ĐẶT VẤN ĐỀ Côn trùng là loài phong phú nhất thế giới động vật. Chúng phân bố khắp mọi nơi trong rừng, có vai trò qua trọng trong hệ sinh thái. Nhiều loài côn trùng ăn cây xanh nhƣng bản thân nó lại là thức ăn của rất nhiều loài động vật khác nhau: chim, cá, ếch, nhái. , là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, góp phần vào quá trình tuần hoàn vật chất.
Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) là một bộ phận rất đa dạng và phong phú trong lớp côn trùng, có 2 nhóm: các loài Bƣớm hoạt động ban ngày và các loài Bƣớm hoạt động ban đêm. Các loài Bƣớm hoạt động ban ngày (Rhopalocera) có vai trò quan trọng trong đời sống của con ngƣời. Chúng tham gia vào quá trình thụ phấn cho thực vật, tăng năng suất cho cây trồng. Nhiều loài Bƣớm có màu sắc sặc sỡ, có khả năng thích ứng cao với sự biến động của môi trƣờng Khi nghiên cứu về các loài Bƣớm ngày, ngoài việc nghiên cứu đặc điểm về hình thái, cần phải quan tâm đến đặc điểm của cả quần thể để từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp cho chúng thêm đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lƣợng và có lợi cho sản xuất, phục vụ tham quan du lịch.
Vƣờn quốc gia Xuân Sơn là Vƣờn quốc gia có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi nên khu hệ Côn trùng nói chung và khu hệ Bƣớm nói riêng khá là đặc trƣng. Khu hệ Bƣớm ở Xuân Sơn chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Có một vài nghiên cứu về đặc điểm của khu hệ Bƣớm ngày (Rhopalocera) và đề xuất các giải pháp quản lý của thạc sĩ Bùi Xuân Trƣờng năm 2013, đã xác định đƣợc đặc điểm cơ bản của khu hệ Bƣớm ngày làm cơ sở cho các biện pháp quản lý tài nguyên côn trùng rừng tại Vƣờn quốc gia Xuân Sơn. Để quản lý các loài Bƣớm ngày có hiệu quả và duy trì tính đa dạng 1 của chúng, ngoài những thông tin trên cần có các phân tích về quan hệ của chúng với các dạng sinh cảnh, đặc biệt với các loài thực vật rừng và các loài sinh vật khác.
Vì vậy đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng của các loài Bướm ngày và đề xuất một số giải pháp quản lý chúng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” đã đƣợc thực hiện với mục tiêu: Đánh giá bổ sung tính đa dạng sinh học của loài Bƣớm ngày ở khu vực nghiên cứu, và đề xuất đƣợc các giải pháp bảo tồn các loài Bƣớm ngày ở Vƣờn Quốc Gia Xuân Sơn. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu Bƣớm ngày trên thế giới Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) gồm có Bƣớm ngày và Bƣớm đêm, là nhóm côn trùng đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm. Trên thế giới có khoảng 170.000 loài Bƣớm, chúng thuộc loài côn trùng có sự đa dạng về loài thuộc loại cao so với cac loài côn trùng khác.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có công trình nghiên cứu về Bƣớm, đặc biệt nhƣ các nƣớc Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nhật,. Các công trình nghiên cứu vè Bƣớm không chỉ giới hạn về thành phần loài mà còn tập chung nhiều vào vấn đề sinh thái, sinh học và bảo tồn. Nghiên cứu mối quan hệ giữa Bƣớm và môi trƣờng là một trong những lĩnh vực đƣợc các nhà sinh thái và sinh học quan tâm nhiều. Ngày nay môi trƣờng sống của các loài sinh vật nói chung, Bƣớm và côn trùng nói riêng đang bị tàn phá hơn bao giờ hết.
Nguyên nhân môi trƣờng sống đang bị tàn phá là do diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp bởi việc chặt phá rừng, khai thác gỗ và nhiều hoạt động khác. Côn trùng là những loài có trọng lƣợng cơ thể nhỏ nhƣng sinh khối của chúng rất lớn. Chúng là nguồn thức ăn dồi dào để duy trì và nuôi sống rất nhiều loài động vật khác nhƣ chim, lƣỡng cƣ, bò sát, nhện và các loài côn trùng ăn thịt. Bƣớm là nhóm động vật đa dạng và phong phú bắt gặp ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn (New, 1997).
Bƣớm gần gũi với con ngƣời và đƣợc ƣa chuộng vì có giá trị văn hóa. Nhu cầu thế giới về việc sử dụng Bƣớm cho mục đích khoa học cũng nhƣ mục đích khác là rất lớn. Mỗi 2 năm có hàng triệu mẫu Bƣớm đƣợc thu thập và buôn bán phục vụ cho mục đích thƣơng mại trên phạm vi toàn thế giới. Bƣớm dùng để trang trí, làm quà lƣu niệm, làm bộ sƣu tập.
Có rất nhiều nguyên nhân làm suy thoái tài nguyên côn trùng đặc biệt là Bƣớm ngày. Tuy nhiên có bốn nguyên nhân chính sau đây gây áp lực làm cho các loài Bƣớm bị đe dọa là: Sự phá hủy và làm thay đổi sinh cảnh; Ô 2 nhiễm môi trƣờng; Các loài ngoại lai; Khai thác thƣơng mại ( New et Collins, 1991) Các loài Bƣớm rất dễ bị tổn thƣơng vì phân bố hẹp, đời sống của chúng gắn liền với rừng, vì vậy, muốn bảo tồn các loài Bƣớm không bị xâm hại chúng ta cần bảo vệ rừng. Thomas (1991) nghiên cứu Bƣớm ở Co-xta-Ri-ca đã xác định các loài Bƣớm phân bố hẹp về địa lý có khả năng sống ở môi trƣờng bị thay đổi kém hơn so với các loài có phân bố rộng. Sự giới hạn của các loài này ở các sinh cảnh chƣa bị thay đổi chỉ ra rằng việc phá rừng có ảnh hƣởng bất lợi cho sự tồn tại của chúng.
Thomas et Marllorie (1985) cho rằng đa dạng loài Bƣớm có quan hệ tỷ lệ với độ che phủ thực vật mặt đất, nhiều loài Bƣớm sống gắn liền với các giai đoạn diễn thế cụ thể của rừng, vì vậy, chiến lƣợc để bảo tồn tốt nhất là bảo vệ nhiều loại sinh cảnh nếu có thể. Để bảo tồn Bƣớm cũng nhƣ bảo tồn các loài động vật hay thực vật khác, điều cần thiết đòi hỏi trƣớc tiên phải giải quyết đƣợc ba vấn đề sau: Thứ nhất, cần biết vị trí của chúng, mối quan hệ của chúng với các loài gần gũi hoặc các loài khác xung quanh chúng; Thứ hai, cần biết phân bố địa lý và điều kiện sinh thái nhƣ yêu cầu về sinh cảnh hay sự ƣa thích sinh cảnh của loài; Cuối cùng là cần biết càng nhiều càng tốt về sinh học của loài (Schappert, 2000). Trên thế giới có rất nhiều các công trình nghiên cứu về sinh học và bảo tồn Bƣớm trên thế giới. Có các công trình nghiên cứu rất có giá trị về khoa học, nhƣ việc xác định cây chủ, vòng đời, tập tính và phân bố của Bƣớm.
Trong số các loài Bƣớm có loài quý,hiếm có trong danh lục của CITES và IUNI cũng đƣợc nghiên cứu và đề cập đến. Nghiên cứu Bƣớm ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về côn trùng đã đƣợc thực hiện chủ yếu là 3 tập trung vào nhóm côn trùng có hại, biện pháp phòng trừ và thiên địch. Một số nghiên cứu về côn trùng có lợi mới chỉ đánh giá về mặt kinh tế mà chƣa chú ý đến tác dụng nhiều mặt của nó. Những nghiên cứu cơ bản về côn trùng Việt Nam cũng dừng lại ở mức độ báo báo, tài liệu giảng dạy và trong phạm vi hẹp 4 với một số loài đại diện.
Trên thực tế, ở Việt Nam chƣa có tài liệu đầy đủ về côn trùng để phục vụ công tác nghiên cứu, tra cứu và ứng dụng. Kết quả điều tra côn trùng miền bắc Việt Nam (Viện Bảo vệ Thực Vật, 1976) với sự tham gia của các nhà côn trùng học hai nƣớc Trung Quốc và Việt Nam, đã xác định 181 loài thuộc 9 họ Bƣớm. Các khảo sát về Bƣớm đƣợc thực hiện ở các Vƣờn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên. Các nhà côn trùng nƣớc ngoài nghiên cứu Bƣớm ở Việt Nam nhiều nhất đến từ Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng Hòa Séc và một số quốc gia khác.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu và khảo sát về Bƣớm tập trung nhiều ở Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga (VRTC), Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR). Các công trình xuất bản sách có kèm theo ảnh minh họa về Bƣớm còn rất hạn chế ở riêng từng Vƣờn quốc gia, từng vùng hay toàn bộ Việt Nam. Nhƣng đó cũng làm ngƣời đọc dễ hiểu, dễ nhận biết các loài Bƣớm. Đó là một số công trình về Bƣớm tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng (Lƣơng Văn Hào et al., 2004; Ikeda et al., 1998, 1999, 2000); các loài Bƣớm phổ biến ở việt nam (Devyatkin et Monastyrskii, 2001) Ở miền trung Việt Nam có một số nghiên cứu về phân bố Bƣớm theo đại độ cao cho thấy đa dạng về loài và phong phú của loài trong quần xã Bƣớm ở đai cao thấp hơn so với ở đai thấp (Vũ Văn Liên,2005).
Các công trình nghiên cứu về Bƣớm ở Việt Nam đa số đều tập trung vào xây dựng danh sách loài. Có rất ít các công trình nghiên cứu về sinh học và sinh thái. Ở Viêt Nam có một số công trình nghiên cứu về sinh học loài Bƣớm đã đƣợc tiến hành do các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài. Koiwaya et al, (2003) nghiên cứu vòng đời của 4 loài Bƣớm thuộc giống Theclini (Lycaenidae) ở Pia Oac (Cao Bằng) và SaPa (Lào Cai).
Đây là các loài chỉ sống trên các vùng núi cao ở 5 Việt Nam. Tạ Huy Thịnh et Hoàng Vũ Trụ (2004) đã so sánh độ tƣơng đồng về thành phần loài Bƣớm giữa một số Vƣờn quốc gia và Khu bảo tồn Thiên nhiên 6 của Việt Nam. Tác giả đã xác định yếu tố địa lý – khí hậu là yếu tố quyết định và độ cao là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự tƣơng đồng về thành phần loài Bƣớm giữa các khu vực. Tạ Huy Thịnh et al.
(2005) với kết quả điều tra côn trùng (gồm cả Bƣớm) dọc theo tuyến đƣờng cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên. Tác giả nhận xét về chỉ số tính đa dạng thấp là do tác giả nghiên cứu ở hệ sinh thái nông nghiệp. Vũ Văn Liên et Đặng Thị Đáp (2002) nghiên cứu Bƣớm ở Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng xác định rừng thứ sinh có thành phần loài cao hơn so với thành phần loài ở rừng nguyên sinh. Spitzer et al., (1993) nghiên cứu Bƣớm ở các loại sinh cảnh khác nhau.
Kết quả cho thấy ở các loại sinh cảnh có thảm thực vật khác nhau thì tính đa dạng Bƣớm cũng khác nhau. Tính đa dạng về Bƣớm ở các sinh cảnh rừng kín tự nhiên cao hơn ở các sinh cảnh rừng thứ sinh. Việc nghiên cứu biến động Bƣớm theo mùa còn rất hạn chế ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng đã đƣợc đề cập đến nhƣ Monastyrskii (2002) nghiên cứu biến động về thành phần loài Bƣớm ở một số Vƣờn quốc gia ở Việt Nam là Ba Bể, Hoàng Liên và Cát Tiên.