CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh chàm tay (định nghĩa, phân loại, chẩn đoán, điều trị, phòng bệnh) [47, 53, 68, 114] 1. Định nghĩa chàm tay Bệnh chàm ở bàn tay là một dạng của bệnh chàm, liên quan đến các ngón tay và lòng bàn tay. Bệnh thường ảnh hưởng cả hai bàn tay [85, 120].
Phần lớn có triệu chứng khởi đầu là khô da tay, tay trở nên sần sùi, tróc vảy, viêm đỏ và sau đó là nứt da tay [6]. Bệnh chàm còn gọi là eczema hay viêm da; là một bệnh ngoài da không lây (bệnh da do dị ứng miễn dịch), biểu hiện rất đa dạng nhưng có đặc tính chung là ngứa, có mụn nước, có hồng ban và hay tái phát. Bệnh chàm phát triển qua 6 giai đoạn từ: hồng ban, sẩn, mụn nước, rịn nước, đóng mài cho đến dày da. Ở giai đoạn sau cùng, sang thương có thể giảm dần (tự lành) hoặc tiến triển về hướng mạn tính (dày da và lichen hóa) [21].
Sinh bệnh học của bệnh Chàm/Chàm tay Nguồn: Bieber, 2008” [31] 4 Nguyên nhân sinh bệnh của bệnh chàm/chàm tay vẫn chưa rõ, nhưng bệnh có liên quan đến yếu tố thể tạng (gien) và yếu tố ngoại lai (các dị ứng nguyên) [14, 23, 53, 54, 75, 81, 114] (hình 1.1) Bệnh chàm/chàm tay có liên quan với gien thì được gọi là chàm thể tạng/chàm tay dạng thể tạng [32-34]. Nếu liên quan với yếu tố ngoại lai thì được gọi là chàm tiếp xúc/chàm tay tiếp xúc [35, 51]. Các yếu tố thể tạng trong bệnh chàm/chàm tay bao gồm 2 nhóm gien: gien liên quan đến da và gien liên quan với quá trình miễn dịch (phụ lục 1) 1. Phân loại trong bệnh chàm tay Có nhiều cách phân loại trong bệnh chàm tay.
Có thể phân loại dựa vào hình dạng lâm sàng (thể tạng, tổ đỉa hoặc đồng tiền…) [38] hoặc thời gian mắc bệnh (chàm cấp, chàm mạn). Phân loại dựa vào cơ chế bệnh sinh 2. Phân loại bệnh chàm/chàm tay theo cơ chế sinh bệnh học Yếu tố ngoại lai Có Không Có Chàm tiếp xúc trên nền Chàm thể tạng Yếu tố thể tạng chàm thể tạng Không Chàm tiếp xúc Không bị chàm b. Phân loại dựa vào biểu hiện lâm sàng Dựa vào biểu hiện lâm sàng, chàm tay có 5 dạng lâm sàng chính (bảng 1.
Dạng thường gặp nhất là chàm tiếp xúc do kích ứng nguyên phát, do dị ứng. Do đó, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán chàm tay do dị ứng là làm patch test. Các dạng lâm sàng của bệnh chàm tay [68] Phân loại Đặc điểm lâm sàng Cơ chế Chẩn đoán Hiệu ứng gây Kích ứng Mọi vị trí hại trực tiếp Bằng cách loại trừ không đặc hiệu Mặt lưng bị nhiều hơn Hiện tượng quá Dị ứng Làm Patch test mặt lòng bàn tay mẫn muộn Dựa vào bệnh sử Có thể lan đến cổ tay. Thể tạng Không rõ và đặc điểm lâm Có thể bị từ nhỏ.
sàng Mụn nước, bóng nước Dựa vào đặc điểm Tổ đỉa ở lòng bàn tay và rìa Không rõ lâm sàng ngón tay Mảng dày sừng ở lòng Dựa vào đặc điểm Tăng sừng Không rõ bàn tay > mặt lưng tay lâm sàng c. Phân loại dựa vào thời gian mắc bệnh [44] - Chàm cấp: bệnh khởi phát và tự giới hạn trong 2 - 3 tuần, mặc dù bệnh có thể tái phát. Thường có bội nhiễm do viêm mô tế bào tại chỗ. Dạng lâm sàng thường gặp của chàm cấp là dạng mụn nước (tổ đỉa).
- Chàm mạn tính: bệnh kéo dài hơn 3 tuần, thường gặp là dạng tăng sừng và có những đường nứt trên da (hình 1. Chàm tay mạn tính “Nguồn: Johansen, 2011” [66] 6 1. Phân độ nặng nhẹ trong bệnh chàm tay [121]: - Mức độ nhẹ: đỏ da và tróc vảy ở rìa các ngón tay và trên các đốt mặt lưng bàn tay (hình 1. Chàm tay mức độ nhẹ “Nguồn: Yang, 2009” [121] - Mức độ trung bình: diện tích da ở bàn tay bị tổn thương nhiều hơn.
Có thể bị toàn bộ bàn tay (hình 1. Chàm tay mức độ trung bình “Nguồn: Yang, 2009” [121] - Mức độ nặng: ngoài diện tích da bị như ở mức độ trung bình, ở mức độ này: khô da nhiều hơn, dày sừng, tróc vảy nhiều, nứt Hình 1. Chàm tay mức độ nặng da, sưng phù và hồng ban “Nguồn: Yang, 2009” [121] (hình 1. - Chỉ số HECSI (Hand eczema Severity Index): đây là chỉ số đánh giá độ nặng bệnh chàm tay, điểm được chấm từ 0 – 360 điểm (0 điểm: không bệnh, điểm càng cao cho thấy bệnh chàm tay nặng và ảnh hưởng trên diện tích rộng).
Tác giả Held và cộng sự đã kiểm định độ tin cậy của chỉ số HECSI giữa những người chấm điểm trong nghiên cứu bệnh chàm tay (ICC=0,9) [56]. Từ kết quả 7 của nghiên cứu này, chỉ số HECSI đã được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về bệnh chàm tay do HECSI đánh giá toàn bộ các dấu hiệu lâm sàng. Chẩn đoán bệnh chàm tay a. Lâm sàng: Khám lâm sàng phát hiện các sang thương: hồng ban, mụn nước (vết tích mụn nước), rỉ dịch, da khô bong vảy, da khô tăng sừng và nứt da.
Cận lâm sàng: Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh chàm tay là xét nghiệm áp da (patch test). Xét nghiệm này sử dụng các dị ứng nguyên có sẳn, áp lên vùng da lành, mỗi dị ứng nguyên 1 vị trí và đọc kết quả sau 48 giờ [54]. Điều trị bệnh chàm tay [28, 36, 90] a. Dạng bôi - Kem dưỡng da tay (kem giữ ẩm): giúp phục hồi hàng rào bảo vệ da, cung cấp một lớp bảo vệ trên bề mặt da, giữ nước và chống lại sự xâm nhập của các chất gây kích ứng và dị ứng.
- Thuốc bôi có chứa Corticoid: có tác dụng trong việc giảm viêm và ngứa. có 4 loại Corticoid được xếp loại từ nhe, trung bình, mạnh và rất mạnh. Việc lựa chọn độ mạnh của thuốc thích hợp sẽ tạo độ ẩm tốt cho da. Cơ chế tác dụng của kem giữ ẩm và Corticoid Nguồn: Loden, 2003 ” [75] 8 - Thuốc bôi điều hòa miễn dịch: có tác dụng ức chế hoạt động của tế bào Lympho T, kháng immunoglobuline E từ đó làm giảm phản ứng viêm (thuốc bôi Tacrolimus).
Dạng uống - Thuốc kháng Histamin: giúp giảm triệu chứng ngứa. Một số thuốc kháng Histamin vừa có tác dụng chống ngứa, vừa có tác dụng chống viêm (Cetirizin, Rupatadine) - Thuốc kháng sinh: khi có tình trạng nhiễm trùng, viêm nung mủ ở bàn tay. Phòng bệnh chàm tay [43] a. Các yếu tố ảnh hưởng đến chàm tay Bệnh chàm tay có thể trầm trọng hơn và/hoặc có thể khởi phát do một số yếu tố chính như sau [46, 47]: - Tiếp xúc với các hóa chất gây kích ứng da như: xà bông, dầu gội đầu, dầu xả, các hóa chất tẩy rửa và vệ sinh nhà cửa, chất dung môi, xi măng… - Ra mồ hôi tay, thường gặp trong những trường hợp đeo găng tay trong một thời gian dài làm nóng và tăng tiết mồ hôi tay.
- Thỉnh thoảng stress, bội nhiễm nấm/vi trùng có thể làm bệnh nặng hơn. Phòng ngừa bệnh chàm tay Có rất nhiều phương pháp phòng ngừa bệnh chàm tay, chủ yếu là tránh tiếp xúc với các dị ứng nguyên và dùng các biện pháp để bảo vệ da. Các biện pháp này có thể áp dụng cho tất cả các ngành nghề gồm: - Tránh tiếp xúc với các dị ứng nguyên: đeo găng tay khi làm công việc nhà, khi tiếp xúc với các hóa chất, khi chế biến thực phẩm… - Sử dụng các biện pháp bảo vệ da: bôi kem giữ ẩm da tay ngay sau khi thực hiện các công việc có tiếp xúc với nước, hóa chất, việc nhà. Diepgen và cộng sự đã công bố các hướng dẫn chẩn đoán, dự phòng và điều trị bệnh chàm tay [40]: chẩn đoán bệnh cần dựa vào bệnh sử và khám lâm sàng.
9 Tác giả khuyến cáo nên thực hiện patch test đối với những trường hợp chàm tay kéo dài trên 3 tháng hoặc chàm tay tái phát nhiều lần để tìm dị ứng nguyên. Việc dự phòng bệnh chàm tay ở các đối tượng có nguy cơ cao chủ yếu là giáo dục sức khỏe để họ nhận biết các yếu tố nguy cơ và khuyến khích họ sử dụng các biện pháp bảo vệ da như đeo găng tay thích hợp, dùng kem dưỡng ẩm.Chàm tay là một bệnh nghề nghiệp 1. Đại cương về bệnh nghề nghiệp Lao động giúp con người tạo ra của cải vật chất. Trong đó, nghề nghiệp là một quá trình lao động gắn với sự mưu sinh của từng con người.
Dân gian ta có câu “nghề nào, nghiệp nấy”, chứng tỏ người dân cũng nhận thấy có những tác hại và bệnh tật liên quan đến nghề nghiệp. Trên cơ sở này, các nhà quản lý đã đưa ra khái niệm về bệnh nghề nghiệp như sau: “đó là những bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đến người lao động. Bệnh xảy ra cấp tính hoặc từ từ. Một số bệnh nghề nghiệp không chữa khỏi và để lại di chứng.
Bệnh nghề nghiệp có thể phòng tránh được” [1]. Các tác hại trong nghề nghiệp bao gồm: những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động [9]. Theo lịch sử y học, ngay từ thời xa xưa, Hippocrates đã mô tả và đặt tên cho một chứng bệnh: “cơn khó thở của những người thợ mỏ” [10]. Ngày nay, với sự tiến bộ của y học, chúng ta đều biết đây là bệnh bụi phổi, một bệnh được xếp vào danh mục bệnh nghề nghiệp và được bảo hiểm dành cho các công nhân hầm mỏ.
Như vậy, bệnh nghề nghiệp không phải mới có trong thời kỳ công nghiệp hiện đại mà đã có từ xa xưa. Danh sách các bệnh nghề nghiệp thay đổi tùy theo các quốc gia, chẳng hạn như ở Pháp có 88 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm, Trung Quốc có 102 bệnh nghề nghiệp [4], Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO: International Labour Organization) đã công nhận 108 bệnh nghề nghiệp [65]. Trong đó, bệnh da nghề nghiệp là nhóm bệnh có mức độ phổ biến và thường 10 gặp nhất: đứng từ hàng 1 đến 4 tùy theo quốc gia, chiếm tỉ lệ: 50% ở Nga, 65% ở Pháp, 70% ở Mỹ [25]. Bệnh nghề nghiệp tạo ra gánh nặng tài chính rất lớn cho người lao động, gia đình của họ, cũng như sự phát triển kinh tế xã hội.
ILO ước tính tai nạn nghề nghiệp và các bệnh liên quan gây ra thiệt hại khoảng 4% GDP toàn cầu, tương đương với 2,8 nghìn tỷ USD mỗi năm [20]. Tại Việt Nam, Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã Hội đã chia bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm thành 5 nhóm.