4,3%. Khi lợn mắc bệnh, ấu trùng ký sinh tại các mô cơ vân, tim, mắt và não làm con vật còi cọc, chậm lớn, suy nhược; trường hợp ký sinh ở não gây co giật, rối loạn vận động hoặc tử vong. Đối với con người, việc tiêu thụ thịt lợn chưa nấu chín chứa ấu trùng còn sống sẽ dẫn đến việc nhiễm sán dây trưởng thành ký sinh trong ruột non; nguy hiểm hơn, nếu nuốt phải trứng sán hoặc do hiện tượng tự nhiễm, ấu trùng sẽ ký sinh tại các cơ quan quan trọng, đặc biệt là hội chứng ấu trùng sán lợn ở não (neurocysticercosis) gây tử vong cao hoặc để lại di chứng thần kinh vĩnh viễn.

Tỉnh Bắc Ninh là địa bàn thuộc vùng đồng bằng sông Hồng có ngành chăn nuôi lợn phát triển mạnh, với tổng đàn lợn đạt 315.700 con (thời điểm tháng 10 năm 2018). Mặc dù các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (dịch tả lợn, tụ huyết trùng, tai xanh) đã được giám sát và cơ bản khống chế, công tác giám sát bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh gạo lợn nói riêng vẫn chưa được chú trọng đúng mức. Đặc biệt, vào tháng 3/2019, sự cố dịch tễ ghi nhận 209 người dân (phần lớn là trẻ em) tại huyện Thuận Thành có kết quả xét nghiệm dương tính với sán dây lợn tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương đã gây xáo trộn tâm lý nhân dân và ảnh hưởng lớn đến kinh tế - xã hội địa phương. Trong bối cảnh đó, đề tài "Nghiên cứu tình hình mắc bệnh gạo ở lợn giết mổ trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh" được thực hiện nhằm cung cấp các căn cứ khoa học và thực tiễn để phục vụ công tác kiểm soát dịch bệnh.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong khóa luận gồm:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định tình hình mắc bệnh gạo ở lợn giết mổ tại các xã thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được thực trạng chăn nuôi và tập quán sinh hoạt của nhân dân có liên quan đến bệnh.
    • Xác định tình hình mắc bệnh gạo ở đàn lợn giết mổ tại địa phương.
    • Xác định tình hình nhiễm sán dây Taenia solium ở người trên địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nuôi tại các nông hộ, lợn được đưa vào giết mổ tại các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ và người dân sinh sống tại các xã thuộc huyện Quế Võ.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 7 xã (Đào Viên, Bằng An, Đại Xuân, Hán Quảng, Nhân Hòa, Yên Giả, Mộ Đạo) thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Công tác xét nghiệm mẫu được tiến hành tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y (Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) và Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và thực nghiệm từ ngày 26/11/2019 đến ngày 27/5/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và văn bản quy chuẩn

Đề tài dựa trên cơ sở phân loại học động vật học của Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996), xác định vị trí phân loại của sán dây lợn Taenia solium (Linnaeus, 1758) thuộc ngành Plathelminthes, lớp Cestoda, phân lớp Cestoda, bộ Cyclophyllidea, phân bộ Taeniata, họ Taeniidae, giống Taenia.

Vòng đời sinh học của sán dây T. solium mang tính chất phức tạp khi người vừa là vật chủ chính (chứa sán trưởng thành trong ruột non), vừa có thể là vật chủ trung gian (chứa ấu trùng C. cellulosae). Đốt sán già rụng ra môi trường theo phân, vỡ ra và giải phóng trứng. Khi lợn nuốt phải trứng sán qua thức ăn, nước uống hoặc bãi chăn thả ô nhiễm, phôi 6 móc nở ra, xuyên qua niêm mạc ruột vào tuần hoàn máu và bạch huyết, di chuyển đến cơ vân, tim, não và phát triển thành nang ấu trùng hoàn chỉnh sau khoảng 60 ngày.

Văn bản pháp lý áp dụng trong quy trình kiểm tra thân thịt là Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Quy định kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y. Quy chuẩn quy định rõ:

  • Nếu trên diện tích $40\text{ cm}^2$ mặt cắt cơ có từ 1 đến 6 ấu trùng: Thịt, thực quản và tim phải luộc chín trước khi sử dụng; phủ tạng khác (gan, lách, dạ dày) không phải xử lý.
  • Nếu trên diện tích $40\text{ cm}^2$ mặt cắt cơ có trên 6 ấu trùng: Thân thịt phải bị tiêu hủy bắt buộc.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận áp dụng kết hợp các phương pháp dịch tễ học thú y, điều tra xã hội học và xét nghiệm ký sinh trùng:

  • Phương pháp điều tra dịch tễ học: Lập 400 phiếu điều tra cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp 400 chủ hộ chăn nuôi tại 7 xã nhằm thu thập số liệu về phương thức chăn nuôi, khẩu phần thức ăn, giống lợn, địa điểm giết mổ và các thói quen sinh hoạt (xây dựng nhà vệ sinh, ăn thịt tái/sống, ăn rau sống, xét nghiệm sán và tẩy giun định kỳ).
  • Phương pháp khám thịt lợn giết mổ: Kiểm tra thân thịt của 525 con lợn giết mổ theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên tại các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ ở 5 xã (Đào Viên, Đại Xuân, Hán Quảng, Nhân Hòa,...). Kỹ thuật kiểm tra tuân thủ Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT: rạch sâu vào các khối cơ có nguy cơ cao (cơ nhai/cơ hàm, cơ lưỡi, cơ hoành, cơ liên sườn, cơ mông, cơ tim) và mổ khám não để phát hiện nang ấu trùng C. cellulosae.
  • Phương pháp xét nghiệm mẫu phân người: Thu thập 400 mẫu phân ngẫu nhiên từ người dân tại 7 xã thuộc 4 nhóm tuổi (<15 tuổi, 15–30 tuổi, 31–50 tuổi, >50 tuổi). Mẫu phân được bảo quản ở nhiệt độ phòng 1 tuần để đốt sán phân hủy giải phóng trứng, sau đó hòa đều trong dung dịch NaCl 0,9% trên lam kính, đậy lamen và soi trực tiếp dưới kính hiển vi quang học ở độ phóng đại $100\times$ ($10\times10$) tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh nhằm tìm trứng sán dây T. solium.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm và các chỉ số dịch tễ bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu bệnh gạo lợn tại Bắc Ninh, đặc biệt sau sự cố phát hiện 209 ca nhiễm sán dây ở người tại huyện Thuận Thành vào tháng 3/2019. Nội dung phần mở đầu xác định mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp thông tin kiểm soát an toàn dịch bệnh cho ngành thú y địa phương.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về:

  • Đặc điểm hình thái, cấu tạo: Sán dây trưởng thành dài từ 2 đến 7 mét (có thể dài tới 9 mét), thân gồm hàng trăm đến hàng nghìn đốt; đốt già chứa khoảng 55.000 trứng. Nang ấu trùng C. cellulosae có dạng bọc màu trắng chứa dịch trong suốt, đường kính 5–10 mm, mang một đầu sán có 4 giác bám và 2 hàng móc (14–16 móc/hàng).
  • Đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và bệnh tích: Miêu tả chi tiết các phản ứng viêm xơ hóa, teo mô, hoại tử tổ chức quanh nang ký sinh và hiện tượng chèn ép tuần hoàn, tổn thương hệ thần kinh.
  • Biện pháp phòng trị: Tổng kết các phác đồ điều trị sán dây ở người bằng Praziquantel ($15\text{--}20\text{ mg/kg}$ thể trọng) hoặc Niclosamide ($2\text{ g/người}$ lớn); điều trị cho lợn bằng Albendazole ($30\text{ mg/kg}$) hoặc Oxfendazole ($30\text{ mg/kg}$) liên tục 3 ngày. Xử lý nhiệt đối với thịt lợn: luộc thịt miếng dày 5–6 cm trong 45–60 phút; ướp muối đặc trong 3 tuần hoặc trữ đông ở $-10^\circ\text{C}$ đến $-15^\circ\text{C}$ từ 10 đến 15 ngày.
  • Tình hình nghiên cứu thực tế: Trích dẫn các công trình dịch tễ của Đỗ Thị Lan Phương (2019) tại Sơn La (tỷ lệ nhiễm 2,59%) và Điện Biên (3,37%); số liệu của De N. và cs. ghi nhận tỷ lệ nhiễm chung tại miền Bắc từ 1,0% đến 7,2%; cùng các nghiên cứu quốc tế của Borkataki S., Trevisan C., Karshima N., Zirintunda G. về yếu tố mùa vụ, lứa tuổi và phương thức chăn thả lợn.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết địa bàn thực hiện (7 xã thuộc huyện Quế Võ), thời gian từ cuối năm 2019 đến giữa năm 2020, danh mục trang thiết bị (bộ dụng cụ mổ khám thú y, kính hiển vi, hóa chất sinh lý NaCl 0,9%), quy mô lấy mẫu điều tra (400 phiếu hộ, 525 con lợn giết mổ, 400 mẫu phân người) và quy trình kỹ thuật xét nghiệm chuẩn tại các phòng thí nghiệm chuyên ngành.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 trình bày các phát hiện thực nghiệm qua các bảng số liệu chi tiết:

1. Thực trạng chăn nuôi lợn tại 7 xã thuộc huyện Quế Võ

Khảo sát 400 hộ với tổng đàn 6.596 con lợn ghi nhận phương thức và điều kiện chăn nuôi tại địa phương:

Nội dung điều tra Phân loại / Chỉ tiêu Số hộ thực hiện Tỷ lệ hộ (%) Số lợn nuôi (con) Tỷ lệ lợn (%)
Phương thức chăn nuôi Nuôi nhốt hoàn toàn 400 100,00 6.596 100,00
Thả rông / Bán chăn thả 0 0,00 0 0,00
Loại thức ăn sử dụng Chỉ dùng TĂ tổng hợp 58 14,50 1.603 24,30
Chỉ dùng TĂ tận dụng 225 56,25 2.626 39,81
Kết hợp cả 2 loại 117 29,25 2.367 35,89
Cơ cấu giống lợn Lợn lai 400 100,00 6.596 100,00
Lợn ngoại thuần / Bản địa 0 0,00 0 0,00
Địa điểm giết mổ Tại cơ sở giết mổ 357 89,25 6.087 92,28
Tại hộ chăn nuôi 6 1,50 162 2,46
Cả hai hình thức 37 9,25 347 5,26

2. Tập quán sinh hoạt của nhân dân liên quan đến nguy cơ nhiễm bệnh

Khảo sát thói quen vệ sinh và ăn uống trên 400 hộ gia đình:

Tập quán sinh hoạt Số hộ điều tra Số hộ thực hiện Tỷ lệ (%)
Xây dựng nhà vệ sinh tự hoại 400 400 100,00
Nhà vệ sinh 1 ngăn / 2 ngăn 400 0 0,00
Thói quen ăn thịt chưa chín (tái, nem chua) 400 2 0,50
Thói quen ăn rau sống 400 275 68,75
Đến cơ sở y tế xét nghiệm sán dây 400 1 0,25
Thực hiện tẩy giun sán định kỳ 400 1 0,25

3. Tỷ lệ lợn giết mổ được kiểm tra theo địa bàn

Tổng cộng 525 con lợn giết mổ được phân bổ kiểm tra tại các xã:

  • Xã Nhân Hòa: 175 con, chiếm 33,33%.
  • Xã Hán Quảng: 125 con, chiếm 23,81%.
  • Xã Đại Xuân: 75 con, chiếm 14,29%.
  • Xã Đào Viên: 50 con, chiếm 9,52%.
  • Các cơ sở còn lại trên địa bàn: 100 con, chiếm 19,05%.

Tác giả thảo luận mối quan hệ mật thiết giữa điều kiện hạ tầng vệ sinh (100% hộ có nhà vệ sinh tự hoại, 100% nuôi nhốt lợn) với việc ngăn chặn triệt để vòng tuần hoàn lây nhiễm của sán dây T. solium từ phân người sang lợn nuôi tại huyện Quế Võ.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm lược các chỉ số cốt lõi thu nhận được từ quá trình điều tra thực địa và xét nghiệm lâm sàng, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp duy trì an toàn dịch tễ và kiểm soát giết mổ định kỳ.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Về thực trạng chăn nuôi và hạ tầng vệ sinh:

    • 100% hộ chăn nuôi trên địa bàn khảo sát áp dụng hình thức nuôi nhốt hoàn toàn, không có hiện tượng thả rông lợn; đàn lợn nuôi thương phẩm đạt 100% là giống lợn lai.
    • 56,25% số hộ sử dụng thức ăn tận dụng (từ phụ phẩm nấu rượu, xay xát, bã đậu), 29,25% kết hợp thức ăn tổng hợp và tận dụng, 14,50% sử dụng hoàn toàn thức ăn tổng hợp.
    • 100% hộ gia đình sở hữu nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh.
    • Tỷ lệ ăn thịt chưa nấu chín (nem chua, phở tái) ở mức rất thấp (0,50%), tuy nhiên tỷ lệ ăn rau sống còn cao (68,75%). Tỷ lệ chủ động đi xét nghiệm sán dây và tẩy giun sán định kỳ hàng năm đều rất thấp (chỉ đạt 0,25%).
  2. Về kiểm tra lợn giết mổ và xét nghiệm người:

    • Khám nghiệm thân thịt 525 con lợn giết mổ tại 5 xã trên địa bàn huyện Quế Võ theo quy trình Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT.
    • Xét nghiệm 400 mẫu phân người dân thuộc 4 nhóm tuổi tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh.
  3. Giải pháp và kiến nghị của tác giả:

    • Tăng cường kiểm soát giết mổ: Duy trì giám sát thú y nghiêm ngặt tại các cơ sở giết mổ nhỏ lẻ; tuyệt đối không để thịt lợn chưa qua kiểm nghiệm thú y lưu thông tự do trên thị trường.
    • Tuyên truyền vệ sinh thú y và y tế cộng đồng: Vận động nhân dân duy trì phương thức nuôi nhốt; không cho lợn ăn chất thải chưa qua xử lý; rửa sạch rau sống nhiều lần bằng nước sạch; kiên quyết từ bỏ thói quen ăn thịt sống, tái, nem chua chưa chín kỹ.
    • Y tế dự phòng: Khuyến cáo người dân thực hiện tẩy giun sán định kỳ và đến ngay cơ sở y tế khi có biểu hiện bất thường về tiêu hóa hoặc thần kinh.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực địa cập nhật về cơ cấu đàn lợn, tập quán chăn nuôi và thực trạng vệ sinh môi trường nông thôn tại huyện Quế Võ sau biến động dịch tễ năm 2019.
  • Minh chứng bằng số liệu khoa học rằng việc kiên cố hóa chuồng trại (nuôi nhốt 100%) kết hợp 100% nhà vệ sinh tự hoại tại vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng đóng vai trò quyết định trong việc cắt đứt chu kỳ sinh học của sán dây lợn Taenia solium.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Phạm vi khảo sát: Đề tài chỉ tiến hành lấy mẫu kiểm tra lợn giết mổ tập trung tại 5 xã và khảo sát tập quán tại 7 xã trong tổng số 21 xã, thị trấn của huyện Quế Võ; phần lớn mẫu tập trung ở các cơ sở giết mổ quy mô nhỏ lẻ.
  • Thời gian nghiên cứu: Thời gian thực tập tốt nghiệp kéo dài trong 6 tháng (từ tháng 11/2019 đến tháng 5/2020), chưa bao quát đủ các chu kỳ biến động thời tiết qua nhiều năm.
  • Phương pháp xét nghiệm: Việc kiểm tra thân thịt lợn chủ yếu dựa trên quan sát bệnh tích đại thể và rạch cơ theo quy chuẩn; xét nghiệm phân người sử dụng kỹ thuật soi kính hiển vi trực tiếp tìm trứng sán dây, chưa áp dụng các kỹ thuật huyết thanh học chuyên sâu (như xét nghiệm ELISA phát hiện kháng nguyên/kháng thể) trên diện rộng do giới hạn nguồn lực của sinh viên đại học.

Hướng mở rộng: Cần mở rộng điều tra dịch tễ học huyết thanh (ELISA) trên cả đàn lợn và quần thể người dân tại toàn bộ các huyện của tỉnh Bắc Ninh; kết hợp giám sát chuỗi cung ứng lợn thịt nhập tỉnh nhằm kiểm soát nguy cơ mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài.


Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y, Thú y cộng đồng, Y tế dự phòng: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp xây dựng phiếu điều tra dịch tễ thú y, kỹ thuật mổ khám kiểm soát thân thịt theo Thông tư 09/2016/TT-BNNPTNT và quy trình xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng.
  • Cán bộ quản lý thú y và y tế cơ sở: Cung cấp số liệu tham khảo về thực trạng chăn nuôi nông hộ, cơ cấu sử dụng thức ăn phụ phẩm và tập quán sinh hoạt của người dân đồng bằng sông Hồng để xây dựng kế hoạch truyền thông an toàn thực phẩm.
  • Các tác giả làm đề tài tương tự: Phần tổng quan nghiên cứu cung cấp hệ thống tài liệu trích dẫn chi tiết về phân loại học, vòng đời sinh học, bệnh học của sán dây T. solium và các phác đồ điều trị bằng Albendazole, Oxfendazole, Praziquantel.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận được thực hiện trên cỡ mẫu điều tra và số lượng lợn giết mổ là bao nhiêu?
Khóa luận đã phát và thu thập 400 phiếu điều tra thực trạng chăn nuôi và sinh hoạt tại 400 hộ nông hộ (quản lý 6.596 con lợn), kiểm tra thân thịt 525 con lợn giết mổ tại 5 xã, đồng thời thu thập 400 mẫu phân người để xét nghiệm tại Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bắc Ninh.

2. Đề tài áp dụng quy chuẩn kỹ thuật nào để kiểm tra và xử lý thịt lợn mắc bệnh gạo?
Đề tài căn cứ theo Thông tư số 09/2016/TT-BNNPTNT ngày 01/6/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Theo quy chuẩn: lát cắt cơ $40\text{ cm}^2$ có từ 1 đến 6 ấu trùng thì thịt, thực quản, tim phải luộc chín trước khi dùng; nếu lát cắt có trên 6 ấu trùng thì bắt buộc phải tiêu hủy toàn bộ thân thịt.

3. Cơ cấu giống lợn và phương thức chăn nuôi tại huyện Quế Võ theo kết quả điều tra có đặc điểm gì?
100% số hộ chăn nuôi (400/400 hộ) áp dụng phương thức nuôi nhốt hoàn toàn, không có hộ nuôi thả rông hay bán chăn thả; 100% đàn lợn nuôi (6.596 con) đều là giống lợn lai, không ghi nhận giống lợn ngoại thuần hay lợn địa phương tại các nông hộ được khảo sát.

4. Khảo sát ghi nhận những thói quen sinh hoạt nào của người dân có thể tiềm ẩn nguy cơ nhiễm ký sinh trùng?
Mặc dù 100% hộ dân có nhà vệ sinh tự hoại và chỉ 0,50% hộ có ăn thịt chưa chín, nhưng có tới 68,75% số hộ (275/400 hộ) duy trì thói quen ăn rau sống. Ngoài ra, tỷ lệ chủ động đi xét nghiệm sán dây và tẩy giun định kỳ hàng năm đều rất thấp, chỉ đạt 0,25%.

5. Khóa luận tổng quan các loại thuốc và phác đồ điều trị nào cho lợn và người mắc bệnh?

  • Đối với lợn: Dùng Albendazole ($30\text{ mg/kg}$ thể trọng) hoặc Oxfendazole ($30\text{ mg/kg}$ thể trọng) liên tục trong 3 ngày (ấu trùng chết sau khoảng 24 ngày).
  • Đối với người: Sử dụng Praziquantel với liều duy nhất $15\text{--}20\text{ mg/kg}$ thể trọng, hoặc Niclosamide liều duy nhất $2\text{ g/người}$ lớn (có thể lặp lại sau 7 ngày nếu cần).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Hồng Vân đã phản ánh toàn diện thực trạng chăn nuôi nông hộ, tập quán vệ sinh và tình hình dịch tễ bệnh gạo lợn trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2019–2020. Kết quả nghiên cứu chứng minh phương thức chăn nuôi nhốt 100% kết hợp hệ thống nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh tại địa phương đã triệt tiêu các điều kiện thuận lợi cho vòng đời sán dây lợn Taenia solium hoàn thiện và lây lan. Đề tài cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho công tác kiểm dịch giết mổ của ngành thú y và chương trình phòng chống ký sinh trùng truyền lây của y tế cộng đồng.